LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát triển thị trường sức lao động ở
tỉnh Bình Dương hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển thị trường sức
lao động là một tất yếu khách quan vì lao động là hoạt động cơ bản nhất của con người, là
nguồn lực to lớn nhất góp phần tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ:
Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn
kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học
nghề, tự tạo và tìm việc làm. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút
nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc
biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp. Hoàn
thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế
nhà nước và bộ máy công quyền. Đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm;
phát triển hệ thống thông tin về thị trường sức lao động trong nước và thế giới.
Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ

Minh.
- Bùi Thị Xuyến (2002): Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của Mác vào thực
tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Vương Thanh Tú (2004): Thị trường lao động trong thời ký quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Phạm Đức Chính (2005): Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Đình Hương (2006): Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Phúc (2008): Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Ngọc Bình (2008): Thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh
dưới tác động của đầu tư trưc tiếp nước ngoài, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

- Lê Thu Hường (2008): Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác với việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu đăng trên nhiều tạp chí viết về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu này đã tiếp cận vấn đề của thị trường sức lao động ở
nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào phân tích đánh giá thị trường sức lao động. Tuy
nhiên thị trường sức lao động ở nước ta còn nhiều tồn tại, khó khăn, còn nhiều diễn biến
phức tạp chưa giải quyết được thì việc nghiên cứu, làm rõ về lý luận và thực tiễn thị trường
sức lao động của Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng trong giai đoạn hiện
nay phải cần được tiến hành thường xuyên, để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp thúc đẩy
thị trường này hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững.
Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu về thị trường sức lao động là điều cần thiết, có ý nghĩa
cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp như thống kê, phân tích, so
sánh, tổng hợp…
6. Những đóng góp của luận văn
- Tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến thị trường sức lao động.
- Khẳng định phát triển thị trường sức lao động trong giai đoạn hiện nay là tất yếu
khách quan, là chiến lược quan trọng, lâu dài trong phát triển kinh tế.
- Làm tài liệu tham khảo cho UBND tỉnh Bình Dương trong việc quản lý và phát
triển thị trường sức lao động của tỉnh trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG
SỨC LAO ĐỘNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1. HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
1.1.1. Sức lao động và hàng hóa sức lao động
1.1.1.1. Sức lao động
Quá trình lao động sản xuất là sự kết hợp của ba yếu tố: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động, mỗi yếu tố đóng vai trò nhất định trong quá trình sản xuất, trong
đó sức lao động là yếu tố quyết định. Lao động chính là quá trình đang vận dụng sức lao
động. Theo C.Mác: "Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể thể
chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống,và được người
đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [20, tr.251].

dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho
một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến
trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong
bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng trong đầu óc của mình rồi [20,
tr.266-267].
Quá trình lao động chỉ con người mới có, con người không chỉ làm biến đổi hình
thái những cái do tự nhiên cung cấp; trong những cái đó, con người cũng đồng thời thực
hiện cái mục đích tự giác của mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của
họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó.
1.1.1.2. Hàng hóa sức lao động
Sức lao động là khả năng lao động tiềm ẩn bên trong người lao động, còn lao động
là một quá trình họat động nhằm một mục đích nhất định, là sự kết hợp giữa sức lao động
và tư liệu sản xuất.
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của quá trình sản xuất.
Nhưng nó chỉ trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện sau đây:

Một là, người có sức lao động phải được tự do về thân thể được pháp luật bảo vệ.
nghĩa là người có sức lao động có quyền sở hữu khả năng lao động của mình, có thể mang
ra thị trường bán như một hàng hoá đặc biệt. C.Mác chỉ rõ:
Nhưng muốn cho người chủ tiền tìm được trên thị trường một sức lao
động với tư cách là hàng hoá thì một số những điều kiện khác phải được thực
hiện. Tự bản thân nó, trao đổi hàng hóa không bao gồm những quan hệ lệ thuộc
nào khác ngoài quan hệ lệ thuộc toát ra từ bản chất của chính nó. Với tiền đề ấy
thì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa khi
nó được đưa ra thị trường và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra thị trường,
hay ngay được chính người chủ của nó, tức bản thân người có sức lao động đó,
đem bán. Muốn cho người chủ sức lao động thấy có thẻ bán được nó với tư
cách là hàng hóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy,
do đó, người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của
mình. Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với

trường lao động quốc tế.
- Tính không đồng nhất của hàng hoá trên thị trường lao động
Hàng hoá trên thị trường lao động là một loại hàng hoá đặc biệt đó là "sức lao
động". Trong khi các loại hàng hóa thông thường khácđược chuẩn hoá ở mức cao thì hàng
hoá sức lao động hoàn toàn không giống nhau. Mỗi người lao động là một tập hợp của các
năng lực bẩm sinh cộng với các kỹ năng chuyên biệt tiếp thu được từ giáo dục và đào tạo.
Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ, tuổi tác, nguồn
gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động cơ làm việc… chính vì thế, sức lao động được những
người này đem ra trao đổi trên thị trường cũng hoàn toàn không đồng nhất với nhau.
- Vị thế yếu hơn của người lao động trong các đàm phán trên thị trường lao động
Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên
thị trường lao động, cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao
động. Xuất phát điểm của thực tiễn này là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm
việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có. Hơn nữa người lao động đi tìm
việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có
khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn. Chính vì thế trong quá trình đàm phán hay giao dịch,

khi thoả thuận các điều khoản hợp đồng, người sử dụng lao động thường có vị trí quyết
định.
Việc sức lao động trở thành hàng hóa đánh dấu một bước ngoặt cách mạng trong
phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là bước tiến lịch sử so với chế độ
nô lệ và phong kiến. Sự cưỡng bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế đã được thay thế
bằng việc ký kết hợp đồng mua và bán giữa hai người bình đẳng về hình thức: người sở
hữu sức lao động và người sở hữu tư liệu sản xuất. Sự bình đẳng này che đậy bản chất bóc
lột của chủ nghĩa tư bản, chế độ bóc lột được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế
giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột.
Khi trở thành hàng hóa, sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử
dụng.
Giá trị của hàng hoá sức lao động được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng

người thay thế đó, tức là cho con cái của những người lao động, khiến cho cái giống những
người chủ hàng hoá đặc biệt đó được duy trì vĩnh cửu ở trên thị trường hàng hoá” [20,
tr.257].
Mặt khác, muốn cho người lao động có được kiến thức và những thói quen khéo léo
trong một ngành lao động nhất định, nghĩa là muốn cho nó trở thành một sức lao động phát
triển và đặc thù thì họ cần phải được đào tạo, mà muốn thế phải chi phí một số tiền nhiều
hay ít để làm gia tăng giá trị sức lao động. Những chi phí đào tạo ấy khác nhau tuỳ thuộc
vào tính chất phức tạp của sức lao động. “Do đó, những chi phí học tập ấy - những chi phí
hoàn toàn không đáng kể đối với sức lao động bình thường - đều gia nhập vào tổng số
những giá trị đựơc chi phí để sản xuất ra sức lao động” [20, tr.257 - 258].
Giá trị của mọi hàng hoá thông thường có xu hướng càng giảm càng tốt nhưng
giá trị hàng hóa sức lao động lại có giới hạn thấp nhất của nó, đó chính là “giá trị của
cái khối lượng hàng hóa thì hàng ngày thiếu nó thì kẻ mang sức lao động, chính là con
người, sẽ không thể khôi phục lại quá trình sống của mình, tức là tạo thành giá trị của
những tư liệu sinh hoạt không thể thiếu được về mặt sinh lý” [20, tr.259]. Vượt qua
giới hạn này, người lao động sẽ rơi vào trạng thái sống lay lắt mà thôi, việc sử dụng sức
lao động của người này sẽ bị ảnh hưởng và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
khó phát huy tốt được.

Giá trị hàng hoá sức lao động có hình thức biểu hiện là tiền công. Bản chất của tiền
công là giá cả của hàng hoá sức lao động, nó được tính trên cơ sở hao phí lao động cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng đáp ứng nhu cầu của người mua là
sử dụng vào trong quá trình sản xuất. Khác với hàng hóa thông thường, khi được sử dụng,
sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. “Nhưng cái có ý
nghĩa quyết định là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó là cái đặc tính của nó, là
cái nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản
thân nó. Đó là sự phục vụ đặc biệt mà nhà tư bản mong chờ” [20, tr.289-290].
Người bán sức lao động thực hiện giá trị trao đổi của sức lao động và nhượng lại
giá trị sử dụng của sức lao động đó. Anh ta không thể nhận được giá trị trao đổi mà lại

Thị trường lao động là một loại thị trường cơ bản trong nền kinh tế thị trường. Đây
là loại thị trường của một loại hàng hóa đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến con người.
Nghiên cứu lý luận về thị trường lao động được bắt đầu từ những khái niệm, bao gồm
những định nghĩa và lý giải về bản chất hiện tượng, sự vật và những biểu hiện của nó trong
những bối cảnh khác nhau, đặc biệt nhấn mạnh đối tượng thị trường lao động.
Có rất nhiều quan niệm về thị trường sức lao động, mỗi quan niệm nhấn mạnh một
phương diện nào đó của thị trường.
- Theo A.Smith: “Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao
động (hoặc dịch vụ lao động) giữa một bên là người mua sức lao động và người bán sức
lao động” [34, tr.11-12], khái niệm này nhấn mạnh đối tượng trao đổi trên thị trường lao
động là sức lao động chứ không phải người lao động, ở đây người lao động là chủ sở hữu
sức lao động của mình, họ chỉ đem bán sức lao động mà không phải bán bản thân người
lao động.
- Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO đưa ra định nghĩa: “Thị trường lao động là thị
trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình thỏa thuận để
xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” [34, tr.12]. Khái
niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm và tiền
công.

- Theo các nhà khoa học Mỹ thì: “Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao
động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm được gọi là thị trường lao động" [35,
tr.21]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến quan hệ điều tiết giải quyết việc làm.
- Theo các nhà khoa học kinh tế Nga thì: "Thị trường lao động được hiểu như một
hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong đó có cả luật pháp), đảm
bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động" [35, tr.21]. Quan niệm này cũng
nhấn mạnh quan hệ giải quyết việc làm cho lao động làm thuê.
- Theo "Đại từ điển kinh tế thị trường” (xuất bản năm 1998) thì: "Thị trường lao
động là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử
dụng lao động (cầu lao động)” [9, tr.10]. Quan niệm này nhấn mạnh mối quan hệ trên thị
trường lao động là quan hệ giữa cung và cầu lao động.

Thị trường sức lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó
diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là
người có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở các
mối quan hệ lao động như tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã
hội… thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng [4, tr.39].
Quan niệm này càng khẳng định rõ hơn về thị trường sức lao động "thị trường sức
lao động là một hợp phần của kinh tế thị trường. Cũng như bất kỳ một hình thái thị trường
nào, các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động bao gồm: người mua, người bán và hàng
hoá” [10, tr.76], nó đòi hỏi phải giải quyết tốt quan hệ giữa người và người, chủ thể của xã
hội.
Tuy nhiên, thị trường sức lao động được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường, do đó, khi tiếp cận và nghiên cứu thuật ngữ sử dụng có sự khác
nhau "thị trường lao động”, "thị trường sức lao động".
Theo Mác, dùng thuật ngữ "sức lao động” để phân tích, vạch rõ bản chất bên trong
của phương thức sản xuất tư bản và khẳng định người công nhân bán sức lao động chứ
không phải bán lao động. C.Mác cho rằng, sức lao động được hiểu là tổng hợp toàn bộ thể
lực, trí lực của con người, nó nói lên khả năng có thể lao động, là hoạt động có mục đích
của con người, là tiêu dùng sức lao động trong quá trình lao động.
Khi Mác nghiên cứu quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá tư bản chủ nghĩa,
C.Mác sử dụng thuật ngữ "thị trường sức lao động" để phân tích biểu hiện bề ngoài khi

quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra "tại sao người lao động tự do ấy đứng đối diện với
người chủ tiền trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy không làm bận tâm người chủ tiền là
người đã tìm thấy thị trường lao động với tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị
trường hàng hoá" [20, tr.253].
Vì vậy "thị trường lao động” (Labour Market) là cách gọi khác nhưng thực chất là
thị trường sức lao động, hơn nữa nếu xem xét đối tượng mua và bán trên thị trường sức lao
động là "sức lao động”, nên chính xác thì phải được gọi là "thị trường sức lao động".
Nhưng thực tế, trong các văn bản chính thống của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cũng
như ở nhiều nước phát triển và ở Việt Nam thường dùng tên gọi "thị trường lao động".

vừa chịu sự chi phối của nhân tố sinh học, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế,
tâm lý, xã hội.
+ Khác với các hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động dù đã được trao đổi
hay chưa, thì nó vẫn đòi hỏi phải được cung cấp những điều kiện vật chất và tinh thần nhất
định để tồn tại và phát triển.
+ Trong khi các hàng hoá thông thường thường đựơc chuẩn hoá ở mức cao (kiểu
dáng, trọng lượng, chất lượng…) thì hàng hoá sức lao động lại hoàn toàn không giống
nhau. Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, học vấn, thể lực, nguồn gốc, động lực, nhu cầu…
Hai là, cung của thị trường lao động có nhiều điểm khác biệt so với cung của các
thị trường khác:
- Cung của các thị trường khác chủ yếu gắn liền với sản xuất, còn cung của thị
trường lao động chịu sự chi phối trực tiếp của yếu tố dân số và không thể vượt khỏi giới
hạn. Thông thường, quy mô dân số lớn thì cung lao động sẽ cao, tốc độ tăng dân số cao và
cơ cấu dân số trẻ thì cung lao động trong tương lai sẽ tăng lên. Cung của thị trường lao
động phụ thuộc vào dân số mà biến động của dân số lại tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố: lịch
sử, phong tục, tập quán, trình độ phát triển, văn hoá…. Nhìn tổng thể, cung của thị trường
lao động luôn cao hơn cầu của thị trường này, nên luôn có tình trạng thất nghiệp.
- Trong khi số lượng cung của các thị trường khác có thể tăng giảm nhanh chóng,
đột ngột, thì cung của thị trường lao động lại không thể, vì nó phụ thuộc vào sự sinh đẻ của
con người và quá trình nuôi dạy, đào tạo, đào tạo lại người lao động.

- Trong khi, chất lượng cung của các thị trường khác chủ yếu phụ thuộc vào công
nghệ sản xuất, thì chất lượng cung của thị trường lao động lại chủ yếu phụ thuộc vào sự
nuôi dưỡng, giáo dục – đào tạo và cơ chế, chính sách sử dụng con người.
- Nếu cơ cấu cung của các thị trường khác dễ dàng thay đổi và thay đổi nhanh chóng
thì cơ cấu cung của thị trường lao động lại không dễ dàng thay đổi và phải có thời gian. Chẳng
hạn, muốn thay đổi cơ cấu ngành nghề của cung lao động trên thị trường lao động thì phải qua
một thời gian đào tạo nhất định.
Ba là, giá cả của hàng hoá sức lao động tương đối ổn định và ít có khả năng phản

+ Cung thực tế về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang
làm việc và những người thất nghiệp.
+ Cung tiềm năng về lao động: bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc, những người thất nghiệp, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không có nhu cầu làm việc.
Như vậy, cung sức lao động được hiểu là cung cấp cả thể lực và trí lực người lao
động làm thuê và người sử dụng lao động (các doanh nghiệp, công ty) trong một thời gian
nhất định với một mức tiền công xác định, nó thể hiện quan hệ một bên là người chủ sức
lao động và một bên là người chủ tư liệu sản xuất. Do đó cung sức lao động bắt đầu từ
người lao động và nó mang tính chất cá nhân nhưng mức độ, số lượng, cấu trúc cung sức
lao động thực sự được xác định ở cấp khu vực và ngành hay cụ thể hơn ở mức độ ngành
nghề và trong thị trường sức lao động khu vực.
Cung sức lao động là lực lượng lao động xã hội, là toàn bộ những người có nhu cầu
làm việc, bao gồm cả những người trong và ngoài độ tuổi lao động. Hay nói một cách khác
là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện tham gia vào quá trình tái sản xuất xã
hội. Đó là khối lượng lao động được sử dụng trong một thời gian nhất định với mức tiền công
khác nhau.
Trên góc độ quản lý và thống kê, cung sức lao động không đề cập đến lao động
dưới 15 tuổi mà chỉ đề cập đến lao động từ 15 tuổi trở lên. Cung sức lao động trên thị
trường sức lao động phụ thuộc vào các nhân tố cơ bản như: Quy mô và tốc độ tăng dân số,
tỉ lệ đủ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, chính sách nhập cư quản lý hộ tịch, hộ
khẩu, di cư lao động, chất lượng giáo dục đào tạo, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe…

Trong các nhân tố đó thì quy mô dân số sẽ quyết định số lượng sức lao động tham
gia vào thị trường và các hoạt động kinh tế. Yếu tố này tỉ lệ thuận với lượng cung sức lao
động trên thị trường sức lao động khi quy mô dân số lớn thì cung sức lao động cũng sẽ
tăng, đồng thời tốc độ tăng dân số cao thì cung sức lao động trong tương lai sẽ tăng lên và
ngược lại.
Sự tăng giảm của tiền lương, tiền công thực tế, khi giá cả sức lao động tăng thì cung
lao động sẽ có xu hướng tăng và ngược lại. Sự thay đổi điều kiện sống cũng ảnh hưởng

Cầu lao động phụ thuộc vào những yếu tố liên quan đến tạo việc làm, tăng trưởng
việc làm như:
Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm.
Hai là, sự phát triển của các ngành, các vùng, các khu vực kinh tế.
Ba là, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Bốn là, khả năng huy động đầu tư toàn xã hội.
Năm là, khả năng mở rộng thị trường trong nước và quốc tế…
Cầu về lao động bao gồm hai mặt: thứ nhất, cầu về chất lượng lao động, và thứ hai,
cầu về số lượng lao động. Xét từ giác độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động
không biến đổi, cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ sản xuất. nếu
quy mô sản xuất không đổi, cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn
xét từ giác độ chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền vốn, tri
thức… của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng sức lao động.
- Giá cả hàng hoá sức lao động
Giá cả hàng hoá sức lao động là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao
động. Trên thị trường sức lao động , giá cả được thể hiện dưới dạng tiền công. Cũng như
các loại hàng hoá khác, giá cả hàng hoá sức lao động không chỉ bị quy định bởi giá trị
hàng hoá sức lao động mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu sức lao động. Khi
cung sức lao động vượt quá cầu, giá cả sức lao động sẽ thấp hơn giá trị sức lao động. Khi
cung sức lao động không đáp ứng đủ cầu sức lao động, giá cả sức lao động sẽ tăng lên.
Mối quan hệ này có thể diễn giải một cách đơn giản qua đồ thị sau:
Đồ thị 1.1: Mối quan hệ giữa cung - cầu sức lao động Tại điểm E trên thị trường sức lao động cung = cầu, nhưng trong trường hợp này chỉ
là một sự hạn hữu hiếm có. Nhìn chung cung cầu trên thị trường sức lao động luôn mất cân
đối (cả về cơ cấu lao động, cả về chất lượng lao động - trình độ chuyên môn). Sự mất cân
đối đó tác động đến giá cả hàng hóa làm cho giá cả sức lao động tăng lên khi cầu > cung
và ngược lại. Điều này cho thấy giá cả sức lao động có tác động đến cung cầu và ngược lại
cung cầu đã tác động đến giá cả và giá cả sức lao động trở thành công cụ quan trọng để

động rất đa dạng với nhiều phân lớp khác nhau. Trong thực tế thị trường sức lao động
được phân chia thành các loại sau đây:
+ Phân theo khu vực chia ra thị trường nông thôn và thị trường thành thị.
+ Phân chia theo trình độ quản lý có thị trường sức lao động chính thức và phi
chính thức.
+ Phân chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật có thị trường sức lao động giản đơn
và thị trường sức lao động qua đào tạo, trong đó có thị trường sức lao động trình độ cao.
- Giao dịch trên thị trường sức lao động
+ Giao dịch trên thị trường sức lao động là hoạt động để nối cung cầu sức lao động.
Trong giao dịch các chủ thể người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa các chủ
thể với các tổ chúc trung gian thoả thuận về tuyển dụng và sử dụng sức lao động phù hợp
với quy định của pháp luật.
+ Các hình thức giao dịch chính thức trên thị trường là:

* Giao dịch trực tiếp: là hình thức người lao động trực tiếp gặp người sử dụng lao
động để thoả thuận về hợp đồng lao động.
* Giao dịch gián tiếp: là hình thức người lao động và người sử dụng lao động thoả
thuận về hợp đồng lao động thông qua tổ chức trung gian như thông tin quảng cáo trên các
phương tiện thông tin đại chúng, internet, website…; qua trung tâm giới thiệu việc làm;
qua hội chợ việc làm và qua các doanh nghiệp cung ứng lao động.
1.1.4. Thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Hình thành thị trường sức lao động ở Việt Nam không thể diễn ra trong chốc lát,
bởi vì chúng ta đang chuyển đổi từ hệ thống tổ chức lao động tập trung sang thị trường, do
vậy phải cần một thời gian dài để tạo lập những bản tính của nền kinh tế thị trường tổng
hợp. Xây dựng thị trường sức lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất cho việc chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điều kiện để tăng trưởng có hiệu quả nền
kinh tế đó. Tuy nhiên, thị trường lao động mới chỉ đạt được những bước đi ban đầu trên
con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính
trước đây.

các thành phần kinh tế có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tuyển dụng lao động thông qua các
hội chợ việc làm, các trung tâm dịch vụ việc làm, các phương tiện thông tin đại chúng theo
đúng yêu cầu chuyên môn, ngành nghề.
Mặt khác, Quyết định 217/HĐBT (14/11/1987) đã cho phép các xí nghiệp quốc
doanh chuyển dần từ chế độ tuyển dụng biên chế nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động.
Pháp lệnh "Hợp đồng lao động” ngày 30/08/1990 đã thừa nhận phương thức tuyển chọn và
sử dụng lao đông mới, phù hợp với nền kinh tế, trong đó đề cao sự thoả thuận giữa người
lao động và người sử dụng lao động. Hiến pháp 1992 thừa nhận quyền tự do kinh doanh,
qua đó tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ thuê mướn lao động được phát triển.
Như vậy, thị trường sức lao động đã hình thành và tồn tại ngay trong thể chế kế
hoạch hoá tập trung, nhưng nó chỉ lộ diện khi có sự thừa nhận hàng hoá sức lao động.
Người có sức lao động có quyền bán cho người sử dụng sức lao động, qua đó hình thành
sức cung của thị trường. Xét đến nay biểu hiện của cung sức lao động trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua trước hết là quy mô và tốc độ tăng dân số

Trích đoạn Số lượng và cơ cấu của cầu lao động Chất lượng của cầu lao động Quan hệ cung cầu trên thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương Giá cả hàng hoá sức lao động trên thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương Các chủ trương về tổ chức thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương trong thời gian qua
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status