ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU THỊ TRANG Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI
MỘT SỐ TIÊU CHÍ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN 2013 - 2014 TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ NAM TUẤN - HUYỆN HÒA AN - TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014 Thái Nguyên – 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường. Ban chủ nhiệm khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau
khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Nam Tuấn - huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng với đề tài:
“Nghiên cứu quá trình triển khai một số tiêu chí xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2013 - 2014 trên địa bàn xã Nam Tuấn - huyện Hòa
An - tỉnh Cao Bằng”.
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ, tạo
điều kiện của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào
tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Cù Ngọc Bắc
giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn
chỉ bảo và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ. Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ của UBND xã Nam Tuấn huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng, các ban ngành
cùng nhân dân trong xã, bạn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều
nhưng cũng không tránh khỏi sai sót mong thầy, cô chỉ bảo, góp ý để bài khóa
luận của tôi được tốt hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Chu Thị Trang
Bảng 4.5: Hiện trạng dân số của xã năm 2013 32
Bảng 4.6: Hiện trạng lao động của xã năm 2013 33
Bảng 4.7: Trình độ văn hóa của chủ hộ xã Nam Tuấn năm 2013 34
Bảng 4.8: Mức độ làm việc của ban chỉ đạo trong các hoạt động xây dựng nông
thôn mới 37
Bảng 4.9: Tiếp cận thông tin về chính sách phát triển nông thôn của các nông hộ 38
Bảng 4.10: Thống kê quy hoạch xây mới đường giao thông nông thôn xã Nam Tuấn 40
Bảng 4.11: Phân chia thời gian thực hiện giao thông nông thôn xã Nam Tuấn 43
Bảng 4.12: Công tác tổ chức họp để triển khai các chương trình xây dụng nông thôn mới 45
Bảng 4.13: Tài sản nhân dân đóng góp trong quá trình triển khai và thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới 46
Bảng 4.15. Tình hình thực hiện tiêu chí số 2 của xã Nam Tuấn 2013 48
Bảng 4.16: Quy hoạch xây mới kênh mương thủy lợi nội đồng xã Nam Tuấn 50
Bảng 4.17: Phân chia thời gian thực hiện kênh mương thủy lợi nội đồng xã Nam Tuấn 52
Bảng 4.18. Tình hình thực hiện tiêu chí số 3 của xã Nam Tuấn năm 2013 53
Bảng 4.19: Đánh giá chất lượng công được trình xây dựng trên địa bàn xóm 57
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Mục tiêu cuả đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Các khái niệm về nông thôn 4
2.1.2. Các vấn đề về nông thôn 6
2.1.3. Mô hình nông thôn mới 8
2.1.4. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới 9
2.1.5. Các căn cứ để xây dựng nông thôn mới 11
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
24
4.1. Những đặc điểm cơ bản của xã Nam Tuấn 24
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Nam Tuấn 28
4.2. Những đặc điểm cơ bản của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới 36
4.3. Tình hình thực hiện, triển khai một số tiêu chí xây dựng NTM trong
giai đoạn 2013 – 2014 của xã Nam Tuấn 38
4.3.1. Đối với tiêu chí số 2 (Giao thông) 38
4.3.2. Đối với tiêu chí số 3 (Thủy lợi) 49
4.3.3. Đối với tiêu chí số 8 (Điện) 57
4.3.4. Đối với tiêu chí số 12 (Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên) 60
4.3.5. Đối với tiêu chí số 8 (Bưu điện) 63
4.4. Đánh giá thực trạng các vấn đề chung của xã Nam Tuấn 64
4.4.1. Phân tích SWOT về những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức
trên địa bàn xã Nam Tuấn. 64
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Phát triển nông thôn là lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần
đây cùng với sự phát triển chung của đất nước nông thôn đã có sự đổi mới và
phát triển đáng kể. Đây là vấn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm
cả về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp, lực lượng lao động
tập trung chủ yếu ở nông thôn. Dân số trung bình cả nước năm 2013 ước tính
89,71 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2012, bao gồm: Dân số nam 44,38
triệu người, chiếm 49,47% tổng dân số cả nước, tăng 1,08%, dân số nữ 45,33
triệu người, chiếm 50,53%, tăng 1,03%. Trong tổng dân số cả nước năm nay,
dân số khu vực thành thị là 29,03 triệu người, chiếm 32,36% tổng dân số, tăng
2,38% so với năm trước, dân số khu vực nông thôn là 60,68 triệu người,
chiếm 67,64%, tăng 0,43% [8].
Cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao thì sự khác biệt giữa thu nhập
và mức sống dân cư sống ở khu vực thành thị với khu vực nông thôn ngày
càng lớn sự cách biệt thu nhập hơn 9 lần giữa nhóm giàu và nhóm nghèo ở
Việt Nam. Thậm chí tốc độ phát triển không đồng đều cũng diễn ra giữa các
khu vực ở nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi. Có rất nhiều khó khăn ảnh
hưởng tới quá trình phát triển của nông thôn như: Tỷ lệ nghèo đói, tỷ lệ thất
nghiệp cao, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, diện tích đất nông nghiệp giảm
do quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ nông thôn kém phát triển kể cả y tế và
giáo dục, đất đai nhỏ lẻ manh mún, phương thức sản xuất kém hiệu quả, trình
độ lao động còn hạn chế… là rào cản cho quá trình chuyên môn hóa.
Trước yêu cầu của phát triển và hội nhập, mục tiêu đẩy nhanh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi có nhiều chính sách đột phá và
đồng bộ nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa của nông
thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa
chiến lược đối với sự ổn định và phát triển đất nước.
• Hệ thống hóa một số kiến thức, lý luận và thực tiễn về phát triển
nông thôn
• Đánh giá mức độ hoàn thiện của các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 3
• Nghiên cứu được quá trình thực hiện một số tiêu chí xây dựng nông
thôn mới của xã
• Xác định được thuận lợi và khó khăn trong công tác triển khai các
tiêu chí xây dựng nông thôn mới
• Đề xuất giải pháp để tiến hành xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
xã có hiệu quả
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng
những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ học tập, trao đổi
kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương. Đồng
thời đề tài cũng là cơ sở cho việc hình thành các ý tưởng cho các dự án, đề tài
nghiên cứu khoa học.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần tìm hiểu, phân tích quá trình triển khai và thực hiện
một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới cho vùng nông thôn trên địa bàn xã.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Nam Tuấn có những
định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
5
nước. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian,
theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi
theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân. Tập hợp các dân cư này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn
hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh
hưởng của các tổ chức khác” [2].
Như vậy khi nói về nông thôn người ta nghĩ ngay đến các hoạt động
nông nghiệp và những hoạt động, tổ chức liên quan đến nông nghiệp.
- Khái niệm về phát triển nông thôn
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính chất toàn diện và đa phương,
bao gồm phát triển các hoạt động về nông nghiệp và các hoạt động có tính
chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các
ngành nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực nông
thôn, xây dựng, tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng
nông thôn.
Phát triển bền vững nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi
trường, ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra tạo sự
phát triển lâu dài, ổn định không những cho vùng nông thôn mà còn đối với
cả quốc gia. Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là
sự phát triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phát
triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối quan hệ đa ngành (tiếp cận tổng
hợp) và phát triển phải đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường (tiếp
cận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên).
Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động
có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế,
công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chất và môi trường nó không thể tiến hành
tự nhiên. Đa dạng về quy mô, trình độ phát triển và các hình thức tổ chức sản
xuất và quản lý. Tính đa dạng đó diễn ra không chỉ giữa nông thôn các nước
với nhau mà ngay cả giữa các vùng nông thôn trong cả nước [1].
2.1.2.2. Những vấn đề tồn tại ở nông thôn hiện nay
Tại cuộc hội thảo “Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn
Việt Nam - Đài Loan”, do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên 7
cứu Trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo “Nông
dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược
phát triển Nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã
liệt kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua. Đó là vấn
đề khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội, tình trạng thiếu việc
làm, di dân tự phát, xung đột xã hội gia tăng, dân trí và quan trí thấp, dịch vụ
y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém, đời sống văn hóa có nhiều biểu hiện tiêu
cực, xuống cấp, năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém, môi
trường bị ô nhiễm và suy thoái ở mức báo động.
Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục. Tuy nhiên,
xu hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc
biệt là giữa nông thôn với đô thị. Nhiều chuyên gia còn đưa ra con số về
chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới trên 6,9 lần (2004)
chứ không phải con số 3,5 lần như vẫn nhắc đến.
Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu
thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển
các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua 300.000 ha đất nông nghiệp bị mất
đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn
và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi. Đây là
xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp
trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc
điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp
ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn hiện nay, là kiểu nông thôn được xây
dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về
mọi mặt” [3].
Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới của nước ta từ
đề án của Bộ NN&PTNT:
- Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng – xã
- Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân
- Người dân chủ động trong việc xây kế hoạch phát triển, thu hút sự
tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu
đề ra có tính hiệu quả cao
- Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của
bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính
- Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao 9
- Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và sử dụng có hiệu quả
Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông
thôn mới chưa từng có trước kia.
2.1.4. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1. Nhóm tiêu chí về quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường theo tiêu
chuẩn mới.
- Quy hoạch phát triển khu dân cư mới và chỉnh tang các khu dân cư
hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp.
2.1.4.2. Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội
sinh, các nhóm hàng hóa được xếp theo từng khu vực quy định) có bộ phận
kiểm dịch, có ban quan lý chợ đảm bảo an ninh cho họp chợ. Chợ phải đạt
chuẩn của Bộ xây dựng.
* Bưu chính viễn thông
- Có điểm phục vị bưu chính viễn thông tại từng thôn, bản, những điểm
đó phải đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất.
- Có phủ sóng mạng để truy cập internet [6]
* Nhà ở dân cư
- Không có nhà tạm bợ, dột nát
- Đạt trên 75% hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ xây dựng
2.1.4.3. Nhóm kinh tế về tổ chức sản xuất
- Thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân
chung của tỉnh gấp 1,2 lần
- Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo nhỏ hơn 10%
- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên: Tỷ lệ lao động có việc làm
thường xuyên đạt 90% trở lên[6].
- Hình thức tổ chứa sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc HTX hoạt động hiệu
quả cao.
2.1.4.4. Nhóm tiêu chí về văn hóa – xã hội – môi trường
* Giáo dục
- Đạt phổ cập giáo dục trung học.
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT, Bổ túc, học
nghề đạt trên 70%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo hơn 20%. 11
* Y tế
- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 20%.
- Y tế phải đạt chuẩn quốc gia.
12
- Thực hiện văn bản số 1416/BNN – KTHT ngày 27/05/2009 của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn về hướng dẫn lập kế hoạch đề án cho xây
dựng thí điểm mô hình nông thôn mới
- Quyết định số 193/QĐ – TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Thông tư số 07/2010/TT – BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn về hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất
nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Quyết định số 800/ QĐ – TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt chương trình mục têu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Văn bản số 221/TB – VPCP ngày 20/08/2010 thông báo ý kiến kết
luận của Thủ tướng chính phủ triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới
- Quyết định 27/QĐ – TTg năm 2012 về phê duyệt chương trình khoa
học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 do
Thủ tướng chính phủ ban hành
- Thông tư số 41/2013/TT – BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
2.2.1.1. Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản (One village, one product – OVOP)
Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong
trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông
thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả
Nhật Bản. Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ
Morihiko Hiramatsu nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào
OVOP, đó là:
dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn. Cuối cùng là để xây
dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn".
Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu
thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông
thôn. Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ
trợ một phần nguyên, vật liệu, còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết
định và thực thi mọi việc. Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy 14
dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh
đạo phong trào.
Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng
xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ
các đại diện này. Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp
dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho
chế biến nông sản. Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư
về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác
Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của
các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân. Nhờ hiệu quả của phong
trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc
hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất Châu Á.
2.2.1.3. Mô hình nông thôn mới ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông
thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững
nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như:
- Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp
- Đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và
tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh
cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của
nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người
dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với
việc CNH - HĐH thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình
CNH - HĐH đất nước [9].
2.2.2. Mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1. Khát quát mô hình nông thôn mới ở nước ta
Xuất phát từ những khó khăn thực tế của người dân nông thôn Việt
Nam, cùng với việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ các nước
nước phát triển, nước ta cũng tiến hành chương trình xây dựng nông thôn
mới, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của từ địa phương.
Chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay đã đạt ra
mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 cả nước có trên 20% số xã đạt tiêu chuẩn
NTM (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới). Đến năm 2020 có trên
50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới[4]. 16
Hoạt động xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam được thực
hiện dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải
hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 của
Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới).
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính,
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ,
đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng
đồng người dân ở ấp, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn
Dự thảo báo cáo của Ban Chỉ đạo TW chương trình thí điểm xây dựng
nông thôn mới chỉ rõ: Kết quả đạt được ở 11 xã điểm tuy có khác nhau,
nhưng đến nay đã hình thành mô hình nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc
gia nông thôn mới và những yêu cầu đề ra của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
của Ban chấp hành TW Đảng khóa X. Đáng chú ý là so với năm 2008, thu
nhập của người dân ở các xã điểm năm 2011 đã tăng bình quân hơn 62%, cơ
sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay đổi rõ nét
diện mạo nông thôn tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống
của người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội từng
bước được cải thiện, bản sắc văn hóa được giữ gìn, trình độ dân trí và chất
lượng hệ thống cơ sở được nâng cao.
Sau 2 năm thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn, 11 xã điểm
đã có những chuyển biến rõ nét, nhất là về thu nhập của người dân. Tuy
nhiên, một số kết quả về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội,
môi trường còn chưa thực sự vững chắc.
Riêng về 2 nội dung là quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề
đặt ra với 11 xã điểm, nhất là giai đoạn đầu thực hiện thí điểm vẫn còn chậm
và lúng túng, do các địa phương còn có tâm lý trông chờ ỷ lại, lúng túng trong
triển khai thực hiện. Trong đó có cả nguyên nhân khách quan do chương trình
xây dựng nông thôn mới là chương trình mới đối với cấp ủy chính quyền các
địa phương. Tuy nhiên, với nguồn ngân sách không lớn, nhưng hiệu quả đạt
được của chương trình vẫn rất khả quan.
Trong các báo cáo tham luận của 11 xã tiến hành thí điểm, thì có một số kinh
nghiệm đã được các địa phương và ban chỉ đạo trung ương nêu ra đó là:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền