TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN SÂN GOLF ĐẾN HỆ SINH THÁI Ở VIỆT NAM - Pdf 32

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TIỂU LUẬN MÔN STMT ỨNG DỤNG:
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN SÂN
GOLF ĐẾN HỆ SINH THÁI
Ở VIỆT NAM
CBGD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
LỚP: 11SMT01
SVTH:
1. Kiều Thị Lê Nga
2. Nguyễn Thị Hòa
3. Phan Dũng
4. Trần Hữu Tiến
1
1
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2011
MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU VỀ GOLF ...................................................................................3
2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN SÂN GOLF Ở VIẾT NAM ...........................5
2.1. Về tình hình sử dụng quỹ đất phát triển sân Golf ở Việt Nam .........................5
2.2. Về chi phí xây dựng và lợi nhuận từ sân Golf...................................................6
3. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC VÀ HÓA CHẤT CỦA SÂN GOLF .......6
3.1 Tổng quan về tình hình sử dụng nước, hóa chất tại sân Golf.............................6
3.2 Một số loại thuốc bảo vệ thực vật thường dùng tại sân Golf.............................8
4. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHU SÂN GOLF
ĐẾN HỆ SINH THÁI............................................................................................10
4.1. Tác động của việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.......................10
4.2. Tác động tới tài nguyên đất..............................................................................13
4.3. Tác động tới tài nguyên nước...........................................................................14
4.4. Tác động tới môi trường không khí..................................................................15
4.5. Tác động tới đa dạng sinh học..........................................................................15

tích tự
nhiên
(Nghìn
km
2
)
Dân số
(Triệu
người)
Số
lượng
sân
golf
(sân)
GDP/người
2007 (USD)
Lượng
khách
DLTB
năm
(tr.người)
Mật độ
DS/sân
golf
(Nghìn
người)
Mật độ
DTTN/sân
golf (km
2

2.1. Về tình hình sử dụng quỹ đất phát triển sân Golf ở Việt Nam
1
1
- Cả nước hiện có 144 dự án có mục tiêu kinh doanh sân golf đã được cấp
phép hoặc có chủ trương cho phép nghiên cứu thực hiện. Trong đó, hơn 140 dự án
sân golf chỉ có 41 dự án (7.095ha) được ghi rõ trong quy hoạch, còn lại là hoàn
toàn tự phát (57 dự án/18.746ha) hoặc lấn vào diện tích dành chung cho hoạt động
thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, cảnh quan môi trường (41 dự án/15.071ha).
- Theo quy hoạch của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng sân Golf được quy
hoạch đến 2020 sẽ là 90 sân nằm trên địa bàn 34/63 tỉnh, thành phố. Trong đó có
29 sân golf đang hoạt động, 21 sân đang xây dựng, 13 sân được cấp Giấy phép
chứng nhận đầu tư, 27 sân được chấp nhận chủ trương đầu tư. Trong số 90 dự án
sân golf nằm trong quy hoạch, chỉ 21 dự án là kinh doanh sân golf đơn thuần, còn
lại 69 dự án khác kết hợp bất động sản (BĐS) và khu du lịch, sân golf chỉ là một dự
án thành phần. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ 40% quỹ đất dành cho sân golf,
còn lại tập trung cho khu du lịch sinh thái, trung tâm thương mại đi kèm. Ví dụ như
sân golf Tam Nông (Phú Thọ) đất dự án là 2.000ha song đất xây sân chỉ gần 172ha,
đất xây sân golf trong tổng 1.200ha dự án Khu du lịch quốc tế Tản Viên (Hà Nội)
chỉ chiếm 200ha…
- Trong 64 dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường đã có
55 dự án được phê duyệt báo cáo, 9 dự án đang thực hiện.
2.2. Về chi phí xây dựng và lợi nhuận từ sân Golf
1
1
- Chi phí xây dựng trung bình của 01 sân golf khoảng 20- 50 triệu USD.
- Khả năng phục vụ 200 - 300 hội viên.
- Mức phí phải trả của một hội viên khoảng 100 USD/lượt chơi. Như vậy sân
golf không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Tiền thu từ khách đánh golf và các
dịch vụ liên quan chỉ đủ trang trải chi phí hoạt động. Lợi nhuận của sân golf chủ
yếu dựa vào kinh doanh bất động sản (bán và cho thuê biệt thự).

gây ung thư), chất xúc tác làm cứng đất để gia cố nền và bờ các hồ nhân tạo ở sân
Golf có sử dụng Acrylamide là chất cực độc đối với sinh vật và sức khỏe con
người. Tất cả các loại hóa chất này có thể ngấm xuống long đất, vào nước ngầm,
chảy tràn khi mưa sẽ đưa đến các vùng đất, nước mặt lân cận, gây nên trình trạng ô
nhiễm môi trường. Người sử dụng nước thải này hoặc nông sản được trồng cấy gần
khu vực sân golf có thể bị nhiễm độc và rối loạn chức năng hệ thần kinh trung
ương. Ngoài ra, khi phun hóa chất vào các thảm cỏ, một phần chúng phát tán vào
môi trường làm ô nhiễm không khí.
- Hiện nay các sân golf Việt Nam sử dụng 3 dạng phân bón: hữu cơ, vi sinh và
vô cơ. Tỷ lệ sử dụng các loại phân trên ở các sân có khác nhau nhưng trung bình là
70% vô cơ, 30% vi sinh + hữu cơ. Tỷ lệ này sẽ còn được thay đổi khi phân vô cơ
chỉ dùng cho cỏ sân đẩy.
- Phân vô cơ dùng cho cỏ ở các sân golf Việt Nam cũng là loại phân vô cơ
thông thường dùng cho lúa và cây hoa quả. (như Kali Clorua (KCL), Urê và đạm
tổng hợp NPK).
- Ngoài ra, còn có loại phân vô cơ chống côn trùng Pest, loại này dùng để
chăm sóc cỏ sân đẩy là chủ yếu nhưng do đắt tiền nên phần lớn các sân golf Việt
Nam ít nhập. Ngoài tính chất chống côn trùng nó còn có tính chất phân hủy chậm
đều, nhỏ giọt để đảm bảo không phí và lúc nào cỏ cũng có thức ăn.
- Với 147 ha sân golf Tam Đảo, mỗi năm người dân thôn Sơn Long (nơi có
sân golf Tam Đảo) phải hứng chịu khoảng 220,5 tấn hóa chất.
3.2 Một số loại thuốc bảo vệ thực vật thường dùng tại sân golf:
- Thuốc trừ sâu Carbaryl
Tên hoá học: 1-napthyl methylcarbamate
Nhóm hoá học: carbamate
Công thức hóa học: C
12
H
11
NO

Độ độc cấp tính: không độc
Sản phẩm phân huỷ: ETU, bền hơn Mancozeb (thời gian bán phân huỷ 5 – 10
tuần), có khả năng di động trong đất.
- Thuốc diệt nấm Thiophanate - methyl
Tên hoá học: Dimethyl [(1,2-phenylene) bis-(iminocarbonothioyl)] bis
[carbamate].
Nhóm hoá học: Benzimidazole precursor.
Công thức phân tử: C
12
H
14
N
4
O
4
S
2
Công thức cấu tạo:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status