Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mở ĐầU
Trong những năm gần đây những năm tới, nền kinh tế Việt Nam phải đơng
đầu với những khó khăn, thử thách to lớn mà ngày hôm nay cha lờng trớc hết đợc.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam đợc tiến hành trong bối cảnh
tiến bộ khoa học - công nghệ, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và tự do hóa thơng
mại tác động mạnh sâu sắc đến phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực ảnh hởng không tốt đến phát triển
kinh tế xã hội Việt Nam. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh tốc độ tăng
trởng kinh tế và cơ cấu kinh tế theo hớng tạo ra một nền kinh tế phát triển bền
vững bằng nội lực là chính.
Trên cơ sở đó, song song với chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chuyển dịch cơ
cấu nghành mà đặc biệt là cơ cấu nghành công nghiệp. Công nghiệp đóng một vai
trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) của
đất nớc, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là một vấn đề mang tính chiến lợc của
quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp. Sự phát triển nhanh của khoa học -
công nghệ là một trong những nhân tố thúc đẩy phát triển công nghiệp theo hớng
CNH, HĐH. Để góp phần tăng thêm phần hiểu biết của em sâu hơn về môn kinh
tế và quản lý công nghiệp, qua nghiên cứu tài liệu, qua sự hớng dẫn của cô giáo,
điều đó đợc thẻ hiện qua đề tài của đề án môn học:
Phân tích tác động của phát triển công nghệ tới chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Gồm các phần cơ bản sau:
P hần1: Thực chất và quan hệ của phát triển công nghệ với chuyển dịch cơ
cấu nghành.
P hần2: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trong thời
gian qua.
P hần3: Phân tích tác động của phát triển công nghệ tới chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp.
P hần4: Một số kiến nghị và biện pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp dới tác động của phát triển công nghệ là một vấn đề
2
1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
Cơ cấu ngành công nghiệp là số lợng các bộ phận hợp thành công nghiệp và
mối quan hệ tơng tác giữa các bộ phận ấy
Việc xác định số lợng các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp hoàn toàn
tuỳ thuộc vào các cách phân loại công nghiệp. Có bao nhiêu cách phân loại công
nghiệp thì có bấy nhiêu cách xác định các bộ phận hợp thành hệ thống công
nghiệp. Số lợng các bộ phận hợp thành công nghiệp, một mặt phản ánh trình độ
phát triển phân công lao động xã hội, trình độ phát triển chung của công nghiệp,
mặt khác phụ thuộc vào công tác quản lý công nghiệp. Điều đó có nghĩa là việc
xác định các bộ phận hợp thành công nghiệp vừa phụ thuộc vào nhân tố khách
quan vừa phụ thuộc vào nhân tố chủ quan
Mối quan hệ tơng tác giữa các bộ phận hợp thành công nghiệp phản ánh sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và kỹ thuật giữa các bộ phận trong một hệ thống
thống nhất. Về mặt lợng nó đợc xác định bằng tỷ trọng giá trị sản lợng (hoặc
GDP) của từng bộ phận chiếm trong tổng giá trị sản lợng của toàn bộ công
nghiệp. Tỷ trọng này phụthuộc vào vị trí của mỗi bộ phận trong hệ thống, những
ngành then chốt, mũi nhọn thờng chiếm tỷ trọng lớn vì chúng luôn đợc u tiên về
đầu t phát triển, những ngành công nghiệp mới lúc đầu thờng chiếm tỷ trọng nhỏ,
tỷ trọng này dần dần tăng lên cùng với sự trởng thành của chúng. Để kiểm nghiệm
và hoạch định cơ cấu công nghiệp có đảm bảo yêu cầu dành sự u tiên thoả đáng
cho các ngành trọng điểm hay không, ngời ta có thể xác định hệ số vợt
Kvi =Vi/ Vcn
Trong đó Vki: hệ số vợt của bộ phận i
Vi : Tốc độ phát triển của bộ phận i
Vcn: Tốc độ phát triển chung của công nghiệp
Các ngành công nghiệp mũi nhọn thờng có Kvi > 1 nghĩa là tốc độ phát triển
của chúng phải lớn hơn tốc độ phát triển bình quân của công nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu ngành là sự thay đổi trạng thái, cấu trúc về ngành của
công nghiệp theo trạng thái thời gian. Sự thay đổi trạng thái của công nghiệp đợc
và trong nội bộ ngành. tiếp theo, phân công lao động làm hình thành công nghiệp
và phân hóa nội bộ ngành, khi tách các phần của quá trình công nghệ, kĩ thuật
nhiều lên, đòi hỏi sự chuyên sâu ngày càng cao, xuất hiện các ngành riêng tách ra
từ ngành ban đầu tạo thành hệ độc lập so vối ngành cũ.
2.2 Phát triển công nghệ phát triển thúc đẩy các ngành:
Việc thực hiện nội dung của tiến bộ khoa học - công nghệ trong tất các lĩnh
vực của đời sống kinh tế, xã hội đòi hỏi phải phát triển mạnh một số ngành công
ngiệp. nói cách khác, sự phát triển một số ngành công nghiệp then chốt trọng
điểm là điều kiện vật chất thiết yếu để thực hiện manh mẽ và có hiệu quả các nội
dung của tiến bộ khoa học - công nghệ. Chẳng hạn việc thực hiện điện khí hóa
4
phụ thuộc trực tiếp vao sự phát triển ngành công nghiệp điện và màng lới điện và
mạng lới truyền tải điện.
Phát triển ngành trọng điểm vì ngành có vai trò, vị trí quan trọng với nền kinh
tế quốc dân, có khả năng và lợi thế phát triển có hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội cao, đáp ứng nhu cầu của ngành, trong nớc, xuất khẩu có khả năng phát triển
hiện tại và lâu dài. Đó là ngành tạo ra nhiều khả năng phát triển công nghệ, đa
công nghệ vào thực tiễn, tạo cơ sở để xây dựng các ngành khác.
Bên cạnh các ngành trọng điểm là các ngành mũi nhọn, đó là các ngành đại
diện cho tiến bộ khoa hoc - công nghệ.
Ngày nay trong sự phát triển, các ngành luôn có mối quan hệ với nhau, việc
phát triển ngành trong điểm làm cho các ngành có liên quan tới cũng phát triển
kéo theo, tạo ra mối quan hệ càng ngày càng chặt chẽ do sự chuyên môn hóa
ngày càng cao.
Tiến bộ khoa hoc - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng sản
xuất mới, đẩy nhanh nhịp dộ phát triển một số ngành, làm tăng tỉ trọng cuẩ
chúng trong cơ cấu công nghiệp mà còn tạo ra nhu cầu mới. Chính những nhu cầu
mới này đòi hỏi sự ra đời và phát triển mạnh một số ngành. Những ngành này đợc
coi là đại diện của công nghệ tiên tiến, tuy là ngành non trẻ nhng là sự khởi đầu
của kỷ nguyên (hoặc thế hệ) công nghệ mới, nên có triển vọng phát triển công
về nhiệt độ, áp suất ;là các chất bán dẫn mà thiếu chúng không thể nói đến máy
tính điện tử nh hiện nay ; là vật liệu siêu dẫn sẽ đợc sử rộng rãi, làm biến đổi tận
gốc lĩnh vực phát điện, cấp điện, tin học, là vật liệu hỗn hợp (sợi các bon và sợi
thủy tinh) ; là vật liệu gốm có thể thay thế cho kim loại. Động cơ làm vật liệu
gốm vừa tiết kiệm năng lợng, vừa bền, có thể hoạt động trong nhiều năm không
cần sửa chữa.
Do tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ, do yêu cầu khai thác, sử dụng
hợp lí nguyên liệu và do sự hạn chế của nguồn năng lợng truyền thông mà cần đa
nguồn năng lợng mới - năng lợng sạch vào mục đích công nghệ.
Vì vậy mà các ngành công nghiệp chuyên môn hóa xuất hiện chủ yếu dựa
vào nguyên liệu mới. đây là khối nghành mà sản phẩm của chúng có hàm lợng kĩ
thuật - công nghệ cao nhng sử dụng ít các dạng tài nguyên khác. Sự thịnh vợng
của đất nớc, khả năng phát triển bền vững của nó gắn chặt với và bị quyết định chủ
yếu bởi sự phát triển của loại ngành hớng tới sự phát triển chủ yếu u thế về công
nghệ cao.
2.4 Chính sách khoa học công nghệ ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành
công nghệp, đây là cính sác tác động tực tiếp đến khoa học, công nghệ. Gắn khoa
học công nghệ với sản xuất tăng đáng kể vốn đầu t cho khoa học từ nhièu nguồn.
Chính sách xác định các mục tiêu và các biện pháp nhằm đạt đợc mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát huy vai trò động lực và công cụ của tiến bộ
khoa học công nghệ, thông qua hệ thống van bản, luật lệ, thể chế. Chính xác là cơ
6
chế pháp lí, tạo môi trờng và điều kiện, là khâu nối giữa mục tiêu phơng hớng và
kết quả đạt đợc.
Chính sách khoa học - công nghệ quy định lên việc hình thành và phát triển
khoa học công nghệ của quốc gia và của doanh nghiệp; mua hay tự làm công
nghệ, loại công nghệ mà quốc gia hay doanh nghiệp mua, nghiên cứu phù hợp với
điều kiện phát triển hiện có, trong tơng lai. Tiếp theo hình thành và phát triển năng
lực công nghệ là nhân lực cơ chế quản lí, nghiên cứu thử nghiệm, triển khai công
nghệ mới... Cơ cấu ngành thay đổi và phù hợp với chính sách.
phụ tùng và thị trờng tiêu thụ tình hình sản xuất có xu hớng giảm, song hiện nay
bắt đầu hồi phục. Ngành may giảm dần với tốc độ đều, từ năm 1985 - 1998 là 14%
tới 5, 16%. Ngành dệt năm 1985 là 2, 13% giá trị tổng sản lơng công nghiệp năm
1998 là 3, 05% (theo giá cố định năm 1989) . Mặc dù còn bị phụ thuộc vào
nguyên liệu nớc ngoài song ngành này cũng có thế mạnh của nó. Hơn nữa nó còn
là ngành có khả năng phát triển quan hệ gia công quốc tế, xuất khẩu trực tiếp và
xuất khẩu tại chỗ.
Các ngành công nghiêp chủ yếu ở nớc ta qua các thời kì phát triển ít có sự
thay đổi. về cơ bản vẫn là các ngành chế biến lơng thực nhng ngành này có xu h-
8
ớng hoạt động cầm chừng và giảm dần. ngoài ra còn có các ngành dệt, cơkhí, chế
tạo. bên cạnh đó các ngành có xu hớng tăng lên về giá trị sản lợng hay xu hớng v-
ơn lên thành ngành công nghiệp chủ yếu trong tong lai. Đáng chú ý là ngành hoá
chất, những năm gần đây đang có xu hớng chững lại và giảm dần do có khó khăn
cề thị trờng tiêu thụ, công nghệ và vốn đầu t. Ngành công nghiệp trớc đây là ngành
còn chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng gía trị sản lơng công nghiệp, và
những năm gần đây nó là ngành quan trọng.
Ngành công nghiệp năng lợng (theo giá cố định 1998)
Ngành
công nghiệp
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Điện năng
Nhiên liệu
7, 47
11, 07
7, 12
13, 94
6, 41
16, 35
dụng tơng đối ít tài nguyên thiên nhiên hơn, thuộc loại ngành này là các ngành cơ
khí, chế tạo lắp ráp máy công cụ, đóng tàu, chế tạo máy và lắp ráp ô tô, xe máy,
sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp. Tình hình chuyển dich cơ cấu kinh tế ngành công
nghiệp phu thuộc vào khả năng tài chính và sức mua (biểu hiện ở thu nhập quốc
9
dân tính theo đầu ngời) sự chuyển dịch ấy gắn liền với quá trình thay đổi lợi thế
so sánh khi giá lao động cao và khai thác tài nguyên phát triển mạnh, khi công
nghệ và trình độ lao động đợc nâng cao, các ngành có hàm lợng công nghệ và hàm
lợng vốn cao sẽ phát triển mạnh.
Các ngành thuộc nhóm thứ nhất là các ngành nhẹ, các ngành thuộc nhóm thứ
hai là các ngành nặng.
2. Thách thức lớn đối với công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, thách thc bao trùm hiện nay là tỉ lệ tăng trởng sản xuất công
nghiệp đang trong chiều hớng giảm sút, nhất là công nghiệp nội địa, trong đó đặc
biệt là công nghiệp địa phơng và tiểu thủ công nghiệp.
Thách thức thứ hai là sức cạnh tranh của công nghiệp đang rất kém ngay
trên thị trờng nội địa và lợi thế so sánh cũng đang mất dần, thể hiện rõ nhất ở chất
lợng sản phẩm kém giá thành cao, thậm chí rất cao. Đa số các ngành công nghiệp
sống nhờ vào bảo hộ của nhà nớc để cạnh tranh với hàng ngoại ngay trên thị trờng
nội địa. Sai lầm lớn nhất là ở khâu lựa chọn cơ cấu đầu t. Vấn đề cấp bách là phải
cơ cấu đầu t trong nội bộ công nghiệp theo hớng u tiên lựa cơ cấu đầu t chiều sâu
cho các sản phẩm còn có lợi thế cạnh tranh (công nghiệp chế biến, công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp mà sản phẩm còn có thị tr-
ờng có lợi thế canh tranh, công nghiệp nặng chỉ chọn các ngành có vai trò cấp bậc,
có điều kiện tài nguyên, tìm nguồn vốn đầu t và có hiệu quả kinh tế) .
Thách thức thứ ba là trình độ kĩ thuật và công nghệ của nhiều ngành công
nghiệp, nhất là công nghiệp địa phơng còn lạc hậu trong khi vốn đầu t quá thiếu
thốn. chỉ có ít doanh nghiệp nhà nớc trung ơng huy động đợc vốn để đẩu t theo
chiều sâu con đa phần không có vốn nên khó có khả năng đổi mới nhanh công
nhanh công nghệ và kĩ thuật để đáp ứng đỏi hỏi cạnh tranh trong thời gian tới.