LUẬN VĂN: Tác động của phát triển công nghiệp đối với
nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp và nông nghiệp được Chủ tịch Hồ Chí Minh ví như hai chân của nền
kinh tế. Phát triển công nghiệp có tác động lớn tới nông nghiệp thúc đẩy nông nghiệp
phát triển. Ngược lại nông nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện tích luỹ vốn ban đầu cho
phát triển công nghiệp. Sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt sau Nghị quyết Trung ương 5
(khoá IX) nền nông nghiệp Việt Nam đó đạt những thành tựu khá toàn diện và to lớn, tốc
độ tăng trưởng kinh tế đạt cao, không những đảm bảo an ninh lương thực mà cũn cú sản
phẩm xuất khẩu, một số sản phẩm được thị trường quốc tế ưa chuộng. Tuy nhiên tốc độ
tăng trưởng của nông nghiệp chậm hơn công nghiệp và nền nông nghiệp đang chịu tác
động mạnh mẽ làn sóng phát triển công nghiệp. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
khu công nghiệp tập trung đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân bị thu hồi đất
sản xuất ở xó Nam Sơn, huyện Quế Vừ, tỉnh Bắc Ninh. www.hua.edu.vn.
- Nguyễn Quốc Thanh, Phát triển công nghiệp ở nông thôn gắn với bảo vệ môi
trường. www.quangtri.vn.
- Bùi Huy Đáp - Nguyễn Điền (1996), Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi
mới Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Đỡnh Phan (2007), Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
- Đặng Kim sơn (2008), Nông nghiệp nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và
mai sau Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- TS Nguyễn Thế Trường (2008) Hoàn thiện tổ chức sản xuất nông nghiệp ở các
tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.
- Phạm Thị Khanh (2005), “Đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp bền vững ở Việt
Nam”, Tạp chớ Lý luận chớnh trị, tr 33 - 40.
- Lưu Văn Sùng (2004), Một số kinh nghiệm điển hỡnh về phỏt triển nụng nghiệp,
nụng thụn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Ngoài ra cũn nhiều luận văn Thạc sĩ kinh tế về đề tài nông nghiệp, nông thôn dưới
các góc độ và ở các địa phương khác nhau.
Tại Vĩnh Phúc cũng đó cú những cụng trỡnh nghiờn cứu như: TS Nguyễn Thế
Trường (2008), Những biến đổi kinh tế - xó hội ở Vĩnh Phỳc giai đoạn 1997 - 2005 Nxb
Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội; Hoàng Đức Tiến (1999) Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án Thạc sỹ kinh tế; Các đề án
cụ thể hoá Nghị quyết số 03 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về “Phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020”.
Những cụng trỡnh nghiờn cứu về lĩnh vực nụng nghiệp, nụng thụn cú rất nhiều và
đó đề cập đến phát triển nền nông nghiệp nói chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Nhưng nghiên cứu về tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp trên địa bàn
của tỉnh Vĩnh Phỳc thỡ đến nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Vỡ vậy, đề tài nghiên cứu
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc về
vấn đề tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp. Ngoài ra luận văn kế thừa có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu của một số công trỡnh, bài viết cú liờn quan đến vấn đề
này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử. Bên cạnh đó, luận văn cũn sử dụng những phương pháp như: Phương pháp trừu
tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rừ thờm những tỏc động của phát triển công nghiệp đối với nông
nghiệp.
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng tác động của phát triển công nghiệp tới
nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2004 - 2008, đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy hiệu quả tác động phát triển công nghiệp đến phát triển nông nghiệp Vĩnh
Phúc trong thời gian tới.
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền
các nơi có điều kiện tương đồng như Vĩnh Phúc trong định hướng phát triển ngành kinh
tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Ngoài ra cũn cú thể sử dụng làm tư liệu
tham khảo cho giảng dạy KTCT ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện và Trường
chính trị tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương 7 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỚI NÔNG NGHIỆP
1.1. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA
đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Cơ sở của bước chuyển
này là do những phương pháp canh tác mới được áp dụng rộng rói và đem lại hiệu quả
kinh tế - xó hội cao. Áp dụng phương pháp canh tác mới đũi hỏi phải biết phỏt huy đúng
lúc tác dụng của các dự án thuỷ lợi, sử dụng phân bón hữu cơ cho các loại cây trồng đúng
chu kỳ sinh trưởng, phát triển của cây…nên năng suất, sản lượng tăng, đặc biệt là cây
lương thực.
Công nghiệp phát triển, hàng loạt các máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp
ra đời như: máy cày, máy tuốt, máy xay xát được đưa vào sử dụng nhằm giải phóng
sức lao động. Bên cạnh đó những giống mới được đưa vào sản xuất đó làm tăng sản
lượng lương thực, thực phẩm, nhờ đó người dân đó giải phóng một phần đất đai để
trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc,
gia cầm. Việc đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi cũng có thể giảm thiểu những tác động
tiêu cực khi mất mùa ở những cây trồng chính, tạo ra sự ổn định cho phát triển kinh
tế. Chính từ sự đa dạng cây trồng, vật nuôi đó cú tỏc động rất mạnh mẽ đến người sản
xuất nông nghiệp như: thời gian nông nhàn giảm, tỷ lệ sử dụng lao động trong nông
nghiệp tăng, hệ số sử dụng đất cao và thu nhập của người sản xuất nông nghiệp cũng
tăng lên, làm thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp.
Công nghiệp phát triển sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng
hiện đại hơn, hỡnh thành cỏc vựng sản xuất hàng hoỏ lớn tập trung. Tuy nhiờn, quỏ
trỡnh tập trung hoỏ diễn ra chậm và kéo dài hơn so với lĩnh vực sản xuất công nghiệp,
nhưng những thay đổi trong kỹ thuật và cách thức tổ chức của sản xuất nông nghiệp
đó làm cho sản lượng và năng suất lao động trong nông nghiệp tăng mạnh: Lúa của
Việt nam từ 28 tạ/ha năm 1985 tăng lên 49tạ/ha năm 2006, Trung Quốc 53 tạ/ha lên
63 tạ/ha, Inđônêxia 39 tạ/ha lên 63 tạ/ha [33, tr.68]. Sự tăng trưởng này một mặt làm
tăng khối lượng hàng hoá nụng sản cú thể cung cấp cho xó hội, chuyển bớt một phần
lao động từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất khác mà không gây ra sự suy giảm
sản lượng nông nghiệp và đời sống xó hội. Mặt khỏc, lượng cầu về tư liệu lao động và
hàng tiêu dùng trong khu vực nông nghiệp tăng lên đó kớch thớch mở rộng sản xuất ở
những khu vực phi nụng nghiệp. Quỏ trỡnh này đó dần phỏ vỡ nền kinh tế tự nhiờn để
có tác động toàn diện tới nền kinh tế nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng, dẫn đến
phân chia thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện thêm nhiều ngành mới, lĩnh vực kinh tế mới.
Mặt khác, nó làm cho thu nhập tăng, cơ cấu tiêu dùng thay đổi, tất yếu cơ cấu sản xuất
cũng phải thay đổi và từ đó làm thay đổi cơ cấu, vị trí các ngành chuyển dịch theo hướng
giảm tương đối tăng tuyệt đối.
Cũng như những ngành kinh tế khác, nông nghiệp cũng chịu tác động mạnh của
khoa học - công nghệ, đây chính là cú hích tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nội bộ
ngành. Khi nền sản xuất nông nghiệp cũn mang tớnh tự cung, tự cấp, độc canh đến định
canh, định cư, đa dạng cây trồng, vật nuôi, đến hỡnh thành cỏc vựng sản xuất hàng hoỏ
tập trung thỡ khoa học - cụng nghệ đóng vai trũ nền tảng. Ngay cả khi một giống mới
được tạo ra đó gắn với cụng nghệ sinh học, nhưng để đưa ra sản xuất đảm bảo tăng năng
suất chỉ trong điều kiện đủ nước, phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật từ công
nghiệp. Sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển khi song hành với các lĩnh vực kinh tế khác.
Sự phát triển của công nghiệp, của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học,
công nghiệp chế biến làm tăng năng suất cây trồng, kết hợp với thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá,
hoá học hoá làm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp. Tất cả các yếu tố trên kết
hợp với nhau làm gia tăng sản lượng và từ đây người nông dân có thể bán các nông sản
của mỡnh, nên đó hỡnh thành thị trường - một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng
của ngành nông nghiệp. Khi mà việc chú trọng sử dụng các yếu tố của sản xuất không hoàn
toàn cũn đặt vào đất đai, nước, lao động như sản xuất nông nghiệp truyền thống nữa, thỡ
thay vào đó là việc tạo vốn và tiến bộ của khoa học - công nghệ đóng vai trũ then chốt thỳc
đẩy sự phát triển của nông nghiệp. Ở nước ta giai đoạn 2001 - 2007 khoa học - công nghệ
trở thành yếu tố đóng góp tới 63% vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp [33, tr.67].
Mục tiêu của việc đưa khoa học - công nghệ vào nông nghiệp là nhằm thúc đẩy sản
xuất tăng trưởng, phát triển nhanh, cải biến nền nông nghiệp lạc hậu thành nền nông
nghiệp tiên tiến, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng sản lượng và giá trị thu nhập trên
một đơn vị đất đai, mặt nước, tăng năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên lao động
nông nghiệp và nông thôn và cuối cùng là nâng cao mức sống và thu nhập của nông dân
[10, tr.296]. Trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp thỡ phương thức canh
Ở nước ta, nhiều Nghị quyết và văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước nhấn
mạnh việc đưa nhanh khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, coi đây là khâu
đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xó hội và chấn hưng nền nông
nghiệp Việt Nam. Hiện tại ở Việt Nam đó hỡnh thành cỏc kờnh hỗ trợ chuyển giao cụng
nghệ ở như:
- Hỗ trợ theo kênh khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư: Đây là kênh chính thức
và quan trọng nhất của Nhà nước nhằm cung cấp cho người sản xuất nông nghiệp tiếp
cận và làm chủ những kiến thức sản xuất nông nghiệp hiện đại.
- Hỗ trợ qua kênh chương trỡnh, dự ỏn của Nhà nước nhằm đào tạo kỹ thuật,
chuyên môn nghiệp vụ cho cả lao động trực tiếp và lao động quản lý trong nụng nghiệp.
- Hỗ trợ thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài; bao gồm các hoạt động
chuyển giao công nghệ ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ và trồng rừng, bảo
quản nông sản
Nhỡn chung, trong bối cảnh như hiện nay thỡ nụng nghiệp chịu tỏc động mạnh
của công nghiệp, của tiến bộ khoa học - công nghệ, nó được coi là các yếu tố đầu vào và
hỗ trợ đầu ra rất hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp.
Từ hai đặc điểm cơ bản của phát triển nông nghiệp dưới sự tác động của phát triển
công nghiệp, có thể rút ra một số nhận xét:
+ Sự vận động, thay đổi từ sản xuất nông nghiệp thống sang sản xuất nông nghiệp
hàng hoá là một đũi hỏi khỏch quan. Đặc biệt dưới tác động của công nghiệp chế biến và
dịch vụ nông nghiệp ngày càng phát triển hoàn thiện đó làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp, cơ cấu lao động, quy mô sản xuất, cơ cấu thu nhập. Bên cạnh đó,
do nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn của xó hội cũng như đũi hỏi của nền kinh tế nờn
ngành nụng nghiệp phải cú sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để đáp ứng tư liệu
tiêu dùng thiết yếu của con người và khai thác lợi thế so sánh của từng loại giống cây
trồng, vật nuôi và của từng vùng.
+ Lao động khu vực nông nghiệp dưới tác động của phát triển công nghiệp có sự
phân công lao động mới trên cơ sở hỡnh thành và phỏt triển cỏc nghề mới như: tiểu thủ
công nghiệp, làng nghề truyền thống, dịch vụ…theo phương châm “ly nông bất ly hương”.
Một là: Công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp; để đảm bảo
cho việc sản xuất lương thực, thực phẩm (hay tư liệu sinh hoạt thiết yếu) cho nhu cầu tiêu
dùng của con người và nhu cầu này có xu hướng ngày càng tăng theo thị hiếu và quy mô
dân số. Để thực hiện được nhiệm vụ này nông nghiệp không thể tự thân vận động nếu
không có sự hỗ trợ của công nghiệp như: phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, máy cơ giới
trong các khâu từ làm đất đến thu hoạch, do đó làm nõng cao trỡnh độ công nghệ của sản
xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, công nghiệp có vai trũ quan trọng trong quỏ trỡnh xõy
dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp như hệ thống kênh mương cứng, trạm
bơm, đường nội đồng…. Tất cả làm cho năng suất lao động, chất lượng nông sản tăng.
Hai là: Công nghiệp vừa tạo thị trường vừa tạo điều kiện cần thiết tăng giá trị sản
phẩm nông nghiệp; khi thu nhập của dân cư thành thị nâng lên do công nghiệp ở đó phát
triển sẽ là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của nông nghiệp như: gạo, rau quả các loại,
thịt gia súc, gia cầm…. Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến phát triển làm cho các sản
phẩm nông nghiệp nâng cao giá trị, tăng khả năng tích trữ, vận chuyển, làm cho sản phẩm
nông nghiệp thêm phong phú về chủng loại, từ đó mở ra khả năng tiêu thụ mới không
những ở thị trường trong nước mà cũn làm cho “cỏc sản phẩm từ nụng nghiệp, nụng thụn
của nước ta phải có mặt trong từng căn hộ, từng bữa ăn của người nước ngoài” [22,
tr.15], tạo vị thế mới cho nông sản và tham gia vào phân công lao động cũng như thị
trường thế giới. Nhờ có công nghiệp chế biến đó góp phần khắc phục khuyết tật của nền
sản xuất nông nghiệp đó là tính thời vụ cao, khó bảo quản, khó vận chuyển. Chính sự
phát triển của công nghiệp chế biến, sự tác động của công nghiệp chế biến nông sản vào
nền nông nghiệp hàng hoá tạo cơ sở giải quyết những vấn đề xó hội, nõng cao đời sống
dân trí…là mục tiêu của quá trỡnh phỏt triển, song cũng là cơ sở xó hội của quỏ trỡnh
phỏt triển cụng nghiệp [26, tr.16].
Ba là: Công nghiệp đó thỳc đẩy sự ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp
tạo ra bước đột phá mới về giống cây trồng, vật nuôi. Với những giống cây trồng, vật
nuôi có nhiều đặc tính ưu việt vượt trội về chu kỳ sinh trưởng, phát triển, có khả năng
kháng bệnh tốt, đa dạng nông sản hơn, năng suất - chất lượng hơn…, dưới tác động của
công nghệ sinh học đó tạo ra dũng sản phẩm phong phỳ, đa dạng và có giá trị cao.
thắng lợi cuối cựng của chủ nghĩa xó hội mới được đảm bảo [28, tr.157 - 159].
Từ thực tiễn cỏch mạng và qua nghiờn cứu V.I.Lờnin cho rằng Chủ nghĩa xó hội
chỉ cú thể thắng khi xõy dựng được một nền sản xuất hiện đại trên cơ sở vật chất kỹ thuật
tiên tiến, năng suất lao động vượt trội hơn hẳn Chủ nghĩa tư bản.
Khi nói về sự tác động của công nghiệp đối với nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi công nghiệp - nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế, chúng có tác động hỗ
trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, Người chỉ rừ: “Muốn tiến lờn Chủ nghĩa xó hội
thỡ phải phỏt triển cụng nghiệp nhưng đồng thời cũng phải phát triển nông nghiệp, vỡ hai
ngành đó khắng khít với nhau” [29, tr.136] hay “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân
của nền kinh tế… hai chân đi khoẻ và đi đều thỡ tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi
đến mục đích” [30, tr.544 - 545]. Công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp, sự phục đó
phải thiết thực và hiệu quả, Người chỉ rừ: Quan trọng nhất trong đời sống nhân dân là vấn
đề ăn, để giải quyết tốt lương thực phải dồi dào. Muốn như vậy thỡ cụng nghiệp phải
giúp cho nông nghiệp nhiều máy tăng thuỷ lực, máy cày, máy bừa, phân bón hoá
học [30, tr.352]. Người tiếp tục khẳng định giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự liên
hệ khăng khít trong tiến trỡnh công nghiệp hoá, được biểu hiện ra bên ngoài như những
hoạt động kinh tế, trao đổi sản phẩm giữa hai ngành; “Công nghiệp phát triển thỡ sẽ giỳp
nụng thụn ta về thuỷ lợi, về phõn bún, về nụng cụ cải tiến, về mỏy móc nông nghiệp, về
sức điện…[30, tr.15].
1.2.2. Tác động của nông nghiệp đối với phát triển công nghiệp
Nông nghiệp có tác động lan toả đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xó hội, trong
đó có tác động mạnh mẽ đối với quá trỡnh phỏt triển cụng nghiệp, những tỏc động đó thể
hiện ở:
Một là: Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhiều
ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Những yếu tố đầu vào này đáp ứng yêu cầu các nhà máy,
xí nghiệp chế biến về số lượng, chất lượng và chủng loại sản phẩm sẽ thúc đẩy ngành
công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất
nhằm nâng cao giá trị nông sản và đa dạng về sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của thị trường trong nước cũng như quốc tế. Để có sự phát triển đồng bộ giữa nông
thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời, sẽ cung cấp
đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn giàu có sẽ
giúp cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển
mạnh hơn nữa [29, tr.91]. Nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân và để
nông nghiệp phát triển phải đặt nông nghiệp trong mối quan hệ tổng thể với các ngành
khác trong nền kinh tế, Người chỉ rừ, “Cần mở rộng cụng nghiệp, nụng nghiệp,
thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống cho nhân dân” [29,
tr.516].
Thực tiễn đó chứng minh nụng nghiệp đóng vai trũ quan trọng đối với sự tồn tại
của xó hội loài người, mọi sự tiến bộ của khoa học - công nghệ chỉ làm thay đổi hỡnh
thức, tập quán sản xuất nông nghiệp hướng tới tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các ngành công nghiệp và nhu cầu
tiêu dùng của xó hội.
Ba là: Nông nghiệp là khu vực cung cấp nguồn lao động cho công nghiệp; trong
quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thỡ sức
lao động trong các ngành kinh tế nói chung được giải phóng, trong đó nông nghiệp dưới
tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đó làm cho lao động dôi dư
nhiều và một đũi hỏi tất yếu phải dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp
và các lĩnh vực hoạt động khác. Tuy nhiên sự dịch chuyển này phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: Năng suất lao động trong nông nghiệp phải không ngừng tăng lên; công nghiệp và
dịch vụ ở thành thị và nông thôn phải mở rộng; chất lượng nguồn nhân lực phải đáp ứng
yêu cầu của công nghiệp. Đây là xu hướng có tính quy luật trong phân công lại lao động
xó hội.
C.Mác đó dự đoán công nghiệp hoá sẽ chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các
lĩnh vực kinh tế khác như công nghiệp và dịch vụ: Đối với lĩnh vực nông nghiệp, tác
động của công nghiệp hoá có tính chất cách mạng hơn bất cứ nơi nào khác, hiểu theo
nghĩa là công nghiệp lớn làm cho không cũn nụng dõn nữa, tức là cũn cỏi thành trỡ của
xó hội cũ, và thay thế nông dân bằng người làm thuê. Do đó mà ở nông thôn, những nhu
cầu cải biến xó hội và cuộc đấu tranh giai cấp, được nâng lên ngang với trỡnh độ ở thành
xuất khẩu tạo tích luỹ để tái sản xuất và phát triển nền kinh tế. Đặc biệt nông nghiệp có thể
là chỗ dựa cho nền kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng.
1.2.3. Đường lối phát triển công nghiệp và nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta
thể hiện qua các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng
Thấy được vị trí và tầm quan trọng của sự tác động qua lại của công nghiệp và
nông nghiệp trong quá trỡnh phỏt triển kinh tế của đất nước, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta
đặc biệt quan tâm tới hai lĩnh vực kinh tế quan trọng này và đó đề ra chủ trương, đường
lối cho phỏt triển cụng nghiệp và nụng nghiệp trong từng thời kỳ phự hợp với tỡnh hỡnh
cụ thể của Việt Nam, phấn đấu đạt mục tiêu chung dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng
bằng, dõn chủ, văn minh. Cụ thể:
Đại hội III (1960), Đảng ta xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên
suốt thời kỳ quá độ và nông nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ
đất nước.
Đại hội IV (1979), nhấn mạnh ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp
lý, trờn cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Đại hội V (1982), thể hiện rừ hơn quan điểm của Đảng về vai trũ của nụng nghiệp
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước:
…tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu…, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng
một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp
hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp
lý. Đó là những nội dung chính của công nghiệp hoỏ xó hội chủ nghĩa [13,
tr.62 - 63].
Đại hội VI (1986), thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nông nghiệp luôn được
Đảng ta đặc biệt quan tâm, đó cú nhiều văn bản chỉ đạo tạo bước ngoặt cho sản xuất nông
nghiệp; Nghị quyết 10, ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nụng
nghiệp; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 - khoá VI xác định hộ gia đỡnh là đơn vị kinh
tế tự chủ.
Đại hội VII (1991) đưa ra quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
ra khỏi tỡnh trạng kộm phỏt triển đó thể hiện sự tổng kết nhiều vấn đề hệ trọng nhất của
đất nước. Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, nhất là công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp Đại hội tiếp tục khẳng định:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp…gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất,
chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa
phương…khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần
bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và
chăn nuôi tập trung… [17, tr.88 - 89].
Như vậy, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trong định hướng phát triển kinh
tế của Đảng ta được thể hiện qua các kỳ Đại hội cho thấy, trong từng thời điểm công
nghiệp luôn gắn với nông nghiệp. Từ chỗ xác định nông nghiệp là tiền đề để tiến hành
công nghiệp hoá đến việc phát triển công nghiệp phải thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Quá trỡnh nhận thức của Đảng về phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp hoá,
hiện đại hoá xuất phát từ đặc thù của nước nông nghiệp nhằm khơi dậy khu vực kinh
tế nhiều tiềm năng, chuẩn bị các tiền đề cho quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu nội tại của phát triển nông nghiệp mà cần phải gắn với
công nghiệp để nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao
động, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội theo hướng bền vững.
1.3. KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ TỈNH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỊ THU HẸP DO TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HèNH
THÀNH CÁC KHU CễNG NGHIỆP
Việc giải quyết những tác động trong phát triển công nghiệp đối với nông nghiệp
không những là vấn đề kinh tế, lợi ích mà cũn là vấn đề mang tích chất xó hội phức tạp.
Nếu chỉ giải quyết về mặt lợi ớch kinh tế, nghĩa là khi thu hồi ruộng đất chỉ bồi thường là
xong sẽ để lại hậu quả xó hội ngày càng trầm trọng hơn, vỡ tỷ lệ thất nghiệp gia tăng điều
mà tất cả các nền kinh tế đều tỡm mọi giải phỏp để khắc phục. Như vậy để ổn định cuộc
sống cho người lao động khi chịu những tác động từ phát triển công nghiệp là rất cần
Các cách làm của các tỉnh nêu trên là những bài học thực tiễn quan trọng có thể vận dụng
vào Vĩnh Phúc trong việc giải quyết vấn đề đất nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển các
khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Chương 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỚI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THUẬN LỢI
CHO PHÁT TRIỂN CễNG NGHIỆP VÀ NÔNG NGHIỆP
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên
Vĩnh phúc là 1 trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Phía Bắc giáp
tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang; phía Nam và Phía Đông giáp Hà Nội; phía Tây giáp
Phú Thọ. Tỉnh có 1 thành phố là Vĩnh Yên; 1 thị xó là Phỳc Yờn và 7 huyện: Bỡnh
Xuyờn, Tam Đảo, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch và Sông Lô (Từ
01/8/2008 huyện Mê Linh cắt về Hà Nội, 01/4/2009 huyện Lập Thạch tách thành huyện
Lập Thạch và huyện Sông Lô). Tính đến 01/01/2009 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Vĩnh Phúc là 123.176,43ha, giảm 14.164,53 ha so với 2007 do điều chuyển 18 xó, thị
trấn của huyện Mê Linh về Thành phố Hà Nội, dõn số là 1.017 nghỡn người. Tỷ lệ dân số
thành thị 23%.
Nằm tiếp giáp với Hà Nội, Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông đa dạng, thuận lợi
cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá với các tỉnh phía Bắc. Về đường bộ tỉnh có
Quốc lộ 2A (Hà Nội - Hà Giang), 2B (Vĩnh Yên - Tam Đảo), 2C (Vĩnh Tường - Vĩnh
Yên - Tam Dương - Tuyên Quang) chạy qua và nối với Quốc lộ 18, Quốc lộ 5. Đường
tỉnh lộ đang được đầu tư xây dựng với quy mô mặt cắt từ 36m trở lên đến các trung tâm
khu công nghiệp và đô thị, cùng hệ thống đường liên huyện, xó được đầu tư mở rộng.
Trong tương lai không xa có tuyến đường cao tốc mới từ sân bay quốc tế Nội Bài đi Vân
Nam (Trung Quốc) chạy qua - tuyến đường này đi thẳng tới cảng nước sâu Cái Lân
(Quảng Ninh) rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá đến các sân bay, bến cảng trên
toàn thế giới; Về đường sắt có tuyến Hà Nội - Lào Cai chạy qua với chiều dài 41 km, có