Tài liệu luận văn:Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng - Pdf 10


1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Vai trò nhà nước trong phát
triển thị trường sức lao động ở thành phố
Hải Phòng”

1.3.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho chính quyền thành phố
1
5

5

5131717
2327
27

TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂNTHỊ
TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở HẢI PHÒNG
3.1. Phương hướng phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.
3.1.1. Những căn cứ xác định phương hướng phát triển thị trường sức
lao động ở Hải Phòng.
3.1.2. Phương hướng phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng
trong thời gian tới.
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò nhà nước trong
phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng trong thời gian tới.
3.2.1. Giải pháp kích cầu sức lao động

32
3434343857
tin thị trường sức lao động.
3.2.4. Giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động
của thị trường sức lao động.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Biểu 2.1: Dân số, lực lượng lao động của Hải Phòng giai đoạn 2001-
2005.
Biểu 2.2. Trình độ văn hóa phổ thông
Biểu 2.3. Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Biểu 2.4. Lao động trong các loại hình kinh tế.
Biểu 2.5. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế.

9499
5Biểu 2.6. Thu nhập theo nhóm tuổi.
Biểu 2.7. Thu nhập theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Biểu 2.8. Thu nhập theo ngành kinh tế.
Biểu 2.9. Thu nhập theo loại hình kinh tế.
43

45

47

50

52

54

55

trường ra đời và phát triển. Tuy nhiên, hầu hết các loại thị trường của nước ta
đều còn rất mới mẻ, họat động còn yếu. Thị trường sức lao động không nằm
ngoài những đặc trưng đó.
Thị trường sức lao động của nước ta còn yếu về mọi mặt biểu hiện ở
chỗ: cung cầu về sức lao động mất cân đối trầm trọng, chất lượng lao động

7còn kém, các kênh giao dịch việc làm chưa phát triển, thông tin thị trường sức
lao động còn sơ khai, vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa người mua và
người bán sức lao động. Điều đó biểu hiện ra bên ngoài là người cần sức lao
động không biết chỗ mua và ngược lại người cần bán sức lao động không biết
bán ở đâu và cuối cùng là, tỷ lệ lao động chưa có việc làm hàng năm còn cao,
sức lao động xã hội không được sử dụng hết, còn rất lãng phí.
Những tồn tại, yếu kém trên của thị trường sức lao động, một phần do
nước ta mới đi vào xây dựng nền kinh tế thị trường, song có thể nói vai trò
của nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển thị trường này còn rất nhiều
bất cập.
Thành phố Hải Phòng nằm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, với dân
số 1,8 triệu người và mức gia tăng dân số bình quân hàng năm là 1,3%. Cũng
như dân số Việt Nam nói chung, dân số Hải Phòng thuộc loại dân số trẻ, số
người trong độ tuổi lao động chiếm 64% dân số nói chung. Hàng năm có trên
2 vạn người vào tuổi lao động. Điều này vừa là một lợi thế, một nguồn lực
quan trọng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế -
xã hội lại vừa là thách thức lớn trong vấn đề giải quyết việc làm.
Như vậy, nghiên cứu vai trò Nhà nước trong phát triển thị trường sức

hạn chế và nguyên nhân hạn chế của vai trò nhà nước trong phát triển thị
trường sức lao động thời gian qua ở thành phố Hải Phòng.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất những phương
hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị
trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn lấy vai trò nhà nước đối với sự hình thành và phát triển của
thị trường sức lao động ở Hải Phòng làm đối tượng nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố
Hải Phòng giai đoạn từ năm 2001-2005, khi nghiên cứu thực trạng và đề xuất
phương hướng, giải pháp đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

9- Tham khảo nghiên cứu vai trò nhà nước đối với thị trường sức lao
động một số địa phương của Việt Nam, có tính đến vai trò nhà nước đối với
thị trường sức lao động một số nước trên thế giới.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
phương pháp luận chung, đặc biệt trực tiếp vận dụng phương pháp trừu tượng
hóa-phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị để tiếp cận đối tượng nghiên
cứu. Ngoài ra, luận văn còn vận dụng các phương pháp hệ thống, phân tích
thống kê, phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học
6. Dự kiến đóng góp của luận văn:


1.1. Những vấn đề chung về thị trường sức lao động.
1.1.1. Thị trường sức lao động và các yếu tố cấu thành thị trường
sức lao động.
1.1.1.1. Thị trường sức lao động.
Có rất nhiều khái niệm về thị trường sức lao động, mỗi khái niệm có
những đặc điểm riêng phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh, vị trí nhất
định của các tổ chức hoặc các nhà khoa học đưa ra.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường sức lao động là
thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá
trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền
công”. Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định
thông qua việc làm được trả công.
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “ Thị trường mà đảm bảo việc làm cho
người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm thì được gọi là
thị trường sức lao động”.

Các nhà khoa học kinh tế Nga thì lại cho rằng: “Thị trường sức lao
động được hiểu như một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế
xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử
dụng lao động”.

Theo một số nhà khoa học kinh tế Việt Nam thì khái niệm trên được
phát biểu: “Thị trường sức lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác
lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ

11
12

quyền tự nhiên của con người. Ngự trị ở đây chỉ có quyền tự do, bình đẳng,
quyền sở hữu ’’.
Như vậy, từ sự chỉ dẫn của C.Mác có thể rút ra một số luận điểm quan
trọng về thị trường sức lao động như sau :
- Thị trường sức lao động là thị trường đặc biệt của thị trường hàng hóa
vì hàng hóa đem ra trao đổi không phải là hàng hóa thông thường mà là hàng
hóa sức lao động.
- Quan hệ trao đổi không phải là quan hệ ‘‘mua đứt bán đoạn’’ mà
được thực hiện thông qua ký kết một văn bản hợp đồng.
- Nguyên tắc trao đổi và những quy luật chi phối trên thị trường sức lao
động không khác gì thị trường hàng hóa thông thường, đó là: tự do, bình đẳng
và ngang giá. Tự do vì người mua và người bán chỉ phục tùng ý chí của mình;
bình đẳng vì họ quan hệ với nhau như ‘‘những chủ sở hữu hàng hóa và trao
đổi vật ngang giá lấy vật ngang giá’’.
Từ đó có thể rút ra : Thị trường sức lao động là một thị trường hàng
hoá, là nơi diễn ra việc trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động, người sử
dụng và người sở hữu sức lao động trao đổi với nhau thông qua một bản hợp
đồng, trong đó xác định quyền tự do, bình đẳng của các chủ thể sở hữu và
theo nguyên tắc trao đổi ngang giá. Ở đây, giá cả của hàng hoá sức lao động
biểu hiện dưới hình thái tiền công và tiền công chịu sự điều tiết của các quy
luật thị trường, trong đó quan hệ cung và cầu lao động là cơ chế tác động trực
tiếp tới sưc thay đổi của tiền công.
Như vậy, trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ về việc làm, nó
xác định nội dung đích thực của thị trường sức lao động như thị trường việc
làm.
Tóm lại, có thể quan niệm một cách chung nhất về thị trường sức lao

Cung sức lao động cần phải xem xét về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
- Về số lượng : Cung sức lao động thường được phân biệt thành 2 phạm
trù :
+ Cung thực tế về sức lao động : Gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổi
trở lên đang làm việc và những người thất nghiệp. Cung thực tế sức lao động
chính là lực lượng lao động xã hội hay dân số hoạt động kinh tế.

14

+ Cung tiềm năng sức lao động : Bao gồm tất cả những người từ đủ 15
tuổi trở lên đang làm việc và những người đang thất nghiệp, những người
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm
công việc nội trợ trong gia đình mình hoặc không có nhu cầu lao động và tình
trạng khác.
- Về chất lượng : Cung sức lao động được thể hiện ở tình trạng sức
khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ý thức kỷ luật, phẩm
chất đạo đức của người cung sức lao động trên thị trường.
- Về cơ cấu : Cung sức lao động thể hiện ở cơ cấu của người cung sức
lao động trên thị trường sức lao động xét theo độ tuổi, giới tính, trình độ nghề
nghiệp, khu vực, ngành, nghề, thành phần kinh tế.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến cung sức lao động :
+ Một là : Quy mô và tốc độ tăng dân số: Quy mô dân số là lượng tuyệt
đối về dân số trong phạm vi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ. Khi quy mô
dân số lớn, tốc độ tăng dân số cao thì cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại.
+ Hai là : Tỷ lệ dân số tham gia thị trường sức lao động, tức là tỷ lệ dân
số từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia thị trường sức lao động. Khi tỷ lệ này tăng
thì cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại.

tăng khả năng cạnh tranh . . .
- Về cơ cấu: Cầu lao động cũng được xem xét theo các tiêu chí: lứa
tuổi, giới tính, ngành, nghề, thành phần kinh tế . . .
- Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu sức lao động:
+ Một là, phương thức tăng trưởng kinh tế được lựa chọn: nếu chính
phủ lựa chọn phương thức tăng trưởng kinh tế nhanh, nhờ vào vốn là chủ yếu
thì cầu lao động sẽ giảm và vốn khi được ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùng
nào thì ngành đó, vùng đó sẽ thu hút nhiều lao động hơn. Nếu chính phủ lựa
chọn phương thức tăng trưởng kinh tế dựa vào lao động là chủ yếu thì cầu lao
động sẽ tăng lên.
+ Hai là, Mục tiêu tạo việc làm của Chính phủ: Việc làm là một vấn đề
luôn được chính phủ ở hầu hết các nước quan tâm vì nó liên quan trực tiếp
đến vấn đề an sinh xã hội. Việc làm luôn là một trong những mục tiêu kinh tế

16

vĩ mô của các Chính phủ. Chính vì vậy, việc làm là vấn đề kinh tế xã hội có
tính bức xúc, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính
tri-xã hội và người lao động.
+ Ba là, kiểu và mức độ công nghiệp hoá lựa chọn: Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia. Dưới góc độ việc
làm, kiểu và mức độ công nghiệp hoá được lựa chọn có ảnh hưởng không
nhỏ.
+ Bốn là, mục tiêu chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ: Ở các nước đang phát triển, thị trường sức lao động có đặc
điểm là lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn và tình trạng
người nông dân thiếu việc làm là phổ biến do thất nghiệp . . . Do đó, để tăng

mối quan hệ giữa giữa giá cả và cung, cầu trên thị trường sức lao động.
Cung, cầu và giá cả sức lao động có mối quan hệ qua lại với nhau trên
thị trường sức lao động. Nếu cung phù hợp với cầu và cung-cầu điều chỉnh
linh hoạt theo tiền công thì thị trường sức lao động vận hành có hiệu quả, thất
nghiệp không xảy ra. Nếu mức cung cao hơn mức cầu thì lao động sẽ thừa,
tiền công giảm xuống và ngược lại. Mặt khác, quan hệ cung cầu về sức lao
động cũng được điều tiết phù hợp với quy luật giá trị. Việc hạ giá hay tăng giá
hàng hoá sức lao động cũng tác động đến cung và cầu. Giá cả của sức lao
động cũng như ‘cái van’ điều chỉnh quan hệ cung, cầu sức lao động.
Cơ sở khách quan của những biến động trong mối quan hệ cung cầu và
giá cả sức lao động là trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và giá trị
hàng hoá sức lao động. Ngoài ra, chúng còn chịu sự tác động của nhà nước
thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, như luật lao động, luật thuế thu nhập,
chính sách bảo hiểm xã hội, lương tối thiểu
- Sự hoạt động của thị trường sức lao động tạo ra cạnh tranh mạnh mẽ
trên thị trường này : Đó là sự cạnh tranh giữa người mua (người thuê mướn
sức lao động) và người bán (người cung ứng sức lao động); giữa người mua
với người mua từ đó tác động đến việc hình thành giá cả sức lao động. Vì:

18

Thông qua tín hiệu giá cả, cả người mua và người bán đều theo đuổi tối
đa lợi ích kinh tế của mình, từ đó tác động đến giá cả, làm cho giá cả chuyển
động về vị trí cân bằng.
Cạnh tranh giữa người mua và người bán sức lao động diễn ra theo biến
động của cung cầu sức lao động trên thị trường. Khi cung lớn hơn cầu thì
người mua trả tiền công thấp hơn cho người lao động và họ dễ dàng thuê

xây dựng một cơ chế đãi ngộ, kích thích, tạo động lực đối với người lao động
một cách phù hợp như: điều kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và các
phúc lợi xã hội khác.
- Thị trường sức lao động tồn tại một số cấu trúc thể chế loại đặc biệt
(hệ thống pháp luật phân nhánh, những chương trình kinh tế - xã hội, dịch vụ
việc làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà doanh nghiệp, v.v )
sinh ra đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thị trường sức lao động. Vì vậy,
cần phải thể chế hóa thật chi tiết mọi hướng hoạt động khác nhau của họ.
- Chất lượng lao động ở từng người lao động có khác nhau theo giới
tính, tuổi tác, thể lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác, động
lực làm việc v.v… Vì vậy, mức độ cá thể hóa cao khi ký kết giao kèo, gắn với
trình độ chuyên môn khác nhau của sức lao động, sự đa dạng của công nghệ
và tổ chức lao động, nên việc đánh giá chất lượng lao động khi tuyển dụng,
trả công phù hợp cho từng người gặp nhiều khó khăn và phức tạp;
- Trong trao đổi hàng hóa sức lao động có nhiều điểm khác so với trao
đổi hàng hóa vật chất. Quá trình trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng
hóa vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa - quyền sử dụng
khả năng lao động được chuyển sang người mua theo những gì đã được ấn
định trong hợp đồng hay thoả ước lao động tập thể. Quá trình trao đổi được
tiếp tục trong sản xuất dưới hình thức trao đổi sức lao động đang hoạt động,
lao động thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông
của cải vật chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ được trao đổi
lương danh nghĩa thành phương tiện sống. Việc trao đổi hàng hóa vật chất
được bắt đầu và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa vật chất.
- Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công và
tiền lương, mà còn là nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làm
21

nhu cầu cần thiết và đảm bảo những quan hệ qua lại bình thường trong tập thể
lao động giữa những người lao động, cũng như giữa lãnh đạo và nhân viên.
- Thứ tư, khi ký kết hợp đồng lao động bằng miệng hoặc trên văn bản
giữa người thuê lao động với người lao động, vấn đề được xem xét không chỉ
thoả thuận về mức lương và thời gian làm việc, mà còn cả chế độ nghỉ phép,
chế độ nâng lương, chế độ khen thưởng, ốm đau và cả bảo hiểm xã hội cộng
với những ưu đãi khác.
- Thứ năm, thị trường sức lao động đảm bảo việc phân chia và sắp xếp
lại dân số tích cực kinh tế trong trường hợp cải cách cấu trúc nền kinh tế hiện
nay ở Việt Nam. Vấn đề này đặc biệt quan trọng và khó khăn khi đất nước
bước vào thời kỳ mới; các doanh nghiệp chịu sự sắp xếp lại theo chiều hướng
khác nhau: sáp nhập, giải thể, liên kết, liên doanh, cổ phần hoá, cho thuê hoặc
bán doanh nghiệp, đã làm cho số người mất việc làm trong các doanh nghiệp
nhà nước tới hàng triệu người. Bên cạnh đó, sự cho phép hình thành và phát
triển đa dạng các loại hình sở hữu, nhiều doanh nghiệp mới ra đời đã giải
quyết nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động và cả những người dôi dư
từ khu vực nhà nước trong nhiều năm qua. Tỷ trọng lao động trong các thành
phần kinh tế, các ngành nghề, khu vực dân cư dần dần được thay đổi theo cơ
cấu ngày càng hợp lý, uyển chuyển, thích ứng và phù hợp với cấu trúc mới
của nền kinh tế.
- Thứ sáu, thị trường sức lao động làm tăng tính cơ động của lao động
giữa các doanh nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các khu vực với
nhau. Trong thời kỳ đầu của cải cách kinh tế ở Việt Nam, dòng chuyển động
này vẫn chưa mang tính cơ động cao vì hàng loạt những nguyên nhân như

1.2.1. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò nhà nước trong phát
triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.
Theo các nhà kinh tế học cổ điển, J.M.Keynes, P.A.Samuenson và các
nhà kinh tế học hiện đại, thì sự can thiệp của nhà nước vào thị trường sức lao
động được thể hiện trên 2 khía cạnh:
- Nhà nước tạo lập môi trường, kích thích đầu tư và tiêu dùng của nhân
dân nhằm kích thích cầu sản phẩm, ngăn chặn khủng hoảng, thất nghiệp, tạo
việc làm đầy đủ cho lao động xã hội.

23

- Nhà nước đảm bảo các điều kiện để thị trường sức lao động vận hành
thắng lợi, đảm bảo công bằng xã hội, khắc phục sự phân hóa giàu nghèo quá
mức, bảo vệ nhóm lao động yếu thế, giảm thiểu rủi ro cho thị trường sức lao
động.
Trong nền kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa, sự phát
triển của thị trường sức lao động (một bộ phận của hệ thống thị trường) chịu
sự tác động của các thể chế, chính sách cũng như các công cụ vĩ mô khác của
nhà nước can thiệp vào nhằm hạn chế mặt trái của thị trường này và thúc đẩy
nó phát triển theo những mục tiêu đã định. Thị trường sức lao động không thể
phát triển mạnh nếu không có sự ổn định của môi trường chính trị, tách rời
của quản lý nhà nước.
Hệ thống các loại thị trường nói chung (trong đó có thị trường sức lao
động) ở Hải Phòng cũng như trong cả nước còn đang trong giai đoạn hình
thành và phát triển. Do đó, cần thiết phải tăng cường vai trò nhà nước đối với
việc phát triển các loại thị trường, đặc biệt là thị trường sức lao động. Khi thị
trường sức lao động phát triển, nó có vai trò tiên phong lôi kéo các loại thị

hiệu quả. Do đó, việc tăng cường vai trò nhà nước trong việc phát triển hệ
thống thị trường một cách đồng bộ có liên quan chặt chẽ với nhau tạo nên môi
trường kinh doanh mạnh mẽ, lành mạnh để phát triển và một việc làm hết sức
quan trọng.
Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế -xã hội của Đại hội IX Đảng
cộng sản Việt Nam đã nêu rõ “Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường,
đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước”, trong đó nhấn
mạnh “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị
trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm đến các thị
trường quan trọng nhưng chưa có hoặc còn sơ khai như thị trường lao động,
thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công
nghệ ”
Ngoài việc hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, việc tạo
lập đồng bộ các yếu tố của thị trường còn đòi hỏi phải có sự đồng bộ từ các
yếu tố của từng loại thị trường. Vai trò tạo lập sự đồng bộ thị trường nằm

25

trong tay nhà nước mà chỉ có chủ thể có sức mạnh như nhà nước mới có khả
năng can thiệp, tạo lập, định hướng và hỗ trợ sự đồng bộ này.
Ở Hải Phòng, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành
phố đã nhận rõ tầm quan trọng của việc “tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị
trường trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ
nghĩa”, nên luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện việc hình thành, phát triển đồng
bộ hệ thống thị trường trên địa bàn thành phố, đặc biệt quan tâm phát triển các
thị trường mới còn manh nha, yếu kém như: thị trường sức lao động, thị
trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ thành phố luôn định hướng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status