ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẾ THỊ THU THƯƠNG Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI KHU VỰC NHÀ MÁY SẢN XUẤT PHÔI THÉP ĐÚC HỢP KIM
CAO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HOÀNG TUNG
HUYỆN HÒA AN - TỈNH CAO BẰNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2013 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng giúp học sinh,sinh viên trau
dồi,củng cố,bổ sung kiến thức đã học tập được ở trường. Đồng thời cũng giúp
sinh viên tiếp xúc với thực tế đem những kiến thức đã học áp dụng vào thực
tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ thực tế
để khi ra trường trở thành một cán bộ có năng lực tốt,trình độ lý luận cao,
trình độ chuyên môn giỏi,đáp ứng yêu cầu cấp thiết của xã hội.
Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường Ðại học Nông Lâm
Thái Nguyên. Ðể có kiến thức và kết quả thực tế đạt được như ngày hôm nay
trước hết em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong ban giám hiệu nhà trường và
ban chủ nhiệm khoa môi trường của trường Ðại Học Nông lâm Thái Nguyên.
Ðặc biệt em vô cùng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo em, giúp đỡ em để hoàn thành khóa luận. Ngoài ra để có kết quả
như ngày hôm nay em vô cùng biết ơn công sinh thành,nuôi dưỡng của cha
mẹ,của những người thân yêu cùng bạn bè đã luôn động viên và cổ vũ em
trong học tập và rèn luyện.
Em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến anh Phạm Tường Lâm cán bộ của
Chi cục Bảo vệ Môi trường đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình
thực tập tại Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng và cảm ơn các cô chú,
anh chị trong cơ quan đã tận tình,chỉ bảo,giúp đỡ em trong thời gian thực tập
ở Chi cục Bảo vệ Môi Trường.
Trong suốt quá trình thưc tập và làm khóa luận do bản thân còn thiếu
kinh nghiệm và còn nhiều hạn chế nên em còn nhiều khó khăn trong việc tiếp
cận và áp dụng các kiến thức vào thực tế nên không tránh khỏi những sai sót,
em rất mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của thầy cô để bài em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên tháng năm 2014
2.1.1.4. Các công cụ quản lý môi trường 8
2.1.2.Cơ sở thực tiễn 9
2.1.2.1. Tình hình quản lý môi trường trên thế giới 9
2.1.2.2 Tình hình quản lý môi trường ở Việt Nam 10
2.1.3. Cơ sở pháp lý 17
2.2.Tình hình công tác đánh giá HTMT trên thế giới và ở Việt Nam 18
2.2.1. Tình hình công tác đánh giá HTMT trên thế giới 18
2.2.2. Tình hình công tác đánh giá HTMT ở Việt Nam 20
2.2.2.1. Báo cáo HTMT giai đoạn 1994 - 2004 20
2.2.2.2. Báo cáo HTMT giai đoạn 2005 - 2010 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1.Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm, thời gian thực hiện 26
4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Hoàng Tung, huyện Hòa
An, tỉnh Cao Bằng 29
4.1.1.Điều kiện về tự nhiên 29
4.1.1.1. Vị trí địa lý 29
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo 29
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu 29
4.1.1.4. Điều kiện thủy văn 30
4.1.1.5. Tài nguyên thiên nhiên 30
4.1.1.6. Hệ sinh thái khu vực 32
4.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội 32
4.1.2.1. Điều kiện kinh tế 32
4.1.2.2. Điều kiện xã hội 32
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 34
4.2. Hoạt động sản xuất sắt xốp và đúc phôi thép hợp kim cao 35
4.2.1. Sơ lược về tình hình hoạt động của nhà máy 35
4.2.2. Công nghệ sản xuất 36
4.3.3.3.Chất thải nguy hại 49
4.3.4. Đánh giá chung về công tác bảo vệ môi trường của nhà máy sản
xuất sắt xốp và phôi thép đúc hợp kim cao 50
4.3.4.1 Biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường không khí 50
4.3.4.2.Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước 51
4.4.Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm 51
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1. Kết luận 56
5.2.Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình xây dựng báo cáo HTMT cấp tỉnhgiai đoạn 2005 - 2009 22
Bảng 4.1: Dân số xã Hoàng Tung 33
Bảng 4.2: Nguyên, nhiên liệu và năng lượng cho 01 tấn sắt xốp 35
Bảng 4.3: Danh mục các máy móc, thiết bị của nhà máy 36
Bảng 4.4. Kết quả đo và phân tích chất lượng khí thải khu vực nhà máy 44
Bảng 4.5: Kết quả phân tích môi trường nước 45
Bảng 4.6: Kết quả đo và phân tích chất lượng nước thải sinh hoạt văn phòng
của nhà máy Phôi Thép Đúc Hợp Kim Cao 46
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
HTMT : Hiện trạng môi trường
UNEP : Chương trình Môi Trường liên hợp quốc
TN&MT : Tài nguyên và môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
CTNH : Chất thải nguy hại
PCCC : Phòng cháy chữa cháy
PCGD : Phổ cập giáo dục
MTQG : Môi trường quốc gia
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là
việc vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường.Tuy
nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi
trên hành tinh xanh. Hiện nay có rất nhiều các công ty,nhà máy,xí nghiệp đi
vào hoạt động với nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng dù ở lĩnh vực nào cũng
đều gây ô nhiễm tới môi trường. trong đó thép cũng là vật liệu chủ yếu đối
với nhiều ngành công nghiệp,có vai trò quyết định đối với nền công nghiệp
xuất và đề ra được những giải pháp góp phần bảo vệ môi trường tại khu vực.
1.2. Mục tiêu
- Đánh giá môi trường khu vực nhà máy nhằm để phát hiện được nguồn
gây ô nhiễm để có biện pháp bảo vệ và kiểm soát ô nhiễm.
-Tìm hiểu công tác cam kết bảo vệ môi trường của nhà máy để phát huy
và thực hiện tốt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường
nhằm giảm thiểu các tác động gây ra cho môi trường và con người, sử dụng
nguồn tài nguyên.
- Đẩy mạnh công tác quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất phôi
thép tại nhà máy.
1.3. Yêu cầu
- Nghiên cứu thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường
trong khu vực nhà máy những năm gần đây.
- Đánh giá thực trạng môi trường và công tác bảo vệ môi trường của nhà
máy xem đã đạt được những gì và chưa đạt những gì.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với hoạt động bảo vệ môi trường
của nhà máy nhằm quản lý tốt hơn cho những năm tới.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học từ nhà trường vào thực tế
- Giúp bản thân có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài
nghiên cứu khoa học, bổ xung tư liệu cho học tập của mình.
3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý môi trường của khu vực
nhà máy sản xuất phôi thép.
- Nâng cao nhận thức,tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho
mọi cán bộ công nhân viên của nhà máy.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Các khái niệm về môi trường
* Khái niệm về môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cóảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
* Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và sinh vật
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
+ Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật
lý, hoá học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người.
+ Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo
nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và
cộng đồng loài người.
+ Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con
người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước,
đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội…Có ảnh hưởng tới chất lượng
cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và
sản xuất của con người. Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như: Không
khí, đất, nước, ánh sáng…liên quan tới chất lượng cuộc sống con người ,
không xét tới tài nguyên (Trương Thành Nam, 2006)[10]
2.1.1.2. Những vấn đề trong quản lý môi trường.
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có
tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ
dân cư trong việc quản lý môi trường.
- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần
được thực hiện nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc
xử lý phục hồi môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm.
6
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền.
2.1.1.3. Các cơ sở để xây dựng nên hệ thống quản lý môi trường
* Cơ sở triết học của quản lý môi trường
- Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới gắn tự nhiên, con
người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn: “Tự nhiên - Con người - Xã
hội”. Sự thống nhất của hệ thống trên được thể hiện trong các chu trình sinh
địa hóa của 5 thành phần cơ bản: Sinh vật sản xuất; sinh vật tiêu thụ; sinh vật
phân hủy; con người và các chất vô cơ; hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh
vật và con người.
- Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” gắn liền
với quá trình tiến hóa của sinh quyển và lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Yếu tố con người là mắt xích quan trọng trong mối quan hệ Tự nhiên -
Con người - Xã hội, yếu tố Xã hội quyết định sự bảo tồn của sự sống trên trái
đất, Nguồn tài nguyên có giá trị khác nhau đối với con người và xã hội loài
người trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Xã hội ngày càng phát triển thì
việc gắn bó với tự nhiên là điều tất yếu. Cơ sở thống nhất của hệ thống Tự
nhiên - Con người - Xã hội được quy định bởi cấu trúc chặt chẽ liên hoàn của
sinh quyển và bởi cơ chế hoạt động theo nguyên tắc tự tổ chức, tự bảo vệ, tự
điều chỉnh, tự làm sạch của chu trình sinh địa hóa. Vì vậy cần phải có quan
điểm hệ thống và toàn diện trong việc giải quyết các vấn đề môi trường và
quản lý môi trường hiện nay.
- Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển
của xã hội loài người. Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình phát triển lịch
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế,phí và lệ phí,cota ô
nhiễm,quy chế đóng góp có bồi hoàn,trợ cấp kinh tế,nhãn sinh thái,hệ thống
các tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên
và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho hoạt động sản xuất có sinh
ra ô nhiễm, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo (Nguyễn
Ngọc Nông và cs, 2006)[7].
* Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về Luật quốc tế
và Luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế
điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế trong việc
8
ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi
trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia.
Các văn bản luật chính thức được hình thành từ thế kỷ XIX và đầu thế
kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Từ hội nghị quốc tế
về “Môi trường và con người” tổ chức vào năm 1972 tại Thụy Điển và sau
hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản luật quốc tế được soạn thảo
và ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ
luật, trong đó có Luật bảo vệ môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông
qua ngày 27/12/1993, đây cũng là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ cũng
ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật bảo
vệ môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về xử phạt vi phạm hành
chính về bảo vệ môi trường. Bộ luật hình sự, hàng loạt các thông tư, nghị
định, quyết địnhcủa các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã
được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường đã được soạn thảo và thông
qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập đến trong các văn bản
khác như luật khoáng sản, luật đất đai, luật bảo vệ rừng,
công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.
2.1.2.Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1. Tình hình quản lý môi trường trên thế giới
Nhận thức được ảnh hưởng nguy hại của ô nhiễm môi trường đối với
việc phát triển bền vững, Hội thảo về môi trường và Phát triển bền vững của
Liên Hợp Quốc được tổ chức từ ngày 3/6/1992 đến ngày 14/6/1992 tại Rio De
Janeiro, tại Brazil là một chương trình toàn cầu nhằm giải quyết vấn đề môi
trường và phát triển.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững diễn ra
tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của 109 vị nguyên thủ quốc gia,
hơn 45.000 đại biểu của hơn 190 nước và các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội
khác. Nội dung chính của Hội nghị là thu hẹp khoảng cách giữa các nước giàu
và các nước nghèo trên thế giới, xóa bỏ nghèo đói, nhưng không làm ảnh
hưởng tới môi sinh. Hội nghị đã thông qua hai văn kiện quan trọng: Tuyên bố
chính trị Johannesburg 2002 và kế hoạch thực hiện. Hai văn kiện này khẳng
định sự cấp thiết phải thực hiện phát triển kinh tế trong tương quan chặt chẽ
với bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội ở tất cả các quốc gia, khu
vực và toàn cầu. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội là nội dung quan trọng trong kế hoạch thực hiện.
10
Tổng chi cho môi trường của các nước thuộc khối liên minh châu Âu EU
là 1,77% GDP, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 0,44%; ngành công
nghiệp dịch vụ môi trường chiếm 0,86% và doanh nghiệp chiếm 0,47%. Có
xu hướng chuyển dịch chi BVMT từ nhà nước sang ngành công nghiệp dịch
vụ môi trường. Ví dụ, khu vực Nhà nước nhà nước giảm từ 0,7% xuống còn
0,44% năm 2006 trong khi công nghiệp dịch vụ môi trường tăng từ 0,8% lên
0,86% GDP năm 2006. Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là sự tăng
cường tham gia của doanh nghiệp và ngành công nghiệp môi trường. Kết quả
điều tra từ 39 nước cho thấy, mức chi bình quân từ ngân sách nhà nước cho
với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được quy định trong
nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007. Ngoài ra, phí vệ sinh được áp
dụng 2003 theo quy định tại Thông tư số 71/2003/TT-BTC ngày 30/7/2003
của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, khoản thu từ các khoản phí này không đủ bù
đắp chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn. Ngoài ra, các văn bản hiện tại không
quy định rõ trách nhiệm thu phí của các đơn vị, tổ chức nên việc thu phí ở các
địa phương còn gặp nhiều khú khăn.
Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo Nghị định
số 63/2008/NĐ - CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ. Tuy nhiên, việc thu phí
còn gặp nhiều khú khăn do đối tượng phải nộp phí chưa tự giác thực hiện
nghĩa vụ này. Còn tình trạng doanh nghiệp kê khai sản lượng khai thác thấp
hơn thực tế để giảm số phí phải nộp.
Ngoài ba loại phí thuộc nhóm thuế/phí Pigouvan nêu trên còn có Luật
Thuế BVMT mới được thông qua và sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2011. Đây là
quy định thuế đánh vào nguyên liệu/sản phẩm, bao gồm 8 nhóm sản phẩm:
xăng dầu, than, môi chất làm sạch chứa HCFC, túi nhựa xốp (túi nilon) và
nhóm hạn chế sử dụng như: thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ
mối và thuốc khử trùng kho. Một điểm đáng lưu ý là thuế BVMT được định
nghĩa là “loại thuế gián thu, thu vào một số sản phẩm, hàng hóa gây tác động
xấu đến môi trường”. Định nghĩa này là định nghĩa hẹp của thuế BVMT vì
mới đề cập đến loại thuế nguyên liệu/sản phẩm chứ chưa bao hàm loại thuế
đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường. Ưu điểm của việc áp dụng
thuế BVMT đối với nguyên liệu/sản phẩm là dễ tính toán và dễ áp dụng.
Nhược điểm, loại thuế này chỉ khuyến khích gây ô nhiễm mà không khuyến
khích đầu tư xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó. Vì vậy,
tác động giảm ô nhiễm của loại thuế này chỉ là tác động gián tiếp (thông qua
việc sản xuất ít đi) chứ không phải tác động trực tiếp vào quá trình phát thải ô
12
nhiễm. Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này có tác dụng
nhỏ trong khuôn khổ một số dự án thử nghiệm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,
13
Bắc Ninh và Quảng Nam. Chương trình cấp Nhãn sinh thái đó được Bộ
TN&MT phê duyệt năm 2009 nhằm khuyến khích các mô hình sản xuất và
tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đặt cọc hoàn trả, mặc dù
chưa có quy định của nhà nước nhưng cũng đó được áp dụng có tính tự phát ở
một số lĩnh vực như đặt cọc vỏ chai.
Có thể nói một số lượng đáng kể các CCKT trong quản lý ô nhiễm đó
được triển khai ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu quả của các công cụ này còn
chưa được như mong đợi do các quy định còn bất cập, năng lực thực hiện còn
hạn chế đặc biệt là các chế tài chưa đủ mạnh để tạo động lực tuân thủ các quy
định này.
*Quản lý môi trường với các doanh nghiệp Việt Nam:
Quá trình hoạt động công nghiệp đó ngày càng làm cạn kiệt tài nguyên, ô
nhiễm môi trường và kết quả là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng.
Điển hình cho vấn đề môi trường là vụ Vedan (Đồng Nai) và Miwon (Phú
Thọ) đó để lại hậu quả nặng nề mà theo tính toán sơ bộ sẽ mất rất nhiều tiền
bạc và thời gian để có thể phục hồi lại môi trường đó bị ảnh hưởng. Do đó,
bảo vệ môi trường đó trở thành một vấn đề hết sức quan trọng, là một trong
những mục tiêu chính nằm trong chính sách chiến lược của quốc gia. Ngày
nay, vấn đề môi trường đó được nói nhiều hơn, được nhà nước và các bộ
nghành quan tâm hơn, được coi như một yếu tố phát triển song hành cùng
kinh tế. Với tình hình thực tế và nhu cầu không chỉ từ người dân, từ chính phủ
mà chính cả khách hàng cũng mong muốn các tổ chức đối tác làm ăn có trách
nhiệm hơn với môi trường. Một thực tế hiện nay là luật bảo vệ môi trường
Việt Nam chưa thực sự có tính ngăn chặn và răn đe cao và nhiều doanh nghiệp
vẫn có thể lách luật được. Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết:
“Không chỉ có Vedan, theo thống kê hiện nay, trong số hơn 100 khu công
nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ
khụng cần đầu tư quá nhiều vào khâu xử lý mà chuyển trọng tâm sang quản lý
thật tốt các quá trình mà có khả năng rủi ro cao về môi trường cũng như có
nguồn thải cao. Việc quản lý như thế sẽ dẫn đến được việc phân loại ngay từ
đầu nguồn chất thải tạo cơ hội cho việc tái chế chất thải đồng thời giảm lượng
chất thải tổng hợp sau sản xuất (rất khó tái chế) tăng giá trị gia tăng cho doanh
nghiệp. Đây cũng là một trong các yếu tố quan trọng góp phần cho doanh
nghiệp tiếp cận dần với sản xuất sạch hơn. Với việc xác định chính xác các
vấn đề môi trường cần quản lý cũng giúp cho nhà quản lý tập trung nguồn lực
để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả nhất, giúp cho người lao động
15
trong tổ chức hiểu được các vấn đề môi trường mà họ đang phải đối mặt khi
đó họ sẽ có các ứng xử tốt hơn với môi trường. Nhà quản lý cũng dễ dàng
trong việc đặt ra được các chính sách, mục tiêu, kế hoạch để đạt được việc
giảm thiểu nguồn chất thải trong hoạt động của mình.
Như vậy để thấy rằng nếu như các tổ chức áp dụng và duy trì tốt hệ
thống quản lý môi trường tốt thì việc giảm dần các tác động môi trường có hại
từ các hoạt động của chính bản thân các tổ chức không phải là khó khăn khi
mà chi phí cho việc xây dựng cũng như duy trì hệ thống quản lý môi trường
này nhỏ hơn rất nhiều so với việc họ phải đầu tư vào công nghệ hoặc chi phí
mà các tổ chức doanh nghiệp phải chi trả cho việc xử lý.
Chi tiêu cho môi trường là một trong những cơ chế đảm bảo nguồn lực
thiết yếu trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. Ở Việt Nam, nguồn
tài chính cho bảo vệ môi trường (BVMT) đó được quan tâm. Từ năm 2006
đến nay, chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường từ nguồn ngân sách nhà
nước đó được duy trì ở mức không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, mức chi hiện tại còn chưa đáp ứng
được yêu cầu thực tiễn, trong bối cảnh các vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi
trường ngày một gia tăng.
Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp trong nước vẫn cho rằng
thay đổi những thói quen lạc hậu và hình thành những thói quen, nếp sống
thân thiện với môi trường chưa được quan tâm đầy đủ. Các hoạt động BVMT
do nhà trường tiến hành còn mang nặng tính phong trào, hình thức, không
thường xuyên. Tình trạng nhận thức và ý thức BVMT chưa trở thành trách
nhiệm của nhiều người đó gúp phần làm cho mụi trường nước ta ngày càng ô
nhiễm nghiêm trọng. Nhận ra những bất cập nêu trên, Đại hội XI của Đảng
khẳng định: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn
xã hội và của mọi công dân. Điều này cần sớm được thể chế hóa trong hệ
thống pháp luật BVMT của nước ta.
Thời gian qua, Nhà nước đó ban hành và thực hiện nhiều biện pháp
nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong các văn
bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, chúng ta đặc biệt
chú ý tới (Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban
hành ngày22/4/2003 Về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng) nội dung của Quyết định chỉ rõ: đến năm
2005 phải xử lý triệt để 51 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; đến
năm 2007 tiếp tục xử lý xong 388 cơ sở; đến năm 2012 tiếp tục xử lý xong