luận văn đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay MO ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Trong sản xuất
đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được. Trong đời sống xã hội đất đai
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.

kết với lao động, năng lực và sức sản xuất được giải phóng, SXNN phát triển một cách
nhanh chóng. Vì vậy, trong một thời gian ngắn, sau khi đất sản xuất được giao đến hộ gia
đình, năng suất và sản lượng các loại cây trồng hàng năm của tỉnh Vĩnh Phúc tăng liên tục.
Theo số liệu của Cục Thống kê Vĩnh Phúc cho thấy: “Sản lượng lương thực của tỉnh năm
1992 khi chưa thực hiện Nghị định 64/CP đạt 288.942 tấn, nhưng chỉ sau một năm giao
ruộng đến hộ thì sản lượng lương thực của tỉnh năm 1994 đã đạt 294.472 tấn, năm 1995
đạt 329.782 tấn, tăng 40.840 tấn so với năm 1992” [9, tr.99]. Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng,
kinh tế khu vực nông thôn dần được hoàn thiện, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi
mới, đời sống của nhân dân ngày càng ổn định và được cải thiện. Có được những thành
tựu đó là nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc giao đất sản xuất đến
hộ gia đình cá nhân ổn định lâu dài và chủ trương này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và đi
vào cuộc sống một cách thiết thực.
Vì vậy có thể khẳng định đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
trong việc giao đất SXNN đến hộ gia đình, cá nhân là hết sức phù hợp với điều kiện thực
tiễn ở Việt Nam từ năm 1993 nói chung, cũng như tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đổi mới và phát triển thì việc giao đất cho hộ
nông dân theo tinh thần Nghị định 64/NĐ- CP của Chính phủ trên cả nước cũng như địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu
của tiến trình CNH, HĐH đất nước nói chung và NN, nông thôn nói riêng.
Thực tế hiện nay ruộng đất còn quá manh mún, nhỏ lẻ, phân tán tồn tại đã khá lâu.
Nguyên nhân chính là do trước đây nhận thức của việc chia ruộng mang hình thức cào
bằng. Hộ nông dân có ruộng được chia ở nhiều xứ đồng, hộ nào cũng có ruộng theo kiểu
có tốt - có xấu, có gần - có xa, có cao - có thấp, dẫn đến việc canh tác trong mỗi hộ và từng
địa bàn bị phân tán, khó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó thực hiện cơ giới hoá vào sản xuất. Hơn nữa do ruộng đất manh mún, nông dân vẫn còn tư tưởng tiểu nông, sản xuất
mang tính tự do, thiếu sự gắn kết với nhau trong quá trình sản xuất nên sản phẩm sản xuất
ra không trở thành hàng hoá, chất lượng kém, số lượng không đủ lớn, không đủ sức cạnh
tranh trên thị trường. Những yếu kém, tồn tại trên đã làm cho hiệu quả sử dụng đất không

triển hàng hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của
nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
- Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp, nông thôn trên con đường công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, dân chủ hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam (1998), Phát triển nông thôn theo hướng CNH-
HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Hồng Vinh (chủ biên), (1998), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Phương Thị Tiến (1999), Đổi mới Quản lý kinh tế Nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- PGS,TS Nguyễn Đình Kháng - TS Nguyễn Văn Phúc (2000), Một số vấn đề lý
luận của Các Mác và Lênin về địa tô ruộng đất, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Trần Tú Cường (2006), Tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà nước trong
quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học KTQD
Hà Nội.
- PGS, TS Nguyễn Đình Kháng (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện
chính sách đất đai ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội.
- GS, TS Phùng Hữu Phú - Tiến sỹ Nguyễn Viết Thông - Tiến sỹ Bùi Văn Hưng
(2008), Vấn đề nông nghiệp - nông dân- nông thôn- kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm
Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Các công trình nêu trên nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đất đai, quản lý
đất đai, xu hướng biến động của các quan hệ ruộng đất trong kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, các chính sách về ruộng đất và quyền lợi của người dân…Đồng thời các
công trình nêu trên cũng đề xuất phương hướng và giải pháp để giải quyết các quan hệ ruộng đất trong SXNN nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên bàn về vấn đề DĐ, ĐT đất nông

trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ cấu phân bố đất đai, xu thế vận động biến đổi của quỹ đất
SXNN sau khi đã giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ từ 15.10.1993 đến
nay và sự cần thiết phải DĐ, ĐT ruộng đất.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, các văn
kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản pháp luật đất đai, các Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các chính
sách giải pháp của HĐND - UBND tỉnh, ngành Tài nguyên & Môi trường, ngành Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc.
Đồng thời luận văn có sự tham khảo, lựa chọn, kế thừa kết quả nghiên cứu của các
công trình khoa học đã công bố, các bài viết trên tạp chí, báo, tài liệu có liên quan của các
tác giả, các nhà khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cơ bản của kinh tế chính trị. Đồng thời
sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, một số số liệu và bảng tổng hợp số liệu
để minh hoạ.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá và luận giải sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết của
việc DĐ, ĐT đất nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Đánh giá thực trạng quá trình dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc
những năm qua dưới góc độ kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân. - Trình bày quan điểm và những giải pháp cơ bản để thực hiện DĐ, ĐT đất NN ở
Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và CNH, HĐH nông nghiệp, nông
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỒN ĐIỀN,
ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1. ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỐI
VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp
Đất đai nói chung là tài sản vô cùng quý giá, là nguồn lực cực kỳ quan trọng của
mỗi quốc gia. Đối với mỗi quốc gia đất đai là lãnh thổ chủ quyền được xác định bằng
đường biên giới. Đối với sản xuất, đất đai không chỉ là mặt bằng để xây dựng nhà xưởng,
máy móc, là địa bàn tổ chức sản xuất kinh doanh. Trong SXNN thì đất đai còn là môi
trường sống của cây trồng, vật nuôi, đặc biệt hơn trong SXNN đất đai còn là TLSX không
gì thay thế được, đồng thời đất đai còn là đối tượng của lao động. Và ngày nay trong nền
kinh tế thị trường thì đất đai được xem như một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất.
Còn đối với con người, thì đất đai không chỉ là nơi sinh tồn mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt
động của các cộng đồng dân cư.
Theo Luật Đất đai 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày
14.7.1993 đã ghi rõ:
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập,

thực,v.v…
1.1.2 Đặc điểm của đất nông nghiệp
Cũng như các loại đất khác nói chung và đất NN nói riêng chúng đều là sản phẩm
của tự nhiên. Ban đầu chúng chỉ là sản phẩm sơ khai, trải qua quá trình chinh phục con
người đã tác động vào đất đai thông qua lao động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của con
người. Theo thời gian sức lao động của con người đã được kết tinh vào đất đai trong quá trình
cải tạo, khai thác, sử dụng do đó đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Bởi vậy đất NN có những
đặc điểm sau: Thứ nhất: Đất NN là sản phẩm của tự nhiên có sự kết tinh giá trị sức lao động của
con người vào trong đó.
Đất NN nói riêng, đất đai nói chung được hình thành qua quá trình phong hoá các
loại đất đá, dưới tác động của các quy luật tự nhiên như: nhiệt độ, không khí, độ ẩm, ánh
sáng, động đất, hoạt động núi lửa, mưa bão, các phản ứng lý học, hoá học v.v… Trải qua
quá trình phong hoá và các vòng tuần hoàn biến đổi khác nhau dần được “ổn định” đất đai
được hình thành dưới nhiều dạng đồi, núi, đầm lầy, suối, sông, hồ, biển, đất đồng bằng, cao
nguyên…Trên cơ sở đó mà sự sống phát triển ngày càng đa dạng và phong phú.
Chỉ từ khi loài người xuất hiện, trải qua quá trình lịch sử lâu dài, gian khổ con
người đã cải tạo, chinh phục tự nhiên như quai đê, lấn biển, xây dựng các công trình thuỷ
lợi tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn, bồi bổ đất đai…Đất đai ngày càng trở lên màu mỡ và trở
thành môi trường sống ngày càng phù hợp đối với con người và các loài sinh vật. Không
những thế ở nhiều quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam con người đã từng phải hy sinh
rất nhiều xương, máu, trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ
từng tấc đất của tổ quốc. Vì vậy có thể nói đây là đặc điểm chung nhất, bao trùm nhất của
đất đai nói chung và đất NN nói riêng.
Thứ hai: Đất NN không đồng nhất về mặt chất lượng
Đất NN được phân bổ ở nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau về vị trí địa lý, về khí hậu,
và các điều kiện tự nhiên khác như chất đất, độ dày tầng canh tác, độ dốc, tính chất lý,
hoá… Vì vậy người ta phân ra các vùng đất ôn đới, nhiệt đới, cao nguyên, đồng bằng, đất

+ Đất NN là TLSX đặc biệt
Khác biệt với các ngành sản xuất khác, sản phẩm của NN là các loại cây, con, củ,
quả, lá v.v…Các loại sản phẩm ấy muốn trở thành sản phẩm hữu dụng thì nó phải trải qua
một quá trình sinh trưởng và phát triển. Sự sinh trưởng đó điều trước tiên phải nhờ vào đất
đai, đồng thời phải có sự tác động của con người thông qua lao động. Quá trình SXNN hay
nói cách khác là thời gian sinh trưởng của cây trồng vật nuôi phải trải qua nhiều khâu và
một khoảng thời gian nhất định. Nếu các khâu như chuẩn bị giống, phân bón, thuốc trừ
sâu, lao động, công cụ lao động…rất đầy đủ và sẵn sàng nhưng không có đất NN để gieo
trồng thì mọi thứ đó đều trở lên vô nghĩa. Vì vậy tham gia vào quá trình SXNN yếu tố đầu
tiên là phải có mặt bằng đất NN, khi đó đất NN tham gia với tư cách là tư liệu sản xuất. Cây trồng có thể thay thế từ cây này sang cây khác nếu nó phù hợp hoặc phân bón, thuốc
trừ sâu. Công cụ lao động có thể thay thế nhưng đất đai thì không thể thay thế được. Đối
với SXNN đất đai là TLSX đặc biệt ở chỗ đó.
Đất NN là TLSX đặc biệt còn được thể hiện ở chỗ: TLSX của các ngành khác được
tạo ra ngày càng nhiều, và còn có thể thay thế được trong quá trình sản xuất. Nhưng đất
SXNN là sản phẩm của tự nhiên không tự tạo ra được và không thay thế được trong quá
trình sản xuất. Khi sử dụng, đất sản xuất có thể còn được cải tạo, bồi bổ để đất đai được tốt
hơn, ở những chu kỳ sản xuất sau làm tăng thêm hiệu quả. Bên cạnh đó cũng có thể xẩy ra
tình trạng chủ sử dụng đất chỉ biết khai thác vắt kiệt đất đai làm cho đất đai ngày càng bị
cằn cỗi và nghèo đi. Do đó ứng xử với đất đai trong quá trình sản xuất chúng ta cần phải
tôn trọng các quy luật tự nhiên, biết tiết kiệm, giữ gìn, bồi bổ đất đai, nâng cao hệ số sử
dụng đất, khai thác tốt và nâng cao hiệu quả tiềm năng đất đai.
Điểm đặc biệt nữa của đất NN không giống các TLSX khác là sau thời gian sử dụng
sẽ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Còn đất NN sau một thời gian hay một chu
kỳ sản xuất nếu được sử dụng khoa học hợp lý, được tiếp tục bồi bổ thì đất đai không
những còn nguyên mà độ phì nhiêu mầu mỡ của nó được tăng lên, theo đó sức sản xuất
của nó cũng được nhân lên.
Đất NN là TLSX không thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác như các

biện pháp chế ngự thiên nhiên, khắc phục thời tiết khắc nghiệt, nhằm mục đích khai thác
có hiệu quả tiềm năng của đất đai. Quá trình tác động đó chính là những tác động trực tiếp
của con người vào đối tượng lao động là đất đai.
1.1.3. Vai trò của đất nông nghiệp đối với phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hoá
+Đất NN là TLSX đặc biệt duy nhất, là nơi sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi
sống con người và xã hội.
Từ xa xưa, ông, cha ta có câu “phi nông bất ổn”, còn ở Trung Quốc dưới thời Xuân
Thu - Chiến Quốc, Khổng Tử đã nói rằng “Dân dĩ thực vi thiên” (Dân lấy ăn làm trời).
Con người chúng ta muốn tồn tại phải có cái ăn, muốn có cái ăn không thể chỉ dựa vào
những sản vật sẵn có trong tự nhiên do thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất ra của cải vật chất là lương thực thực phẩm để nuôi sống con người và đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Và nơi duy nhất để sản xuất ra của cải vật chất chính là đất NN.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội đến nay đã trải qua các thời kỳ khác nhau
từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá, từ sản xuất hàng hoá
nhỏ lên sản xuất hàng hoá có quy mô lớn và hiện đại, tất thảy trong sản xuất NN thì bao
giờ đất đai cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Xã hội càng phát triển thì vai trò của
đó của đất NN cũng phát triển theo.
+ Đất NN là môi trường sống, môi trường không gian để SXNN.
SXNN có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên. Cây phải sống
trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời, hút nước từ trong đất, cá phải sống dưới nước
sông, hồ, biển; gia súc, gia cầm phải có chuồng trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có
thức ăn, mà thức ăn lại chính là các động thực vật được sản xuất từ trong NN. Tất cả
những yếu tố đó chính là môi trường sống, là không gian để sản xuất. Muốn sản xuất phát
triển thì chúng ta phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự
nhiên, không chỉ biết khai thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ đất đai, tạo lập môi trường
sống tốt nhất cho cây trồng vật nuôi.
+ Đất NN là TLSX chủ yếu để sản xuất hàng hoá.

sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển quyền sử
dụng đất; mở rộng cơ hội cho các công dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
được dễ dàng có đất và sử dụng đất lâu dài cho sản xuất kinh doanh”. “Tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình tích tụ và tập trung đất canh tác trong một số vùng có điều kiện” [30,
tr.324].
Nghiên cứu Luật Đất đai năm 2003 cho thấy: Tại Điều 105 Mục 1 quy định:
“Quyền của người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;
Điều 106 quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thuê lại, thừa kế, tặng,
cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”; Điều
113 Mục 7 quy định: “Thế chấp, bảo lãnh, bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng
được phép hoạt động tại Việt Nam, tại các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản
xuất kinh doanh” [30, tr.120-121, 130]. Đối với Luật Đầu tư số 59/2005/QH tại Điều 3 Mục 1 có nêu: “Đầu tư là việc nhà
đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành
các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan” và Mục 7 có nêu: “ Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực
hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”[31, tr.2].
Như vậy có thể nói đất SXNN có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để tham gia vào thị trường bất
động sản, thị trường vốn trong quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế đã có rất nhiều mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong NN rất đa
dạng và phong phú như:
- Người nông dân góp cổ phần trong doanh nghiệp NN bằng quỹ đất và tham gia
lao động ngay tại doanh nghiệp NN đó;
- Cá nhân hoặc tổ chức có đất NN do thiếu vốn sản xuất có thể thế chấp quyền sử
dụng đất tại các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng nhân dân để vay vốn sản xuất;
- Hộ nông dân có đất SXNN nhưng do thiếu kinh nghiệm, thiếu lao động thì dùng
quỹ đất liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác không có đất hoặc thiếu đất để
sản xuất…

điều chỉnh quan hệ ruộng đất nhằm thực hiện song song hai nhiệm vụ hàng đầu là đánh
đuổi thực dân Pháp và lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế.
Đến giai đoạn 1954-1975, đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt, cách mạng Việt Nam
phải đồng thời làm 2 nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Theo đó, quản lý đất đai của Việt Nam chịu sự
chi phối của hoàn cảnh này. Ở miền Bắc, quản lý đất đai dựa trên quan điểm đảm bảo
quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ở miền Nam quản lý đất đai lại
nằm trong tay chế độ miền Nam cộng hoà.
Bởi tính chất đặc thù của giai đoạn này như vậy nên luận văn chỉ đề cập một cách
khái quát công tác quản lý đất đai ở miền Bắc.
Những năm đầu sau 1954, chính sách đất đai của nước ta chủ yếu tập trung giải
quyết nhiệm vụ “người cày có ruộng”. Các văn bản được ban hành nhằm mục đích nhanh
chóng động viên toàn xã hội hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển sản xuất nâng cao
đời sống nông dân. Trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, giai đoạn này, quản lý đất đai tập trung
vào thống kê ruộng đất, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất làm cơ sở cho công tác
quản lý đất đai dần dần đi vào nề nếp. Đặc biệt văn bản về Hợp tác hoá NN đã có tác động
mạnh mẽ trong việc chuyển sở hữu đất NN từ tư nhân, nhỏ lẻ của người lao động, sang sở
hữu tập thể thông qua các quan hệ trong mô hình HTX NN, từ HTX bậc thấp cho đến HTX
NN bậc cao. Mô hình quản lý và sử dụng ruộng đất chủ yếu được thông qua HTX NN dưới
hình thức sở hữu tập thể. Hình thức quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn này như vậy là
phù hợp, điều đó đã góp phần rất quan trọng cho việc huy động “Thóc không thiếu một
cân, quân không thiếu một người”. “Tất cả cho tiền tuyến” “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”
vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Giai đoạn hợp tác hoá trước năm 1975 quản lý và quan hệ đất đai theo sở hữu tập
thể là phù hợp với điều kiện đất nước còn chiến tranh. Từ sau năm 1975 đất nước được
thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH, lẽ ra chúng ta không nên duy trì, áp dụng kiểu
quản lý và sử dụng đất đai như thời kỳ đất nước còn chiến tranh. Nhưng trong thời gian

mới đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp cánh mạng của Việt nam. Với chủ trương đổi
mới Đảng ta đã mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật những yếu kém khuyết điểm. Văn kiện
Đại hội VI đã chỉ rõ: “Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt, lại bị sử dụng
lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trường sinh thái bị phá hoại”
[16, tr.16]. Theo chủ trương đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng tới công tác quản
lý và sử dụng đất đai - nguồn lực quan trọng của đất nước. Các văn bản luật pháp về đất
đai trong những năm tiếp theo trước khi ban hành được xem xét một cách khách quan kỹ
càng, sát với thực tiễn, phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và thực tiễn nhu cầu phát triển của đất nước.
Trên tinh thần đổi mới, một loạt các văn bản quan trọng đã được ra đời. Luật Đất
đai năm 1987 được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày
5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế NN (gọi tắt là khoán 10). Nội dung
của Khoán 10 yêu cầu:
…Thực sự giải phóng sức sản xuất; gắn sắp xếp, tổ chức sản xuất với cải
tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật và đưa kỹ thuật tiến bộ
vào sản xuất nông nghiệp. Phát huy được mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, các vùng, các ngành; chuyển nền nông nghiệp nước ta còn mang nặng
tính chất tự cung, tự cấp ở nhiều vùng sang sản xuất hàng hoá… ;…Tiếp tục
hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên, đến
người lao động và đến tổ, đội sản xuất tuỳ theo điều kiện của ngành nghề cụ thể
ở từng nơi, gắn kế hoạch sản xuất với kế hoạch phân phối từ đầu. Trong trồng
trọt về cơ bản khoán đến hộ hoặc nhóm hộ xã viên…; …Trong trồng trọt, phải
điều chỉnh diện tích giao khoán, khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh
mún hiện nay, đảm bảo cho người nhận khoán canh tác trên diện tích có quy mô
thích hợp và ổn định trong khoảng 25 năm…, Nhằm giải quyết nhu cầu cơ bản
về lương thực, thực phẩm, tăng thêm nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá
cho tiêu dùng và xuất khẩu, phục vụ tốt ba chương trình kinh tế lớn; xây dựng
và bảo vệ môi trường sinh thái… [5].

Tại điều 1 bản quy định ghi rõ:
“Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu
dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Toàn bộ đất nông nghiệp đang được sử dụng thì giao hết cho hộ gia đình, cá nhân
sản xuất nông nghiệp, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của xã
theo Quy định này”
Tại Điều 3, điểm 3 còn nêu rõ: “Đất giao cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định
này là giao chính thức và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài”
Và điều 4 có ghi: “Thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi
trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm” [8].
Những nội dung tinh thần của Nghị định 64/CP của Chính phủ và các văn bản được
đề cập trên đây có thể nói là những bước tiến dài trong công tác quản lý sử dụng đất đai
của nước ta, đặc biệt là đối với đất NN. Đồng thời có thể khẳng định đến giai đoạn này,
SXNN đã được “cởi trói”, sức sản xuất được giải phóng, kinh tế hộ không bị hoà tan trong
kinh tế HTX như trước đây, lao động thật sự đã được gắn kết với đất đai. Tiềm năng đất
đai, lao động trong NN được khai thác có hiệu quả, nông dân tin tưởng vào đường lối đổi
mới đúng đắn của Đảng, hăng hái lao động sản xuất. Chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế đã được phục hồi, NN đã có tiến bộ vượt bậc, đời sống của nhân dân được cải thiện, bước
đầu SXNN đã có tích luỹ cho nội bộ nền kinh tế.
Tiếp sau Luật Đất đai 1993, Nghị định 64/CP của Chính phủ, Nhà nước đã ban
hành Luật Đất đai sửa đổi 1998, Luật Đất đai sửa đổi năm 2001, Luật Đất đai sửa đổi năm
2003, Luật Đất đai sửa đổi năm 2009 (sắp ban hành), cùng nhiều văn bản luật khác có liên
quan và các văn bản dưới luật cụ thể hoá các quy định một cách chặt chẽ nhằm điều chỉnh
tốt những mối quan hệ nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
Giao ruộng đến hộ đã tạo ra một giai đoạn phát triển mới mà cốt lõi của sự phát
triển ấy chính là nguồn lực đất đai và lao động đã được phát huy, khai thác có hiệu quả.
Chỉ trong thời gian ngắn, SXNN của Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng đã có sự
tăng trưởng mạnh, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất lương thực. Từ một quốc gia thường xuyên

nhân thời điểm giao ruộng nợ sản phẩm HTX NN bị tập thể giữ lại tiêu chuẩn ruộng giao
cho HTX khoán thu sản phẩm để khấu trừ dần khi hết nợ đối với tập thể sẽ giao trả tiêu
chuẩn ruộng đã giữ trước đây. Tuy nhiên, do yếu kém trong công tác quản lý nên cho đến
nay tồn tại này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, gây nhiều tiềm ẩn mất ổn định trong
nông thôn;
- Do ruộng đất manh mún nên việc đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất rất khó
khăn, bởi một cánh đồng có hàng trăm hộ nông dân có đất canh tác. Các hộ lại khác nhau về
trình độ nhận thức, khả năng tiềm lực đầu tư và họ lại tự do canh tác các cây trồng khác nhau
nên rất khó thuyết phục nhằm tạo sự thống nhất để áp dụng các tiến bộ khoa học. Vì vậy, tiến bộ
khoa học đưa vào sản xuất còn chậm và lúng túng, không đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng
hoá,v.v
- Phương thức canh tác mang nặng thủ công, tỷ lệ cơ giới hoá thấp; Năng suất lao
động và hiệu quả sản xuất thấp; công nghệ chế biến nông sản sau thu hoạch không đáp ứng
được sự đòi hỏi của quá trình sản xuất;
- Cơ cấu sản xuất và lao động trong nội ngành NN còn nhiều bất cập, phát triển
không ổn định bền vững;
- Việc chuyển nhượng đất đai giữa các nông hộ còn sơ cứng, thiếu linh hoạt dẫn
đến tích tụ ruộng đất bị kìm hãm;

Trích đoạn NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN Dồn điền, đổi thửa phải đảm bảo hài hoà về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia Phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để nhân dân hiểu được lợi ích của dồn điền, đổi thửa và tự giác thực hiện Sau dồn điền, đổi thửa chỉ còn 1-3 thửa/hộ, đồng thời phải gắn với quy hoạch lại đồng ruộng, phân vùng sản xuất, sắp xếp lại ngành nghề và lao động trong Xây dựng chủ trương chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status