LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tác động của tâm lý xã hội đối với
việc thực hiện chính sách dân số ở
nước ta hiện nay

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân số và sự tồn tại, phát triển của xã hội là hai vấn đề luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Nói đến vấn đề dân số không có nghĩa là chỉ nói tới mặt số lượng
mà còn bao gồm mặt chất lượng của dân số. Cùng với việc phát triển kinh tế- xã hội,
con người cần phải điều chỉnh các xu hướng dân số cho phù hợp với sự phát triển.
Quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân số và sự phân bố dân cư phù hợp sẽ tạo ra
những tiền đề và động lực quan trọng cho phát triển bền vững, ngược lại, sự gia tăng

là ngoại lệ. Có thể nói, sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách
dân số ở đây còn hết sức nặng nề. Qua thực tế nhiều năm công tác ở cơ sở với đặc thù
của công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị cùng với những kiến thức, kinh
nghiệm ban đầu đã tích lũy được là những lý do để người viết chọn đề tài: "Tác động
của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay" (qua
thực tế tỉnh Hải Dương) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ý thức xã hội, tâm lý xã hội, vấn đề dân số đã được các nhà khoa học,
các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đề cập dưới những góc độ khác nhau. Các
công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên
đề, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách báo Cụ thể
như:
- “Những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng tới mức sinh”, UBDS Hà nội 1991;
“KAP (Kiến thức- thái độ- thực hành)” UBQGDS (1993); “Tâm lý cộng đồng làng và di
sản”, Đỗ Long- Trần Hiệp (1993); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện
nay”, Đề tài KX. 07. 02 (1996) Phan Huy Lê- Vũ Minh Giang (Chủ biên); “ảnh hưởng
của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, Đề tài KX. 07. 03
(1997) Nguyễn Tài Thư (Chủ biên);
- “Nền sản xuất nhỏ Việt Nam và hậu quả của nó trong tâm lý dân tộc”, Tạp chí
Thông tin triết học, số2/ 1971, Tác giả Vũ Khiêu; “ý thức người sản xuất nhỏ và ý thức
hàng ngày”, Tạp chí Triết học, số2/ 1986, Tác giả Hồ Sỹ Quý; “Tâm lý “ trọng nam
khinh nữ” trong xã hội hiện nay”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 10/ 1995, Tác giả
Trần Thị Minh Đức; “ý thức xã hội với sự gia tăng dân số ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Lý luận chính trị, số 3/ 2005, Tác giả Nguyễn Thị Nga;

- “Sự tác động của phong tục tập quán đến mức sinh và giải pháp nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở Hà Nội”, Luận án phó
tiến sỹ khoa học Triết học (Chuyên ngành Xã hội học), Tác giả Nguyễn Quốc Triệu
(1994); “ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến trong cán bộ lãnh đạo và phương hướng
khắc phục nó”, Luận án tiến sỹ khoa học Triết học, Tác giả Nguyễn Bình Yên; “Tâm lý

- Nghiên cứu, đánh giá tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính
sách dân số ở Hải Dương hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khắc
phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước
ta nói chung và Hải Dương nói riêng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về lĩnh vực ý thức xã hội, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
việc xây dựng và hoàn thiện ý thức xã hội mới ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
* Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc,
điều tra khảo sát, thống kê - so sánh trong nghiên cứu và trình bày.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn có những đóng góp khoa học mới sau:
- Phân tích một cách có hệ thống tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện
CSDS ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dương).
- Đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã
hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chương trình,
chính sách phát triển kinh tế- xã hội, cũng như các mục tiêu, chương trình dân số ở các
địa phương nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng.
- Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các Trường
chính trị tỉnh, thành phố.

- Giúp cho những người làm công tác quản lý lãnh đạo xã hội có thể nhận thức,
đánh giá một cách đầy đủ hơn về tác động của tâm lý xã hội đối với những lĩnh vực khác
nhau của địa phương mình.

trọng tâm của chính sách dân số. ở một số nước phát triển, có tỷ lệ gia tăng dân số thấp,
thậm chí đang sụt giảm thì các biện pháp ưu tiên và truyền thông dân số lại thể nhắm đến
mục tiêu khuyến khích sinh đẻ.
Quan điểm thứ ba: Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc Học viện chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “ Chính sách dân số là hệ thống các biện pháp do nhà nước
tiến hành nhằm đạt được kiểu tái sản xuất dân số trong tương lai” [20, tr.207]. Như chúng
ta đã biết, tái sản xuất dân số là sự lặp lại thường xuyên quá trình vận động của dân số.
Trên thực tế có hai quan niệm về tái sản xuất dân số: quan niệm về tái sản xuất dân số
theo nghĩa hẹp và quan niệm tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng. Nếu mục tiêu và đối
tượng tác động là tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp thì ta có chính sách dân số theo
nghĩa hẹp, theo đó chính sách dân số chỉ tác động tới vận động tự nhiên (sinh sản, tử
vong) và vận động cơ học (di dân theo lãnh thổ). Còn khi mục tiêu và đối tượng tác động
là tái sản xuất theo nghĩa rộng, ta có chính sách dân số theo nghĩa rộng nghĩa là chính
sách dân số phải quan tâm tới cả 3 dạng vận động: vận động tự nhiên, vận động cơ học và
vận động xã hội (từ nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác hoặc nâng cao chất lượng
của nhóm về mặt xã hội). Quan niệm thứ ba hiện nay đang được dùng phổ biến hơn cả,
nó không chỉ phản ánh được nội dung cơ bản của chính sách dân số mà còn cho thấy tính
chất phong phú, đa dạng của chính sách dân số.
Trước đây, quan niệm phát triển thường nghiêng về những tiêu chuẩn kinh tế- kỹ
thuật thì ngày nay đang chuyển dần sang ý nghĩa phát triển xã hội, phát triển con người
và phát triển bền vững. Xem xét quan hệ dân số- phát triển thực chất là nhìn nhận dân số
theo quan điểm phát triển bền vững thông qua vai trò của con người. Dù quan niệm thế
nào thì con người vẫn luôn đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển. Phát triển con người
một mặt phát huy được tiềm năng của chính mỗi con người, mặt khác giúp cho việc khai
thác và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội
cũng như đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai.
Như vậy, “sinh đẻ có hướng dẫn”, “ sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia
đình” đều là biện pháp cơ bản để vươn tới mục tiêu cao hơn: mang lại cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Thực hiện tốt chính sách dân số
là một trong những giải pháp cơ bản để đạt tới sự phát triển bền vững.

Đây là thời kỳ đất nước còn đang bị chia cắt, chính sách dân số mới chỉ được
thực hiện ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Có thể nhận thấy ngay từ đầu, Đảng và nhà nước

ta đã rất chú ý tới vấn đề dân số, quan tâm tới số lượng cũng như chất lượng dân số “ vì
sức khỏe các bà mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái chu
đáo”. Mục tiêu của giai đoạn này là hướng tới quy mô gia đình 3 con, đối tượng vận động
chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và đã đông con, trước hết là nữ công nhân viên
chức nhà nước, trong các lực lượng vũ trang, phạm vi thực hiện chính sách dân số tập
trung ở thành thị, nông thôn đồng bằng Sông Hồng … kinh phí cho hoạt động dựa vào
ngân sách nhà nước cấp. Kết quả là tốc độ gia tăng dân số có giảm nhưng rất chậm, hiện
tượng gia đình đông con khá phổ biến. Quan niệm về chính sách dân số như thế còn rất
hạn chế, nhìn chung mới chú ý đến quy mô dân số mà rất ít quan tâm tới vấn đề chất
lượng dân số, chất lượng cuộc sống. Với điều kiện đặc biệt của lịch sử và ảnh hưởng của
cơ chế tập trung bao cấp lúc bấy giờ mà hiệu quả của việc thực hiện chính sách dân số
chưa cao.
- Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1984:
Đất nước thống nhất, dân số cả nước lúc này đã xấp xỉ 48 triệu người, gần gấp
đôi so với năm 1955. Chính sách dân số bắt đầu được triển khai trên phạm vi cả nước với
xu hướng đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Sau một thời gian tạm lắng, cuộc
vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được phát động một cách sôi nổi và được triển khai
rộng khắp trên toàn quốc chuẩn bị cho sự phục hưng nền kinh tế. Cũng trong giai đoạn
này, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình được xác định là vị trí quốc sách trong sự
nghiệp phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV khẳng định: “ Mọi ngành,
mọi cấp phải coi cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là công tác có tầm quan trọng to lớn,
có ý nghĩa chính trị kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của
nhân dân ta”.
Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ V: “ Phải quyết
định và thi hành chính sách dân số đúng đắn, trong đó một công việc cực kỳ quan trọng,
có ý nghĩa chiến lược kinh tế và xã hội, mà tất cả các tổ chức Đảng và chính quyền các
cấp phải hết sức quan tâm và trực tiếp chăm lo, là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh

hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước [65,
tr.11].
Nghị quyết số 47- NQ/ TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Thực hiện tốt các chính
sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Giảm tốc độ tăng dân số. Tiếp tục duy trì kế hoạch

giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao
chất lượng dân số” [11, tr.103].
Thời kỳ này đã đánh dấu sự thay đổi căn bản nhận thức và hành động của Đảng
và nhà nước ta về chính sách dân số. Vị trí quốc sách của chính sách dân số tiếp tục được
khẳng định trong văn kiện của hầu hết các đại hội Đảng và trong nhiều chính sách phát
triển kinh tế- xã hội khác. Việc thực hiện CSDS những năm gần đây ở nước ta đã đạt
được những thành tựu to lớn.
1.1.3. Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân số ở
nước ta những năm gần đây
1.1.3.1. Thành tựu
Việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có một quá trình lâu dài với nhiều
thành tựu và kinh nghiệm vô cùng quý báu. Đến nay, có thể đánh giá thành tựu trong việc
thực hiện chính sách dân số ở nước ta thời gian qua, nhất là những năm gần đây với các
mặt cụ thể như sau:
Thứ nhất, về mức sinh, tốc độ gia tăng dân số cơ bản đã được kiểm soát, điều này
được chứng minh thông qua mức sinh liên tục giảm trong nhiều năm gần đây. Kết quả
giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với dự kiến. Mục tiêu của " Chiến lược DS- KHHGĐ
đến năm 2000" là " giảm cho được tổng tỷ suất sinh xuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn,
quy mô dân số dưới mức 82 triệu người vào năm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm
2015". Thực tế đã chứng minh rằng, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX tỷ lệ
sinh không giảm, hoặc giảm rất chậm thì từ năm 1993 trở lại đây, tức là từ khi thực hiện
Chiến lược dân số đến năm 2000, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con vào
năm 1989 xuống 2,67 con vào thời kỳ 1992- 1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm 1999.

số- kế hoạch hóa gia đình rộng khắp từ trung ương tới cơ sở. Trình độ những người làm công
tác dân số được nâng lên rõ rệt, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách. Trang thiết bị
được tăng cường, hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tiễn được quan tâm. Chất
lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu của người sử
dụng hiện nay. Với những thành tựu như vậy, có thể nói Việt Nam đã tạo dựng được
những cơ sở mấu chốt nhất cũng như môi trường xã hội thuận lợi cho việc triển khai các
chương trình, chính sách dân số những năm tiếp theo.
1.1.3.2. Những hạn chế
Do chúng ta chưa nhận thức được hết tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của
công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình, ở một số nơi đã có những dấu hiệu của sự chủ

quan, thỏa mãn với những thành tích bước đầu trong công tác dân số- kế hoạch hóa gia
đình. Có không ít địa phương, chính quyền và cơ quan chức năng đã thể hiện sự thiếu
kiên quyết trong khâu tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, công tác dân số cũng bộc lộ một
số hạn chế. Những hạn chế tiêu biểu có thể kể ra đó là:
Một là, quy mô dân số nước ta vẫn ở mức cao và đang không ngừng tăng lên.
Đây đã và sẽ tiếp tục là thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Theo thống kê
của các tổ chức liên hợp quốc dân số Việt Nam hiện đang xếp thứ ba ở Đông Nam á
(đứng sau In- đô- nê- xia và Phi- Líp- Pin) và thứ 14 trên thế giới. Dự báo số phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 21,1 triệu người năm 2000 lên 25,5 triệu vào năm 2010.
Việt Nam lại là một nước có cơ cấu dân số trẻ, do vậy có thể nói tiềm năng sinh đẻ còn
rất lớn. Trong nhiều năm tới, cho dù mức sinh tiếp tục giảm song dân số tiếp tục tăng mỗi
năm khoảng từ 1 đến 1,1 triệu người. Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có mật
độ dân số cao trong khu vực và trên thế giới.
Hai là, mức sinh ở một số nơi vẫn còn ở mức cao và sự chênh lệch về mức sinh
giữa các vùng còn khá lớn, có khi lên tới từ 1,1 đến 1,9 lần. Việc giảm sinh diễn ra chưa
đồng đều. Từ năm 2000 mức sinh giảm sinh đã chững lại và không đạt chỉ tiêu quốc hội
giao là giảm tỷ lệ sinh là 5%o mỗi năm. Kết quả thực hiện chính sách dân số, kế hoạch
hóa gia đình giảm sút. Trong những năm 2003 và 2004 tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng mạnh trở
lại. Đặc biệt năm 2003, sự tăng đột biến của việc sinh con thứ 3 đã kéo theo tỷ lệ phát

tinh thần của đời sống xã hội là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản. Trong đời
sống tinh thần của con người thì tâm lý xã hội lại có một vị trí hết sức quan trọng.
ý thức xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, lý luận cùng những tình cảm,
tâm trạng, truyền thống của một cộng đồng người phản ánh tồn tại xã hội của họ [21,
tr.165].
ý thức xã hội là một bộ phận thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại
xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định theo những cách thức khác nhau và biểu
hiện bằng những hình thái ý thức xã hội cụ thể như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền,
ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo…Trong đó ý thức xã hội không chỉ được tồn tại dưới
dạng lý luận và quan điểm xã hội mà còn tồn tại như là những trạng thái của tình cảm,
xúc cảm, thói quen, tập quán …Căn cứ góc độ xem xét và với những tiêu chí khác nhau
người ta có thể có những cách phân chia ý thức xã hội thành những cấp độ khác nhau.
Thông thường, căn cứ vào trình độ phản ánh người ta phân chia kết cấu ý thức xã
hội bao gồm ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận. ở trình độ ý thức xã hội thông

thường, tâm lý xã hội là bộ phận chủ yếu, còn trong ý thức lý luận bộ phận chủ yếu đó là
hệ tư tưởng.
Triết học Mác- Lênin khẳng định: Tâm lý xã hội bao gồm những tình cảm, tâm
trạng, ý thích, mong muốn, cả những tập quán, truyền thống.v.v. được hình thành một
cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sinh sống hàng ngày [21, tr.167].
Là một phương thức tồn tại của ý thức xã hội, tâm lý xã hội không tồn tại độc lập
như một thành phần trong kết cấu của ý thức xã hội. Nó có mặt trong tất cả các hình thái
của ý thức xã hội: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mĩ …
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều là sự phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy
định của tồn tại xã hội. Tuy vậy, về cơ bản thì tâm lý xã hội thuộc cấp độ thấp của ý thức
xã hội. Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội thông thường nhưng nó lại có vị
trí rất quan trọng. Nếu coi tâm lý xã hội là cấp độ thấp của ý thức xã hội để rồi coi nhẹ
tâm lý xã hội là hết sức sai lầm. Giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, giữa tình cảm và lý
trí, giữa tri thức và nhiệt tình cách mạng luôn có sự thống nhất và sự tác động qua lại lẫn
nhau. Trong nhiều trường hợp sức mạnh của tư tưởng chỉ trở thành sức mạnh hiện thực

cấp của ý thức xã hội nói chung và tâm lý xã hội nói riêng. Trái lại, triết học Mác- Lênin
một mặt khẳng định tính phổ biến của tâm lý xã hội nhưng mặt khác cũng không phủ
nhận tính giai cấp của nó. Triết học Mác- Lênin còn khẳng định những tầng sâu của tâm
lý xã hội trong từng giai cấp. C.Mác và Ph. ăngghen viết: “ Giai cấp nào chi phối những
tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành
thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất vật chất cũng đồng
thời bị giai cấp thống trị đó chi phối [29, tr.66].
Tâm lý xã hội không chỉ mang tính giai cấp mà tâm lý xã hội còn bao gồm những
đặc điểm tâm lý dân tộc.
Tâm lý dân tộc là những đặc điểm về tình cảm, ý chí, tập quán, tính tình, thị
hiếu…, được hình thành do ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội và cả những điều kiện tự nhiên trong quá trình phát triển lâu dài của một dân
tộc. Những đặc điểm tâm lý dân tộc ăn sâu vào tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân
dân lao động và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành phong tục tập quán
nên những đặc điểm của tâm lý dân tộc thường tương đối ổn định. Tất nhiên, những thay
đổi có tính bước ngoặt trong điều kiện lịch sử, trong sinh hoạt chính trị, xã hội của một
dân tộc cũng có thể dẫn tới những thay đổi nhất định trong tâm lý xã hội của dân tộc đó.

Trong xã hội có giai cấp, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có mối lên hệ chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra cuộc đấu tranh tư tưởng rất phức tạp. Cũng
như toàn bộ ý thức của giai cấp thống trị, những đặc điểm tâm lý xã hội của giai cấp
thống trị chi phối cả tâm lý dân tộc và tâm lý xã hội của các giai cấp khác. Hơn nữa, tâm
lý của các giai cấp trong xã hội không tồn tại một cách cô lập mà trong mối quan hệ với
nhau. Đề cập về ảnh hưởng của tâm lý của các giai cấp trong lịch sử đối với tâm lý của
giai cấp công nhân, V.I. Lênin viết:
Họ (tức những người sản xuất nhỏ) bao quanh giai cấp vô sản từ mọi
phía bằng một bầu không khí tiểu tư sản, làm cho giai cấp vô sản bị tiêm
nhiễm, bị hủ hóa, luôn làm cho giai cấp vô sản tái phạm những tính xấu cố hữu
của giai cấp tiểu tư sản như: tính nhu nhược, tản mạn, chủ nghĩa cá nhân [25,
tr.46].

nhân sẽ quyết định tính phổ biến cũng như vai trò của tâm lý xã hội trong đời sống xã
hội.
Sự tác động của tâm lý xã hội đối với tồn tại xã hội là sự tác động thông qua tâm
lý cá nhân, trên cơ sở đó hình thành những tình cảm, ước muốn, thói quen và định hướng
và điều chỉnh hành vi của con người. Nếu quá nhấn mạnh điều kiện sinh sống cụ thể của
mỗi cá nhân, thổi phồng những nét riêng biệt thì không thể hiểu được bản chất đời sống
tinh thần của cá nhân, dẫn đến mơ hồ, lệch lạc trong việc đánh giá nhận thức và hoạt
động của cá nhân. Ngược lại, nếu chỉ chú ý tới mặt xã hội mà coi nhẹ đặc điểm tâm lý
riêng biệt của từng cá nhân thì cũng dẫn đến chủ quan, giản đơn trong việc xem xét tâm
lý cá nhân, do đó sẽ không thể giải thích được một thực tế là cùng sống trong một điều
kiện sinh hoạt vật chất nhất định nhưng những tình cảm, suy nghĩ và hành động của con
người lại có thể khác nhau. Mối quan hệ này được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội.
1.2.2. Những xu hướng biến đổi cơ bản của tâm lý xã hội và vai trò của nó
trong việc thực hiện chính sách dân số
1.2.2.1. Những xu hướng biến đổi của tâm lý xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, những biểu hiện và những xu hướng biến đổi của tâm
lý xã hội ở Việt Nam là rất phức tạp, nhiều chiều.
Xu hướng thứ nhất mang tính chủ đạo là quá trình hình thành những yếu tố tâm
lý xã hội mới. Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển. Sự ra đời của tâm lý xã hội mới
trên cơ sở đó là sự chuyển biến của những tâm lý xã hội cũ sang tâm lý xã hội mới đồng

thời nó còn là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất đang nảy sinh và phát triển.
Sự hình thành những tâm lý xã hội mới này góp phần to lớn vào quá trình nâng cao đời
sống tinh thần của con người, tạo điều kiện cho việc phát huy tính năng động tự chủ, thúc
đẩy tính tự giác của mỗi cá nhân, từ đó đẩy xã hội phát triển.
Chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay là kết quả
trực tiếp của những thay đổi về nhu cầu và các quan hệ lợi ích. Những thành tựu kinh tế
xã hội của hơn 20 năm đổi mới một mặt đã tạo điều kiện đáp ứng ngày càng tốt hơn
những nhu cầu thiết yếu của con người, mặt khắc nó cũng làm nảy sinh ra những nhu cầu

cực của nó cũng không nhỏ, đó là sự duy trì lâu dài nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc,
làm cho làng xã trở thành những đơn vị kinh tế khép kín, cản trở sự phát triển của sở hữu
tư nhân, hạn chế sự phát triển của công nghiệp, quan hệ hàng hóa- tiền tệ. Trong môi
trường kinh tế- xã hội đó cá nhân bị hòa tan vào cộng đồng, bị trói buộc trong những mối
quan hệ cổ truyền, chính vì thế mà cá nhân khó có cơ hội phát triển. Việc đề cao vai trò
của đời sống tình cảm, luân lý, đạo đức đã không chỉ làm hạn chế lý trí của con người mà
còn làm cho con người luôn bị “ giam hãm” trong các làng xã- công xã với vô vàn những
tập tục từ ngàn xưa, làm con người bị giảm thiểu nhu cầu, mất hết tính chủ động sáng tạo.
Những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống cũ cũng vì thế mà luôn có một sức sống lâu
bền và một vị trí đặc biệt trong xã hội. Khi phân tích về sự thống trị của Anh ở ấn Độ, đề
cập đến công xã nông thôn, C. Mác viết:
Những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dầu cho chúng có vô hại như thế
nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế
phương Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của con người trong
những khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành công cụ ngoan ngoãn
của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của những quy tắc cổ
truyền, làm cho nó mất hết sự vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử [32, tr.177].
Những tâm lý này về cơ bản đã hết vai trò lịch sử của nó, nhưng vì những lý do
nào đó mà nó vẫn tồn tại. Những tâm lý xã hội này cần phải từng bước được xóa bỏ.
Cũng phải nhấn mạnh rằng, để xóa bỏ những tâm lý xã hội này phải trải qua một quá
trình lâu dài, khó khăn.
Xu hướng thứ ba là sự kết hợp, đan xen giữa những yếu tố tâm lý xã hội cũ và
mới. Đây là xu hướng cần lưu tâm, nhất là đối với việc thực hiện chính sách dân số. Bởi
vì, nếu chỉ cần một tác động nào đó (ví dụ như chính sách, luật pháp hay nhận thức của
chủ thể hoạt động…) những tâm lý này có thể chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng

cũng có thể chuyển biến theo hướng hoàn toàn ngược lại, nhất là khi những yếu tố tâm lý
xã hội cũ được khơi dậy. Thực tế đã chứng minh, tâm lý xã hội bảo thủ, lạc hậu không tự
mất đi và cũng không mất đi ngay lập tức, trái lại nó có thể tồn tại trong một giai đoạn
lịch sử nhất dưới những hình thức khác nhau. Một yếu tố tâm lý xã hội nào đó, mặc dù

bị vượt qua”. Do đó, việc nhìn nhận tác động của tâm lý xã hội đối với sự phát triển
thường nghiêng về đánh giá tiêu cực. Tất nhiên, có mối quan hệ nhất định giữa tâm lý xã
hội với những cơ sở kinh tế- xã hội của giai đoạn trước và cũng gây ra nhiều tác động
không tốt đối với sự phát triển xã hội song vấn đề lại nằm ở năng lực khai thác và mục
đích sử dụng của chủ thể. Vai trò của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân
số ở nước ta hiện nay thể hiện ngay trong những tác động của tâm lý xã hội tới nhận
thức, tình cảm, thái độ … và hành vi của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số.
Thứ nhất, tác động tới nhận thức của mỗi cá nhân trong việc thực hiện chính sách
dân số. Một trong những đặc điểm của tâm lý xã hội là “ tính lây lan” nhanh và phạm vi
ảnh hưởng là rất rộng. Tâm lý xã hội càng có phạm vi ảnh hưởng rộng thì càng có xu
hướng thống nhất về nội dung các chuẩn mực, phán xét, đánh giá, càng làm cho người ta
nhận thức sâu sắc hơn về những vấn đề diễn ra trong xã hội. Trong điều kiện môi trường
xã hội lành mạnh, không có những lệch lạc về chuẩn mực và những thước đo giá trị xã
hội, các giá trị văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán được coi trọng thì nhân cách,
trình độ văn hóa của con người có điều kiện phát triển. Một xã hội phát triển sẽ dẫn dắt
hành vi con người theo những chuẩn mực giá trị. Ngược lại, trong sự khủng hoảng, suy
thoái, những giá trị văn hóa, tinh thần … bị coi nhẹ, hoặc tổn thương sẽ là “ mảnh đất
hiện thực” vô cùng màu mỡ cho những hành vi phản văn hóa, trái đạo lý. Tác dụng của
tâm lý xã hội ở đây đó chính là sức mạnh chuyển tải thông tin, tuyên truyền phổ biến các
giá trị, các quan điểm của của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về chính sách
dân số cũng như việc thực hiện chính sách dân số.
Thứ hai, tác động tới tình cảm, tâm trạng … thái độ của cá nhân trong việc thực
hiện chính sách dân số. Tình cảm, tâm trạng, xúc cảm và thái độ là những yếu tố cơ bản
của tâm lý cá nhân. Mặc dù về cơ bản nó được hình thành một cách tự phát dưới những
tác động của những điều kiện sinh sống hàng ngày, tuy nhiên nó cũng không tách rời
những yếu tố truyền thống, phong tục tập quán, những kinh nghiệm sống đã được tích lũy
trong quá trình lịch sử. Bản chất con người “ không phải là một cái trừu tượng cố hữu của
những cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó,bản chất người là tổng hòa những

quan hệ xã hội” [29, tr.11]. Tình cảm của cá nhân thường được bộc lộ dưới dạng những


hành vi của tâm lý xã hội khiến cho mỗi cá nhân phải đứng trước những sự lựa chọn nhất
định, phải suy nghĩ, đánh giá trước khi thực hiện một hành vi dân số nào đó. Hành vi đó
đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp? … Có thể thấy, tác động của tâm lý xã hội đối
với hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số chính là ở cách thức mà
con người lựa chọn cũng như thực hiện hành vi dân số của mình.
1.3. Những yếu tố cơ bản chi phối sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc
thực hiện chính sách dân số
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng, có thể làm giảm nhẹ hay trầm trọng hơn những
tác động của tâm lý xã hội, thậm chí giúp cho việc khai thác những tâm lý xã hội truyền
thống như một nhân tố “ có lợi” trong việc thực hiện chính sách dân số. Chúng ta có thể
chỉ ra những nhân tố cơ bản sau đây:
1.3.1. Hệ thống các cơ chế, chính sách và pháp luật
Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Thực tế cho thấy, sau khi
có pháp lệnh dân số 2003 được ban hành, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên lại
có xu hướng tăng mạnh. Có nhiều lý do đã được đưa ra để giải thích cho hiện tượng này
và một trong những lý do được nhắc tới nhiều nhất lại nằm ở nội dung của pháp lệnh dân
số. Trong pháp lệnh dân số, lần đầu tiên “ quyền sinh sản” của công dân được khẳng
định: “ Bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đìng trong
kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lựa chọn nơi cư trú và thực hiện các biện
pháp nâng cao chất lượng dân số” [44, tr.8- 9]. Điều 10 của pháp lệnh ghi rõ: “ Mỗi cặp
vợ chồng và cá nhân có quyền: Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách
giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao
động,công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình
đẳng”[44, tr 13].
Pháp lệnh Dân số 2003 thể hiện một bước tiến lớn trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn của Đảng và nhà nước ta. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể nước ta nó thực sự
chưa mang lại hiệu quả mong muốn. Như vậy là có một thực tế, một chính sách (mà cụ
thể là chính sách dân số) có thể phù hợp với xu hướng vận động và phát triển chung
nhưng có thể lại là chưa phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể. Sự phù hợp hay

cá nhân đối với xã hội.
1.3.3. Chế tài xử lý của pháp luật
Có thể nói để pháp luật dân số thực sự đi vào đời sống xã hội và ngày càng phát
huy hiệu quả thì ý thức pháp luật của người dân phải được nâng cao. Ngoài việc nâng cao

Trích đoạn Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân số và hiệu lực quản lý nhà nước về dân số Kịp thời nắm bắt những diễn biến tâm lý trong nhân dân Chú trọng công tác kiểm tra giám sát, xử lý kịp thời những biểu hiện vi phạm pháp luật dân số Tình hình thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình trong thời gian qua
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status