Đánh giá thực trạng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ tại xã Quất Lưu, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VIỆT THÀNH Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI XÃ QUẤT LƯU
HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
nhiều nguồn khác nhau. Các thông tin này được chỉ rõ nguồn gốc, đa số thông
tin được thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và
xử lý trên Excel 2007.
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
là hoàn toàn trung thực. Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều
được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
LÊ VIỆT THÀNH
LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn,và cô giáo hướng dẫn khoa học
ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương, tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với
tên đề tài: “Đánh giá thực trạng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh
tế hộ tại xã Quất Lưu, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc”
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
lý luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế. Những kiến thức mà các thầy cô giáo
truyền thụ đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và PTNT cùng các thầy cô giáo trong
trường đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị
Hiền Thương, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng cán bộ UBND xã Quất
Lưu, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nơi tôi thực tập, đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến công lao và sự giúp
đỡ của bà con nông dân các xã Quất Lưu, những người đã cung cấp số liệu, tư

Bảng 3.7: Tình hình đất đai bình quân/hộ của nhóm hộ điều tra năm 2013 36

Bảng 3.8: Tình hình lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra năm 2013 37

Bảng 3.9: Bảng tình hình vốn của nhóm hộ điều tra năm 2013 38

Bảng 3.10: Chi phí trên 1 sào lúa của các nhóm hộ điều tra năm 2013 40

Bảng 3.11: Chi phí trồng màu của nhóm hộ điều tra 41

Bảng 3.12: Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi 43

Bảng 3.13: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của nhóm hộ điều tra năm 2013
44

Bảng 3.14: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của nhóm hộ điều tra năm 2013
45

Bảng 3.15: Kết quả sản xuất từ hoạt động phi nông nghiệp của nhóm hộ điều
tra năm 2013 47

Bảng 3.16: Tổng hợp thu nhập của nhóm hộ điều tra 48DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Bản đồ 3 thôn nghiên 19

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT.
Chữ viết tắt Diễn giải

Trang
MỞ ĐẦU 1

1. Tính cấp thiết của đề tài 1

2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

2.1. Mục tiêu chung 2

2.2. Mục tiêu cụ thể 2

3. Ý nghĩa của đề tài 3

3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3

4. Bố cục của khóa luận 3

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, và kinh tế nông hộ 4

1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ 5

1.1.3. Đặc trưng của kinh tế nông hộ 6

1.1.4. Phân loại hộ nông dân 6

2.3. Nội dung nghiên cứu 18

2.4. Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1. Phương pháp thu thập thu thập số liệu 18

2.4.2. Phương pháp xử lý thông tin số liệu 21

2.4.3. Phương pháp phân tích số liệu 22

2.5. Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 22

2.5.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ
22

2.5.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ 22

2.5.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính 22

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1. Khát quát điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội tại địa bàn xã Quất
Lưu 24

3.1.1. Điều kiện tự nhiên 24

3.1.2. Điều kiện về đất đai 26

3.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội 27


4.1.5. Giải pháp về thị trường 52

4.1.6. Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 53

4.1.7. Giải pháp về chính sách 53

4.2. Kiến nghị 53

4.2.1. Đối với Nhà nước 53

4.2.2. Đối với địa phương 54

4.2.3. Đối với hộ nông dân 54

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 571
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước thuần nông, có nhiều tiềm lực để phát triển một
nền nông nghiệp vững mạnh. Trong quá trình hội nhập và phát triển của khu
vực và thế giới đã tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính
trị, văn hóa. Đời sống của người dân từng bước được nâng cấp rõ rệt, người
dân lúc này sẽ được tiếp cận với những thành tựu của khoa học công nghệ.
Có thể thấy rằng kinh tế hộ nông dân chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ
nền kinh tế, nó có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp, góp
phần làm tăng sản lượng lương thực cho xã hội, sử dụng đầy đủ và có hiệu

sẵn có và sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Trước hết là phải khai thác thế
mạnh về sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở đó để từng bước phát triển các
ngành kinh tế khác. Phương án tối ưu để phát triển kinh tế xã hội nâng cao thu
nhập cho người dân là phải đầu tư theo chiều sâu, đẩy mạnh thâm canh tăng
vụ, sử dụng đất đai một cách hợp lý và hiệu quả, tiết kiệm vốn, đồng thời đẩy
mạnh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong thực tiễn để người dân có thể áp
dụng ngay trên đồng ruộng của mình.
Muốn vậy xã cần phải có những giải pháp kinh tế nhằm cải thiện thu
nhập cho người dân một cách hợp lý, tạo điều kiện cho các hộ nông dân chuyển từ
tự cung sang tự cấp lên sản xuất hàng hóa gắn với nền kinh tế thị trường
Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ của xã nói riêng đang dần
phát triển trên đà phát triển chung của cả nước nên nó không thể tránh khỏi
các mẫu thuẫn cần được giải quyết
Xuất phát từ thực trạng trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
giá thực trạng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ tại xã
Quất Lưu, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên cứu và đưa ra
những giải pháp tốt nhất cho địa phương để giúp họ cải thiện phần nào đời
sống và thu nhập hàng ngày của hộ.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Quất Lưu,
huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại địa phương trong những năm tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể

3
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và cơ sở thục tiễn về phát triển kinh tế
hộ nông dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Nắm được thực trạng về kinh tế hộ của địa phương nghiên cứu. Tìm ra
các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu.

Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ,
hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà - nhóm người đó bao
gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: "Hộ là một hệ thống
các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối
quan hệ".
Tại cuộc hội thảo Quốc Tế lần thứ tư về quản lý nông trại ở Hà Lan
năm 1980, các đại biểu đã nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội
có liên quan đến sản xuất và tái sản xuất, đến tiêu dùng và các xã hội khác.
Như vậy hộ là một nhóm người có cùng huyết tộc sống chung hay
không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà,
ăn chung và có chung một ngân quỹ” [2].
Các nhà kinh tế ở Việt Nam định nghĩa:“Hộ là một nhóm người có cùng
huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung một mái nhà, ăn chung một
mâm cơm, cùng tiến hành sản xuất chung và có chung ngân quỹ ” [8].
* Khái niệm hộ nông dân
Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp (1988) đưa ra định
nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh
nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của
gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng
chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”[3].
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo
nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [6]. Đào
Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động

5
nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn” [5].

sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước
hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời [7].
1.1.3. Đặc trưng của kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế
hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết
thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm
chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau
dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản,
quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích
về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
- Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân
công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là
người trực tiếp lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi,
hợp lý vì mọi người hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích
của mỗi thành viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình
giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác
cao, điều mà không có hình thức kinh doanh nào có được.
- Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử
dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người
đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo
quản cao nhất. Bởi vì chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình [2].
1.1.4. Phân loại hộ nông dân
Trong sản xuất nông hộ kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được phát
triển từ thấp đến cao, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Vì vậy nếu căn cứ
vào mức độ phát triển kinh tế nông hộ ta có thể chia ra các nhóm sau:
- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp của kinh tế nông
hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu
nhằm duy trì cuộc sống của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít

- Nhóm hộ cận nghèo: Là những hộ có mức thu nhập bình quân từ
400.000 đồng - 520.000 đồng/người/tháng.
- Nhóm hộ nghèo: là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới
400.000 đồng/người/tháng.
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế hộ nông dân

8
1.1.5.1. Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai:
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự
phát triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi
như: gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị
trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn
sẽ có điều kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản
xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất. Do vậy quy mô
đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới
từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị sản
phẩm và lợi nhuận thu được.
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái:
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều
kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ
chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy ở những nơi
thời tiết khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và
rủi ro, có cơ hội để phát triển kinh tế.
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân, nhất
là nguồn nước. Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật
sinh học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, con gia súc phát triển tốt, năng
suất cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó
dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp kém.

nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế
hộ nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất
phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ được ổn định và cải thiện.
- Thị trường:
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với số lượng
bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường, các
hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều
kiện sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát triển.
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất
kinh doanh:

10
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá, các hộ nông dân
phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và giúp
nhau tiêu thụ sản phẩm. Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các hộ nông dân
có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản
xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, con gia súc và năng suất lao động.
1.1.5.3. Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác:
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu
cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau. Trong
nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ:
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế
cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất,
hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất
như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kinh tế kết hợp với

dụng rộng rãi, có hiệu quả cao các thành tựu KHCN hiện đại về giống cây
trồng, vật nuôi, các loại vật tư kỹ thuật nông nghiệp, phân bón cho cây trồng,
thức ăn công nghiệp cho gia súc, năng lượng cơ điện, nước, gió, các máy móc
thiết bị nông nghiệp và ứng dụng đồng bộ vào các chu trình sản xuất và chế
biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cao và
năng suất lao động nông nghiệp cao.
- Thái Lan: vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông
thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững
nền nông nghiệp. Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như. Tăng cường
vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đẩy
mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng
cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông
nghiệp và nông thôn, tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải

12
quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp, giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ
thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp. Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức
cạnh tranh với các hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông
nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị, phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên
một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác
tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị
suy thoái, giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài
nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác.
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng
và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ
thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp
phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông
nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy
điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước

- Indonexia: ngay từ kế hoạch 5 năm 1969 - 1974, việc di dân đã
thành công với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới, ở đó mỗi hộ di cư đều
được trợ cấp bởi Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một
căn nhà 2 buồng, 0,5 ha đất thổ cư và 2 ha đất canh tác (1 ha cây lâu năm
và 1 ha cây hàng năm), một năm lương thực khi đến khu định cư mới.
Được chăm sóc y tế, giáo dục, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, vay đầu
tư cho cây nông nghiệp, khi đến kỳ thu hoạch mới trả nợ. Hiện nay ở
Indonexia có 80.000 - 100.000 hộ đến các vùng kinh tế mới, chi phí bình
quân/hộ từ 5.000 - 7.000 USD.
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số địa phương
trong nước
- Ninh Bình: hội nông dân tỉnh Ninh Bình đang thực hiện nhiều phương
thức giúp người nông dân phát triển kinh tế hộ: hỗ trợ vốn cho nông dân
thông qua quỹ hỗ trợ nông dân của các cấp hội, phối hợp với Ngân hàng chính
sách xã hội, Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn giúp cho hộ
nông dân vay vốn chăn nuôi, trồng trọt và phát triển sản xuất.
Hội nông dân các cấp trong tỉnh đã lập được 848 “tổ tiết kiệm” để thực
hiện việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn đến với từng nông dân được công
bằng và hiệu quả hơn. Những “tổ tiết kiệm” này sẽ cho các hộ nông dân trong
thôn, xóm vay để phát triển kinh tế theo hình thức quay vòng vốn, đến nay đã
có trên 40 nghìn hộ nông dân được hỗ trợ vay 340 tỷ đồng

14
Hội nông dân tỉnh rất chú trọng tới việc mở các lớp tập huấn, chuyển
giao khoa học kỹ thuật giúp bà con có kiến thức và phương pháp để sử dụng
nguồn vốn có hiệu quả
- Thái Nguyên: trong những năm qua, với sự nỗ lực của đảng bộ,
chính quyền và nhân dân địa phương, nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên
đã có những bước tiến dài và chuyển biến toàn diện. Trước xu thế hội nhập,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên tiếp tục

kinh nghiệm rút ra
1.3.1. Xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau tuy
nhiên dưới góc độ kinh tế hàng hóa thì kinh tế hộ phát triển theo ba xu hướng
chính như sau:
Xu hướng thứ nhất: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhưng
không đủ tiêu dùng họ không có khả năng tái sản xuất kinh doanh nhưng
không đủ tiêu dùng, họ không có khả năng tái sản xuất giản đơn. Sự phát triển
của nhóm hộ này theo hai xu hướng có thể hộ sẽ trở thành lao động làm thuê
hoặc hộ sẽ quay lại cuộc sống sinh tồn.
Xu hương thứ hai: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh chỉ đủ tiêu
dùng lượng sản phẩm để bán của họ là không nhiều hoặc không đáng kể, sự
phát triển của họ có thể trở thành nhóm hộ sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên để
làm được như vậy cần có sự hỗ trợ hợp tác từ bên ngoài.
Xu hướng thứ ba: Những hộ gia đình sản xuất hàng hóa sản phẩm của
họ để bán họ có thể có những lợi thế về đất đai, lao động, vốn, lợi thế về lưu
thông hàng hóa hay khả năng tiếp cận khoa học [1].
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông
dân
ở Việt Nam nói chung và xã Quất Lưu nói riêng
 Đối với Việt Nam
Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
kinh tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng
đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân. Có như vậy các hộ nông dân
mới yên tâm sản xuất và tập trung đầu tư trên đất đai được giao sử dụng lâu
dài của mình. Từ đó diện mạo của kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi
một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng

Trích đoạn Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông Phương pháp thu thập thu thập số liệu Giải pháp về đất đai Giải pháp về nguồn nhân lực Đối với hộ nông dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status