Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––– VI VĂN HIẾN Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
ĐOÀI KHÔN, HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Phát Triển Nông Thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau
khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng với đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã
Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng”.
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá
nhân, cơ quan và nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi
đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS. Cù Ngọc Bắc giảng viên khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp
đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ. Đồng thời tôi xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Đoài Khôn, các ban ngành cùng
nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện đề tài.

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014.

Sinh viên

2.1.3.1. Hộ nghèo 6

2.1.3.2. Chuẩn mực xác định nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc
gia qua các giai đoạn 7

2.2.3.3. Quy trình tổng điều tra rà soát hộ nghèo 8

2.2. Cơ sở thực tiễn
8

2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
8

2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam
10

2.2.3. Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo của Việt Nam
10

2.2.3.1. Huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo 10

2.2.3.2. Xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn
12

2.2.3.3. Cán bộ biên phòng tăng cường giúp dân xóa đói giảm nghèo tại xã
Khánh Xuân, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng 13

2.2.3.4. Xóa đói giảm nghèo tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 15

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
17

3.4.1.3. Phương pháp kiểm tra thông tin thu thập được
18

3.4.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu
18

3.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
19

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
20

4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu.
20

4.1.1. Đặc điểm tự nhiên.
20

4.1.1.1. Vị trí địa lý.
20

4.1.1.2 Địa hình địa mạo 20

4.1.1.3 Khí hậu 20

4.1.1.4
. Các nguồn tài nguyên

4.1.4.1 Giao thông
29

4.1.4.2 Điện 30

4.1.4.3 Nước 30

4.1.4.4 Công trình hành chính sự nghiệp
30

4.1.4.5 Trường học
31

4.1.4.6 Trạm Y tế 31

4.1.4.7 Thủy lợi 32

4.1.5 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu
32

4.1.5.1 Thuận lợi
32

4.1.5.2 Khó khăn 32

4.1.5.3 Cơ hội 33

4.1.5.4 Thách thức 33

4.2 Phân tích thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ nông dân trên

thiểu số nghèo, đời sống khó khăn 55

4.3.4. Chương trình chính sách hỗ trợ nghèo về nhà ở 56

4.3.5. Cứu đói giáp hạt cho các hộ nghèo 56

4.3.6. Chính sách hỗ trợ về học tập 57

4.3.7. Chính sách về y tế 57

4.3.8. Kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo ở
địa phương 57

4.3.8.1. Kết quả đạt được 57

4.3.8.2. Những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo 58

4.4 . Một số giải pháp giảm nghèo chủ yếu đối với xã Đoài Khôn nói riêng và
các xã nghèo trong tỉnh Cao Bằng nói chung. 58

4.4.1. Quan điểm định hướng 58

4.4.2. Một số giải pháp giảm nghèo chủ yếu đối với xã Đoài Khôn, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng. 59

4.4.2.1. Giải pháp chung
59

4.4.2.2. Giải pháp cụ thể 62


theo địa bàn 35
Bảng 4.7: Cơ cấu các nhóm hộ xã Đoài Khôn năm 2013 38
Bảng 4.8. Thông tin chung về nhóm hộ điều tra 40
Bảng 4.9. Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra 41
Bảng 4.10. Tổng hợp những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo 43
của nhóm hộ điều tra 43
Bảng 4.11. Tình hình vay vốn của các hộ điều tra 45
Bảng 4.12. Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra phân theo vùng 47
Bảng 4.13. Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra phân theo nhóm hộ 48
Bảng 4.14. Tài sản của nhóm hộ điều tra 49
Bảng 4.15. Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra 51
Bảng 4.16. Chi phí cho sản xuất và của nhóm hộ điều tra 52
Bảng 4.17. Tổng hợp chi phí và thu nhập trong sản xuất của nhóm hộ điều tra 53

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Đoài Khôn 22
Hình 4.2. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Đoài Khôn giai đoạn 2011 – 2013 36
Hình 4.3. Cơ cấu các nhóm hộ xã Đoài Khôn năm 2013 39


nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn
trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo. Xác định rõ tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành
công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020,
Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém
phát triển. Vì vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn,
là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội.
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có gần 70% dân
số sống ở nông thôn sống bằng nghề nông nghiệp, tỉ lệ đói nghèo còn cao nhưng
phân bố không đều giữa các vùng, miền; nhưng bất kì nơi nào từ thành phố đến
nông thôn, đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn tồn tại các hộ nghèo,
người nghèo, xã nghèo. Chính vì vậy trong quá trình xây dựng và đổi mới Đảng
và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu xóa đói giảm nghèo lên hàng đầu, góp phần
đem lại hiệu quả thiết thực cho người nghèo ổn định thu nhập, nâng cao chất
lượng đời sống và tạo mọi điều kiện để đáp ứng đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng
của người nghèo, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ
xã hội, phát triển sản xuất và tự vươn lên thoát nghèo nhằm hướng đến mục tiêu
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn
chế, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Xã Đoài Khôn, huyện
2
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng là một xã phần đông dân số sống bằng nghề nông
nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều kiện sản xuất khó khăn
nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo còn
cao nên công tác xóa đói giảm nghèo tại xã luôn là một vấn đề cấp thiết và
nan giải. Từ những khó khăn và nhu cầu bức thiết của người dân, nhằm tăng
cường công tác xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân trên
địa nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên,
tỉnh Cao Bằng”.

đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, tìm
hiểu những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương
trình xóa đói giảm nghèo và tác động của những chính sách này đến đời sống
sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ
là cơ sở giúp chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã đưa ra những
biện pháp giảm nghèo và triển khai một cách hiệu quả hơn. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số quan niệm về nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các
nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời
gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một
người là nghèo Khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình
quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia. [10]
Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội Khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9
năm 1993, các quốc gia trong Khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo
khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu
cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy
được xã hội thừa nhận".

người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ
thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo
tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ
thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất
(tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan
trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã
hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một
thách thức xã hội nghiêm trọng. [10]
2.1.2. Nguyên nhân của đói nghèo
Ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai,
bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó
khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một
vùng, khu vực.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn,
thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã
hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro
- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không
đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó
khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm
6
ăn, khuyến nông, lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết
đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế.
Kết quả điều tra về xã hội học cho thấy
- Thiếu vốn: 70-90% tổng số hộ được điều tra.
- Đông con: 50-60% tổng số hộ được điều tra.
- Rủi ro, ốm đau: 10-15% tổng số hộ được điều tra.
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 40-50% tổng số hộ được điều tra.
- Neo đơn, thiếu lao động: 6-15% tổng số hộ được điều tra.

thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng quốc gia.
Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ đói nghèo là xác định
mức thu nhập có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người,
sau đó xác định xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có mức thu
nhập dưới mức đó. Tuy nhiên, phương pháp lượng hoá nhu cầu tối thiểu ở
mỗi nước để biểu hiện đường danh giới đói nghèo cũng khác nhau.
Ở Việt Nam, Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐTB&XH) là
cơ quan thường trực trong việc thực hiện XĐGN. Cơ quan này đã đưa ra
mức xác định khác nhau về nghèo đói tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của
đất nước. Từ năm 1993 đến nay chuẩn nghèo đã được điều chỉnh qua 6
giai đoạn, cụ thể cho từng giai đoạn như sau:
Bảng 2.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ
Giai đoạn
Đơn vị tính
(1000 đồng)
Hộ đói

Hộ
nghèo

Hộ
cận
nghèo

(Dưới
mức)
(Dưới
mức)
(Dưới
mức)

mức hưởng thụ các dịch vụ cơ bản khác); không phản ánh được sự mất cân
đối giữa chuẩn mực so với đời sống thực của người nghèo.
Ở mỗi vùng, mỗi địa phương cũng có thể quy định chuẩn nghèo khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình tại thời
điểm nhất định. Ở xã Đoài Khôn nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung đều
lấy chuẩn nghèo theo quy định chung của Bộ LĐTB & XH đã quy định.
2.2.3.3. Quy trình tổng điều tra rà soát hộ nghèo
Bước 1: Tổ chức lực lượng và xây dựng phương án điều tra xác định hộ
nghèo, hộ cận nghèo.
Bước 2: Tập huấn nghiệp vụ điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo
các cấp.
Bước 3: Tuyên truyền: Thông tin trên các phương tiện truyền thông về
mục tiêu, ý nghĩa của việc điều tra xác định hộ nghèo và trách nhiệm tham gia của
các bên liên quan.
Bước 4: Lập danh sách các hộ gia đình cấp thôn.
Bước 5: Phân loại hộ gia đình cấp thôn.
Bước 6: Tổng hợp kết quả phân loại hộ gia đình các cấp xã/huyện/tỉnh.
Bước 7: Thống nhất số lượng và tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo cấp huyện,
xã của tỉnh.
Bước 8: Bình xét danh sách hộ nghèo và hộ cận nghèo.
Bước 9: Lập danh sách hộ nghèo và hộ cận nghèo chính thức.
Bước 10: Tổng hợp thông tin về đặc điểm hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Bước 11: Báo cáo kết quả điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Bước 12: Lập sổ hộ nghèo, hộ cận nghèo cấp xã.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Đầu 2011, Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) ước tính, trên thế giới
có khoảng một tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đến cuối tháng
10 năm 2011, dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷ người. Điều đó có nghĩa, mỗi ngày
trên hành tinh cứ 7 người sẽ có 1 người bị đói, mặc dù thế giới sản xuất đủ

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỉ lệ thanh
niên thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi).
Thất nghiệp là một trong những vấn đề chủ chốt gây ra nạn đói nghèo của lục
địa Đen và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế hoạch phát
triển, với tỉ lệ tăng 10% mỗi năm. 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là
thuộc châu Phi. Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD. Tuổi thọ trung
10
bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi. Chỉ có 58% số người dân châu Phi
được dùng nước sạch. [13]
2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam
Ngày 28/03/2012, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành
Quyết định số 375/QĐ-LĐTBXH phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ
nghèo, hộ cận nghèo năm 2011.
Theo kết quả điều tra năm 2011, số hộ nghèo trên cả nước xấp xỉ 2,6
triệu hộ, chiếm tỷ lệ 11,76%; số hộ cận nghèo là hơn 1,5 triệu hộ, chiếm tỷ lệ
6,98%. So với kết quả điều tra hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2010, cả nước
đã giảm được hơn 450.000 hộ nghèo, tỷ lệ giảm nghèo đạt 2,44%; giảm hơn
80.000 số hộ cận nghèo với tỷ lệ giảm là 0,51%.

Tính chung cả năm 2012, cả nước có 450,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm
27,6% so với năm 2011, tương ứng với 1911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói,
giảm 26,9%. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2012 ước tính là 11,3 - 11,5%, giảm 1,1
- 1,3% so với năm 2011, thấp hơn mức giảm 1,6% của năm 2011 so với năm
2010. Trong đó: Đông Bắc 18,31%; Tây Bắc 28,87%; Đồng bằng sông Hồng
5,42%; Bắc Trung Bộ 15,51%; Duyên hải miền Trung 12,86%; Tây Nguyên
16,62%; Đông Nam Bộ 1,48%; Đồng bằng sông Cửu Long 10%.

2.2.3. Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo của Việt Nam
2.2.3.1. Huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo
Đầu năm 2012, huyện Tam Bình có 3.319 hộ nghèo theo tiêu chí mới,

nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, huyện Tam Bình đã đẩy mạnh xã hội hóa
công tác chăm lo cho người nghèo, huy động nhiều nguồn lực đóng góp xây
dựng được 90 căn nhà giúp các hộ nghèo có nhà ở lành lặn, tươm tất. Đó cũng
chính là niềm động viên để họ nỗ lực phấn đấu, vươn lên thoát nghèo.
Anh Nguyễn Long Phi, Ấp Mỹ Phú - Mỹ Lộc - Tam Bình cho
biết: “Gia đình tôi lúc trước cũng thuộc diện hộ nghèo nhờ chính quyền ở ấp
với xã xét cho tôi được chương trình Chuyến xe nhân ái hỗ trợ cho tôi được
số tiền 15 triệu với một con bò, cất được căn nhà ở, tôi phải phấn đấu làm ăn
cho nó vươn lên chứ không để cái nghèo nó tái lại như trước nữa.”
Song song với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho hộ
nghèo, huyện Tam Bình luôn chú trọng thực hiện tốt công tác đào tạo nghề và
giải quyêt việc làm cho người lao động. Trong năm đã có hơn 9.400 người lao
động được học nghề và có việc làm ổn định, đạt hơn 120% kế hoạch; 102
người đi làm việc ở nước ngoài. Từ những nỗ lực trên, cuối năm 2012 toàn huyện
có 1.214 hộ thoát nghèo, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 6,09%.
Năm 2013, huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo,
phấn đấu giảm 2% hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Kinh và 4% trong
đồng bào dân tộc Khmer.
Ông Lê Ngọc Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện Tam Bình cho
biết: “UBND huyện đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện vấn đề này gồm
12
có các giải pháp cơ bản như sau: Thứ nhất làm rõ về nhận thức đối với công tác
giảm nghèo, cấp ủy, chính quyền và địa phương cùng toàn thể nhân dân trong
huyện phải quan tâm chỉ đạo và thực hiện công tác này. Giải pháp thứ 2 là rà
soát, nắm kỹ lại nguyên nhân nghèo của từng hộ trên cơ sở để có kế hoạch cụ thể
giúp từng hộ nghèo. Trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho LĐ nông thôn
cần chú ý đào tạo những nghề nào mà nhu cầu của địa phương cần và những
ngành nghề nào mà DN đặt hàng để trên cơ sở đó LĐ sau khi học nghề được giải
quyết việc làm từ 80% theo chủ trương chung của huyện.”
Với nhiều giải pháp đồng bộ cộng với quyết tâm cao của cấp uỷ, chính

Cụ thể, năm 2002, trong tổng số 680 hộ dân toàn xã thì có đến 646 hộ nghèo
(chiếm 95%) thì đến cuối năm 2012, toàn xã có 806 hộ thì hộ nghèo giảm
xuống chỉ còn 170 hộ (chiếm 21,1%). Kết quả này phản ánh sự nỗ lực rất lớn
của cấp ủy, chính quyền và nhân dân toàn xã. Hiện nay, các chương trình, dự
án như: Chương trình 135 giai đoạn II, Dự án 3PAD, Chương trình 30a
đang tiếp tục được triển khai có hiệu quả, sẽ góp phần tích cực trong xóa đói
giảm nghèo nhanh và bền vững tại địa phương những năm tiếp theo.
Bên cạnh việc lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế, những năm qua,
Đảng bộ xã Chu Hương luôn chú trọng công tác tổ chức, xây dựng Đảng.
Đảng bộ xã thường xuyên tổ chức quán triệt, triển khai chỉ đạo thực hiện sâu
rộng, kịp thời các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên đến cán bộ, đảng viên và
quần chúng nhân dân. Hằng năm, đảng bộ chủ động thực hiện xây dựng kế
hoạch nâng cao chất lượng đảng viên, tạo điều kiện cho cán bộ, quần chúng ở
cơ sở tham gia các lớp bồi dưỡng đối tượng đảng để kết nạp đảng viên mới,
đến nay toàn xã không còn thôn "trắng" đảng viên.
Năm 2013, Chu Hương phấn đấu thực hiện 50% diện tích canh tác thu
nhập đạt giá trị 70 triệu đồng/ha trở lên; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt
2.000tấn; bình quân lương thực đạt 650 kg/người/năm; với phương châm Nhà
nước và nhân dân cùng làm, phấn đấu hết năm 2013, cơ bản bê tông hóa
đường giao thông liên thôn và các công trình thủy lợi nhỏ Để thực hiện có
hiệu quả mục tiêu đề ra, ngay từ những ngày đầu xuân, Đảng ủy, chính quyền
xã Chu Hương đã phát động phong trào thi đua lao động sản xuất; việc cày ải
đất gieo cấy vụ xuân đã được bà con thực hiện một phần, phần còn lại sẽ thực
hiện ngay sau khi kết thúc Tết Nguyên đán, phấn đấu thực hiện hoàn thành
việc gieo cấy đúng theo khung thời vụ đã đề ra để đạt kết quả cao nhất. [15]
2.2.3.3. Cán bộ biên phòng tăng cường giúp dân xóa đói giảm nghèo tại xã
Khánh Xuân, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
Trên vùng biên bốn bề núi đá cao sừng sững trong sương trắng của
huyện Bảo Lạc, những cán bộ biên phòng tăng cường được đồng bào Mông,
Dao nhắc tới như cứu cánh làm vơi đi cái khó, cái khổ. Nếu không thấy bộ

Vơi bớt nỗi lo thiếu ăn, Bí thư Hoàn lại cùng Đảng ủy xã huy động các
nguồn lực mở đường, kéo điện từ xã vào các xóm. Điểm trường, lớp học, tạo
cơ hội cho 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường. Xóm nào cũng có nhà
văn hóa để người dân trên núi sinh hoạt cộng đồng và nâng cao dân trí. Con
số 4% số hộ trong xă thoát nghèo mỗi năm là một minh chứng rõ ràng nhất về
công sức của người bí thư mang quân hàm xanh. [16]

15
2.2.3.4. Xóa đói giảm nghèo tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng
Trung tá Lục Văn Thụ là cán bộ biên phòng tăng cường xã Quang Long
(huyện Hạ Lang). Trước kia, nơi đây còn là khu đất hoang. Mất bao công sức
của cán bộ chiến sĩ đồn Biên phòng Quang Long vừa vận động, vừa trực tiếp
lao động cùng bà con, người dân Bản Kiểng mới biết trồng lúa nước. Nơi biên
giới Quang Long, đồng bào dân tộc Tày, Nùng lắm nỗi thiệt thòi, bởi giao
thông cách trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu cơ hội học tập, tiếp thu các tiến bộ
KHKT, người dân mưu sinh vất vả, đói nghèo lại còn nặng tập tục lạc hậu.
Quyết tâm cùng địa phương nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
dân, các chiến sĩ biên phòng phải kiên trì vận động, từ những việc tưởng như
rất nhỏ như khi ốm thì không mời thầy cúng mà ra trạm y tế xã để được khám,
cho con em đến trường đúng độ tuổi, đến tuyên truyền người dân phát triển
chăn nuôi theo hướng hàng hóa và tham gia dự án trồng mía xuất khẩu… Nói
cách này không được, anh lại dùng cách khác, khi thì lý, khi thì tình, khi thì
phải cả lý lẫn tình, để thuyết phục người dân. Giờ đây người dân đã có nhiều
tiến bộ trong nếp nghĩ, thực hiện nếp sống mới văn minh hơn.
Hạ Lang đang chuyển mình trong cuộc cách mạng xóa đói giảm nghèo
theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Ông Hà Đức Nhàn, Chủ tịch UBND
huyện Hạ Lang khẳng định: “Những cán bộ biên phòng tăng cường về các xã
cũng chính là một trong những chủ trương, giải pháp đồng bộ của Đảng, Nhà
nước nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc xoá đói giảm nghèo bền vững,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương”. [16]

Thời gian triển khai thực hiện đề tài: Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 04 năm 2014.

3.2. Nội dung nghiên cứu
+ Tình hình nghèo đói ở xã Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
+ Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.
+ Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại Đoài Khôn, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2011-2013.
+ Tác động của các chương trình giảm nghèo đã và đang triển khai tại địa
phương tới công tác xóa đói giảm nghèo.
+ Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực
giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo và
xây dựng địa phương ngày càng phát triển.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Một là, tại sao phải nghiên cứu nghèo tại xã Đoài Khôn?
Hai là, nguyên nhân nào dẫn đến nghèo của hộ, làm thế nào để xác
định được một cách chính xác đâu là nguyên nhân dẫn tới nghèo của hộ từ đó
tìm ra đâu là nguyên nhân chính và đâu là nguyên nhân phụ?
Ba là, các chương trình giảm nghèo của Đảng và Nhà nước được triển
khai thực hiện tại địa phương như thế nào? Cách thức triển khai, những kết
quả đạt được và những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện.

Trích đoạn Phương phỏp thu thập số liệu sơ cấp 4 Cỏc nguồn tài nguyờn Chớnh sỏch hỗ trợ trực tiếp cho người dõn thuộc hộ nghốo ở vựng khú Quan điểm định hướng Giải phỏp chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status