Đánh giá tác động của dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực tới công tác xóa đói giảm nghèo tại xã châu hạnh huyện quỳ châu tỉnh nghệ an - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà nội, ngày.......tháng.......năm 2010

Tác giả
Sầm Anh Dũng

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp đại học, ngoài sự cố gắng của bản
thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ. Tôi xin bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc đến các cá nhân và tập thể đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp:
Thầy giáo, ThS. Lương Xuân Chính người đã tận tâm hướng dẫn chỉ
bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Khoa KT và PTNT, Bộ môn Kinh tế đã giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập cũng như hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của minh tới tập thể cán bộ nhân viên
thuộc các ban trong UBND xã Châu đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những số
liệu cần thiết và những kiến thức thực tế phục vụ cho đề tài.
Cuối cùng xin gửi tới gia đình lòng biết ơn sâu sắc nhất, nơi cho tôi
động lực để phấn đấu trong quá trình học tập và nghiên cứu.Tôi cũng xin bày
tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
cũng như hoàn thành đề tài nghiên cứu.

Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
+ Đánh giá tác động của Dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực tới
công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Châu Hạnh- Quỳ Châu- tỉnh Nghệ An, từ
đó đề xuất một số giải pháp cần hoàn thiện trong Dự án.

3


Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Châu hạnh với phương pháp
nghiên cứu là chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu; thu thập tài liệu và số
liệu liên quan; xử lý số liệu và phân tích số liệu.
Qua quá trình điều tra nghiên cứu nhận thấy rằng, các dự án thực
hiện hầu hết đều đạt được các mục tiêu đã đặt ra, đúng như mục tiêu
chung của Đảng và Nhà nước đề ra trong việc phát triển kinh tế vùng. Cụ
thể như sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ cấu kinh tế. 2006 – 2009
tăng 1,9 triệu đồng/người.
- Giảm số hộ nghèo toàn xã. 2006 – 2009 giảm 36 hộ.
- Thu nhập của người dân ở các bản có dự án thay đổi nhiều so với
người dân ở các bản không có dự án.
- Tăng việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 2006 –
2009 giảm 1,51%.
- Cùng những tác động về văn hóa xã hội.
+ Thay đổi nếp sống của người dân, đời sống văn hóa của
người dân toàn xã ngày càng được cải thiện và nâng cao tinh thần
đoàn kết trong khối nhân dân.
+ Do mọi người đều có việc làm với thu nhập ổn định nên
tình hình tệ nạn xã hội cũng được đẩy lùi.
+ Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội thì các dự án cũng
rất chú trọng tới việc bảo vệ môi trường. Do tạo được công ăn việc

Bảo hiểm y tế

BQ

Bình quân

CN

Công nghiệp

CSHT

Cơ sở hạ tầng

ĐLV

Đa lĩnh vực

ĐVT

Đơn vị tính



Lao động

NN

Nông nghiệp


35

2.

Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Châu Hạnh năm 2009

40

3.

Tình hình phát triển kinh tế của xã Châu Hạnh

43

4.

Lượng vốn đầu tư phát triển theo dự toán trên địa

53

bàn xã Châu Hạnh
5.

Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển trên

55

địa bàn xã Châu Hạnh
6.


65

7


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế giới bước sang thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng
cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính chất toàn cầu. Nó chứa
đựng trong mình cả niềm vui nỗi bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, nỗi đau
nhân loại là nghèo đói vẫn còn trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn.
Nghèo, đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người, là một nghịch lý trên con
đường phát triển. Trong khi thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về
tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng vượt
bậc sự giàu có của con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con
người lại chính là sự nghèo đói. Thực tế hiện nay trong hơn 7 tỷ người của thế
giới, thường xuyên có khoảng 3 tỷ người sống dưới mức sống 2USD/ngày,
đặc biệt có 1,2 tỷ người sống dưới mức 1USD/ngày.
Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là một trong
những nước có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất theo tiêu chuẩn và
phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam
giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 và đến năm 2009 còn
khoảng 30%.Theo tiêu chuẩn quốc gia từ năm 1992 đến 2004, tỷ lệ đói nghèo
ở Việt Nam đã giảm từ 30% xuống còn 8,3%. Tính đến tháng 12-2004, trên
địa bàn cả nước có 2 tỉnh và thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu
chuẩn; có 18 tỉnh tỷ lệ nghèo chiếm 3-5%; 24 tỉnh có tỷ lệ nghèo chiếm 510%... Đáng kể trong chương trình Xóa đói giảm nghèo là những xã nằm
trong diện 135 (xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn) đã có những thay đổi biến
chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới 60-70% số xã nghèo trong diện 135, thì
đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20-25%. Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam
giảm nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuống còn 6,3% năm 2005 (theo chuẩn

phát triển nông thôn tới xóa đói, giảm nghèo tại xã Châu Hạnh- Quỳ Châutỉnh Nghệ An trong những năm qua.
9


- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả Dự án
phát triển nông thôn tới xóa đói, giảm nghèo.
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực thực
hiện tại xã Châu Hạnh- Quỳ Châu- tỉnh Nghệ An
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Tình hình thực hiện Dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực tại xã
Châu Hạnh- Quỳ Châu- tỉnh Nghệ An.
+ Tác động của Dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực tại xã Châu
Hạnh- Qùy Châu đến xóa đói giảm nghèo.
- Phạm vi về không gian:
Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên địa bàn xã Châu Hạnh- Quỳ
Châu- tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi về thời gian:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 23/01/2009 đến ngày
26/05/2010.

10


PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÓI NGHÈO
2.1.1 Các khái niệm về nghèo đói
2.1.1.1 Nghèo đói

nó bao gồm các chi phí công khai những giá trị sự dụng đã quy đổi các mặt
hàng lâu bền và giá trị nhà ở. Nhìn chung, nhiều nước dùng chuẩn mực nghèo
1/3 mức thu nhập bình quân của toàn xã hội là mức để đánh giá đói nghèo.
2.1.2.2. Tiêu chí của Việt Nam
Những thành tựu giảm nghèo ở Việt Nam Từ năm 1998 đến nay,
chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình 135 ra đời và đi
vào hoạt động đã tạo sự chuyển biến sâu sắc trong toàn xã hội, huy động được
sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động và đa dạng hoá các nguồn lực
cho giảm nghèo, bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn được cải thiện rõ
nét, đời sống của người nghèo, đồng bào dân tộc đã được nâng lên một bước.
Thành quả xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc
tế ghi nhận và đánh giá cao, báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghi
nhận: “Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu
chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế” tạo được sự đồng thuận xã
hội cao, góp phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng
trưởng kinh tế của đất nước, thực hiện cam kết thiên niên kỷ, góp phần nâng
cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm
nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuống còn 6,3% năm 2005 (theo chuẩn nghèo cũ),
bình quân mỗi năm giảm được trên 30 vạn hộ, đạt được mục tiêu Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX đề ra. Cơ sở hạ tầng thiết yếu của các xã
nghèo, xã đặc biệt khó khăn từng bước được xây dựng, năm 2000 có khoảng
4.000 công trình được đưa vào sử dụng, đến năm 2006 đã có trên 30.000 công
trình được xây dựng và đưa vào sử dụng đã làm cho bộ mặt của xã nghèo, xã
14


đặc biệt khó khăn được cải thiện đáng kể nhất là trường học, trạm y tế, thuỷ
lợi nhỏ, đường giao thông, nước sạch và vệ sinh môi trường… Chất lượng
cuộc sống của người dân ở các xã nghèo đã được nâng lên một bước, thu nhập
bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 2001 đạt 107.000

- Bắc Trung Bộ 23,44%
- Duyên hải miền Trung 16,18%
- Tây Nguyên 21,34%
- Đông Nam Bộ 5,12%
- Đồng bằng sông Cửu Long 12,85%
Một số địa phương đã cơ bản xoá hết hộ nghèo theo chuẩn quốc gia
như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và áp dụng chuẩn nghèo mới của địa
phương cao hơn từ 1 đến 2 lần chuẩn quốc gia. Những khó khăn thách thức
Trong những năm qua, công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của nước ta đạt
được những thành tựu quan trọng, GDP hàng năm tăng cao từ 7,5- 8,5%, tuy
nhiên Việt Nam vẫn là một nước nghèo.
2.1.3 Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo
2.1.3.1. Thực trạng đói nghèo
* Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nước ta tuy có giảm nhưng tỷ lệ vẫn còn cao.
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đến hết năm 2008, tỷ lệ hộ
nghèo cả nước sẽ còn khoảng 13% (tương đương 2,4 triệu hộ), giảm gần 2%
so với năm 2007.
Tại buổi tọa đàm nhân ngày Thế giới xóa đói nghèo và ngày Vì người
nghèo Việt Nam (17/10) được tổ chức ngày 13/10 tại Hà Nội, ông Ngô
Trường Thi, Cục phó Cục Bảo trợ Xã hội nhận định, dù tỷ lệ nghèo có giảm,
nhưng vẫn chưa đạt so với mục tiêu 12% đề ra từ đầu năm do ảnh hưởng của
biến động giá cả và ảnh hưởng của dịch bệnh, thiên tai.
Trước tình hình này, cùng với việc tiếp tục triển khai các chính sách
giảm nghèo, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc, chương trình mục tiêu quốc
gia xóa đói giảm nghèo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đã kiến

16


nghị Chính phủ điều chỉnh lại chuẩn nghèo để bù đắp trượt giá, đảm bảo giá

*Nguyên nhân chủ yếu nghèo đói ở Việt Nam:
Trong suốt quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam, có những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo đói như sau:
- Nguyên nhân khách quan, lịch sử.
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến
tranh lâu dài, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn
nhân lực chính của các hộ gia đình bị giảm sút.
Chính sách của nhà nước bị thất bại: Sau khi thống nhất đất nước việc
áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tọa công thương nghiệp đã
không mang lại kết quả như mong đợi: Kinh tế trì trệ, lạm phát gia tăng đến
700%.
Việc thực hiện hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể
của các tư liệu sản xuât trong suốt một thời gian dài đã làm thui chột động lực
sản xuất.
Do việc thực hiện ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị
trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiểu quả, thương
nghiệp tư nhân tàn lụi, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hóa làm thu
nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao.
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị
lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính
sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông
dân di cư, nhập cư vào thành phố.
- Nguyên nhân chủ quan.

18


Sai lệch thống kê: Do điều chỉnh chuẩn nghèo của chính phủ lền gần
với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển là tỷ
lệ nghèo tăng lên.

không đồng đều ở một số địa phương. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng,
vừa yếu về năng lực. Phần lớn cán bộ thực thi chương trình ở cấp xã đều kiêm
nhiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên. Việc theo dõi, giám sát
chương trình chưa có hệ thống và đồng bộ. Công tác sơ kết, tổng kêt, đánh giá
chương trình chủ yếu dựa trên các báo cáo với lượng thông tin chưa đầy đủ.
- Tác động của những khó khăn thách thức ở trên
+ Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng có xu hướng chậm
lại, các hệ số tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo từ 1 - 0,7 trong những năm
1992 - 1998 giảm xuống còn khoảng 1 – 0,3 giai đoạn từ 1998 – 2004 và đến
nay hệ số cũng chưa có sự thay đổi đáng kể. Một số chính sách và giải pháp
cho xóa đói, giảm nghèo đã bộ lộ những hạn chế, không còn tác dụng mạnh
mẽ như giai đoạn đầu. Vì vậy, cần phải có động lực mới trong tương lai, đó là
chính sách phát triển và chuyển giao công nghệ sinh học, công nghệ sau thu
hoạch để nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao giá trị sản xuất trên
một diện tích reo trồng, chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản
xuất hàng hóa, chính sách phát triển trang trại, phát triển tiểu thủ công nghiệp,
doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
+ Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còn cao, gấp từ 1,7 – 2 lần tỉ
lệ hộ nghèo bình quân của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng từ 21% năm
1992 lên 36% năm 2005. Tỷ lệ hộ nghèo tập chung chủ yếu ở những vùng
khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu
hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai.
20


Các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên có tốc độ giảm nghèo
nhanh nhất song đây cũng là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhât.
+ Trên lệch về thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu
hướng gia tăng. Trong những năm gần đây, chênh lệch giữa 20% nhóm giàu

Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng mà hành vì cuối cùng là bản thân
người nghèo, hộ nghèo vươn lên hòa nhập với cộng đồng cùng phát triển, đủ
năng lực trí tuệ, nguồn lực và truyền thống động lập, tự chủ xóa đói, giảm
nghèo trong hiện tại, làm giàu bền vững trong tương lai. Với các chỉ tiêu chủ
yếu trong giai đoạn 2006 – 2010 là:
- Thu nhập của nhóm nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005.
- Các xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu.
- 6 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi, 4,2 triệu lượt hộ
nghèo được tập huấn về khuyến nông, lâm, ngư.
- 1,5 triệu người được miễn giảm học phí học nghề.
- 15 triệu người được khám chữa bệnh miễn phí khi đau ốm.
- 19 triệu lượt học sinh được miễn, giảm học phí, tiền xây dựng trường.
- 500 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm.
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội: Chương trình mục tiêu
quốc gia về giảm nghèo 2006 – 2010)
Để công tác xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả bền vững, việc đưa ra các
hoạt động, biện pháp đúng đắn, hợp lý có vai trò quan trọng. Từ đó có thể
triển khai thực hiện có hiệu quả. Qua nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân của
đói nghèo (đưa ra cây vấn đề), từ việc tìm ra nguyên nhân đó, đưa ra biện
pháp giải quyết tương ứng với từng nguyên nhân. Bằng việc đưa ra các chính
sách hợp lý trong suốt các năm thực hiện, công tác xóa đói, giảm nghèo của
Việt Nam ngày càng có hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo đói ngày càng giảm, đời sống
của hộ dân nghèo ngày càng được cải thiện và ổn định.
Các chính sách phù hợp đó được thể hiện chính bằng các chương trình,
dự án được đầu tư vào khu vực nông nghiệp và nông thông như: Chương trình
mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo và việc làm (với các dự án xây
22


dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề, hướng dẫn cho

Như vậy, đánh giá đúng bản chất và tính phức tạp của dự án là tiếp cận
được ngưỡng cửa của thành công.
* Dự án phát triển nông thôn:
Dự án phát triển nông thôn là một loại dự án để giải quyết một hay
một số vấn đề của cộng đồng nông thôn với sự tham gia tích cực của
nhiều lực lượng xã hội (bên trong, bên ngoài) nhằm mục đính tạo ra
những chuyển biến xã hội theo hướng tích cực tại cộng đồng, thể hiện
bằng 1 chương trình động với những tiêu chí về tài chính và tài nguyên
đã được định trước.
2.2.2 Đánh giá dự án phát triển nông thôn đa lĩnh vực
2.2.2.1 Khái niệm về đánh giá dự án
Đánh giá dự án là bước tiếp theo của chu trình dự án, là quá trình kiểm
định tính đúng đắn, hiệu quả và ảnh hưởng của các hoạt động dự án so với
mục tiêu đề ra. Việc đánh giá dự án là hết sức cần thiết trong thẩm định dự án,
thực hiện dự án và kết thúc dự án. Đó là công việc không thể thiếu trong công
tác dự án. Việc đánh giá dự án nhằm:
a) Biết được tính khả thi của dự án;
b) Biết được tiến độ thực hiện của dự án;
c) Biết được kết quả, tác động của dự án đến đời sống, kinh tế và môi
trường;
d) Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ thực hiện một dự án;
e) Tìm ra những cơ hội để thực hiện dự án tiếp theo.
Bên cạnh đó, đánh giá dự án còn để nhằm trả lời các câu hỏi như: Liệu
dự án đã thực sự cải thiện được cuộc sống của cư dân nông thôn, dân nghèo,
phụ nữ, dân tộc ít người và trẻ em trong vùng dự án?; Liệu dự án đã làm cho
xã hội trở nên công bằng hơn?; Liệu dự án đã góp phần bảo vệ tài nguyên
24


thiên nhiên và môi trường?; Liệu dự án đã làm tăng tính bền vững trong sự



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status