Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHOA
KINH TẾ TÀI CHÍNH Đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu
thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta
hiện nay”.
3
Lời nói đầu
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của
Nhà nước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó.
Do vậy, thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý
cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước mà trong đó thu thuế đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách
Nhà nước. Phải quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD như thế nào?
Đó là một câu hỏi cấp bách đặt ra cần có những giải pháp.
Thực hiện công cuộc đổi mới các thành phần kinh tế NQD hình thành
và phát triển góp phần quan trọng và việc thực hiện thành công các mục tiêu
kinh tế, xã hội do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, VII, VIII đề ra.
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định “Từ nay đến năm 2020, ra
sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế pháp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh XHCN, dân chủ
văn minh”. Để đạt được mục tiêu này cần phải sử dụng các giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD ở nước ta
hiện nay. Theo xu hướng phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, nên
kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế thị trường bao gồm nhiều thành phần
kinh tế trong đó có 5 thành phần kinh tế cơ bản đựơc phân tích trong Kinh tế
Chính trị Mác- Lênin
Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài sự chi phối của quy luật khách
quan của một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường
Có thể phân chia nền kinh tế thành hai khu vực. Kinh tế trong nước và kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó khu vực kinh tế trong nước lại chia thành
hai khu vực là khu vực Kinh tế Nhà nước và khu vực Kinh tế Ngoài quốc
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
5Chương I
khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh và Nội dung của quản lý thu thuế đối
với khu vực kinh tế
Ngoài quốc doanh
I. Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
1.Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ
trải qua một thời gian dài trong lịch sử. Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các
thành phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế
CNXH. Nhà nước XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần
kinh tế XHCN ngày càng phát triển và chiếm ưu thế, đảm bảo thắng lợi của
CNXH.
Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không quan
tâm đến sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế
khác trong đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh (NQD). Nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
tiềm lực kinh tế còn chưa mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng
nhất giữa các ngành các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa
qua khỏi chiến tranh. Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với
khả năng của sức sản xuất đang hết sức gay gắt. sự lựa chọn có phát triển kinh
tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế NQD hay không có tính chất quyết
khách quan của kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho các
mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân
có hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD
là thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ,
tương xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
7
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có
các chính sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy được vai trò của
mình trong tình hình kinh tế hiện nay.
2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật
chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu.
Khu vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình
làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như là: khu
vực thu hút nhiều lao động, đối tượng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế ở mọi nơi trong nước rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa
thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn
của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị trường mà vẫn chưa được
khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy
trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát
nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu
kém đồng thời khu vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nước
nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện hưởng ứng các phong trào
do Nhà nước, đoàn thể phát động như ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thương binh,
gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường xá đóng góp vào các quỹ an ninh,
đền ơn đáp nghĩa Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và
đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn.
2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho
xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều
tiềm năng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh
tế, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã
hình thành và huy động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây là một
nguồn vốn quan trọng, song khai thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực
kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối
quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống
ngân hàng trong công tác huy động vốn.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
9
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn
tại và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã
hội, giúp cho Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu
tư vào những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và
đời sống xã hội, tránh đầu tư phân tán, dàn trải Thực tiễn cho thấy có khu
vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không
tế NQD phải sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá
trị, do thị trường do nhu cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các
cơ quan quản lý, công chức Nhà nước không thể can thiệp vào quá trình sản
xuất kinh doanh của họ. Đây chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ
chế quản lý và phải luôn hoàn thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý
thức, tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nước. Vì
khu vực kinh tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, họ có
quyền quyết định phương án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của
Nhà nước thông qua pháp luật. Cán bộ công chức Nhà nước không có quyền
can thiệp vào công việc kinh doanh của họ. Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD
và công chức Nhà nước là quan hệ bình đẳng trước pháp luật.
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh,
câu hỏi đặt ra là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến
sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá
chất lượng cao, giá thành hạ.
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được
thay đổi từ quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi “khách
hàng là thượng đế” đã được hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý
trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
11
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu
vực kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật
khách quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của
những hậu quả tiêu cực làm cho tiềm lực kinh tế của đất nước không được
khai thác, lực lượng sản xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm không phát triển
được, đời sống nhân dân gặp khó khăn.
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận
điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Đại hội đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc
để đi tới CNXH một cách vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trước
hết là đổi mới tư duy kinh tế. Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán
lại hình thức, và bước đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy
được sức mạnh của các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất
nước giầu mạnh và cái đích vẫn là CNXH. Từ những phê bình về những biểu
hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế
của đất nước và vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế nhiều thành
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã đề ra chính sách sử
dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác. Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo XHCN là một
nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH với
những bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Cần phải “phát huy tác dụng tích cực của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần”.
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn được tiếp tục xác
định tại Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính
trị tại Đại hội Đảng CSVN lần IX khẳng định.
“Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài.
Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức
HTX tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất
kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
14
nguyên nghĩa như xã hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc
kế dân sinh, được Nhà nước khuyến khích, kiểm soát và hướng theo con
đường kinh tế tư bản Nhà nước.
Thành phần này bao gồm các đơn vị kinh tế phần lớn vốn của tư nhân
(cả trong và ngoài nước) đầu tư, hoạt động dưới hình thức xí nghiệp tư doanh,
hoặc công ty cổ phần được luật pháp quy định. Thành phần này có ưu điểm
mạnh về vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai
trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống.
Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân người sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế này là tư liệu sản xuất và sức
lao động được kết hợp trực tiếp bởi cùng một chủ thể. Mặc dù người sản xuất
được tự do sản xuất kinh doanh, nhưng vẫn chịu tác động trực tiếp của các
thành phần kinh tế khác và của thị trường. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt
chặng đường đầu, thành phần kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong
việc sản xuất dịch vụ, tư liệu sinh hoạt phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế
cá thể tồn tại độc lập, có thể liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế của các
thành phần kinh tế khác bằng nhiều hình thức, hoặc tham gia hợp tác xã tự
nguyện nếu người lao động thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước: là thành phần kinh tế mà chủ thể
của nó là tư bản Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh;
gồm các đơn vị kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dưới các hình thức công ty
hợp doanh, gia công, thuê tài sản Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá
điều luật trong hiến pháp, điều 15 Hiến pháp năm 1992 đã qui định “ Nhà
nước phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể là nền tảng”.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
16
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: “kinh tế ngoài
quốc doanh được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập
doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề
có lợi cho quốc kế dân sinh”. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là
làm cho dân giàu, nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và
tinh thần của nhân dân. Chính sách kinh tế của Nhà nước còn nhằm giải
phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nước và xã hội đã chính thức
thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên,
nếu chỉ công nhận khu vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì chưa đủ mà cần phải
định hướng cho khu vực kinh tế NQD phát triển theo đúng đường lối của
Đảng, đúng mục đích đã định ra không để kinh tế NQD phát triển tự phát,
chệch hướng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đường lối của Đảng, Hiến pháp
thành những chính sách cụ thể. Trong những năm qua Nhà nước đã nghiên
cứu, ban hành các chính sách cụ thể tạo hành lang pháp lý cho kinh tế NQD
phát triển, đồng thời liên tục chỉnh lý cho các chính sách thật phù hợp với đời
sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm năng của khu vực kinh tế này. Trong các
chính sách đó đáng chú ý là:
Việc ban hành các luật thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế là sự
thể hiện rõ nét nhất tính chất bình đẳng của các thành phần kinh tế trong cạnh
tranh. Trước năm 1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nước ta
áp dụng ba chính sách thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh
tế Nhà nước áp dụng chính sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu
vực công thương nghiệp và dịch vụ NQD áp dụng chính sách thu thuế công
thương nghiệp và thuế hàng hoá, khu vực nông nghiệp áp dụng chính sách thu
thuế nông nghiệp. Ngay khu vực ngoài quốc doanh công thương nghiệp và
dịch vụ cũng có sự phân biệt giữa kinh tế tập thể và kinh tế cá thể, theo
khuynh hướng khuyến khích kinh tế tập thể bằng ưu đãi khi tính thuế, miễn
giảm thuế
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
18
Để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường, cần phải có một chính sách thuế thống nhất để
tạo điều kiện cạnh tranh công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các
luật thuế áp dụng chung cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế là kịp thời và cần thiết. Về nguyên tắc chung, hệ thống chính
sách thuế mới đã đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, khuyến khích sản
xuất phát triển, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
- Ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về
chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi
người dân bỏ vốn sản xuất kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong
nước cũng ban hành luôn các danh mục ngành nghề, danh mục các địa bàn
khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề và
từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được
các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế NQD quan tâm và hoan nghênh.
- Khu vực kinh tế NQD có số đông người lao động là trình độ văn hoá
thấp dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những người
lao động ở khu vực này có cả những người già, cán bộ công nhân viên nghỉ
hưu, nghỉ mất sức hoặc không có công việc làm phải kinh doanh để kiếm
sống Do đó việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó
khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ,
thiếu thông tin về thị trường vì vậy khó ứng phó được với tác động thị
trường bên ngoài.
- Khu vực kinh tế NQD có ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Tình
trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh
tương đối phổ biến. Theo số liệu điều tra liên ngành thì năm 1997 có 65% số
hộ kinh doanh là không đăng ký, 25% số doanh nghiệp kinh doanh vi phạm
về đăng ký kinh doanh Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi phạm
chế độ sử dụng lao động như không đóng bảo hiểm xã hội Cũng tương tự
như trên có 1 bộ phận không nhỏ số hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế,
không đăng ký nộp thuế đối với các doanh nghiệp NQD cũng có tình trạng
tương tự, nhiều doanh nghiệp xin thành lập nhưng không hoạt động, còn tình
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
20
trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không đúng thực tế nhằm mục
đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn
nhẹ, năng động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế
song quy mô nhỏ do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích
ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa
học kỹ thuật, đồng thời trong các doanh nghiệp số lượng lao động ít và
thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp
+ ở các cơ sở kinh doanh trên có cửa hàng, điểm kinh doanh dịch vụ ở
nhiều nơi khác nhau, thì cửa hàng đó phải nộp thuế môn bài theo mức 325
nghìn đồng/năm.
- Các đối tượng khác nộp thuế môn bài theo biểu sau.
Các đối tượng khác gồm:
+ Hộ sản xuất kinh doanh cá thể.
+ Cán bộ công nhân viên, xã viên hợp tác xã, người lao động trong
các doanh nghiệp NQD nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu
trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
+ Nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm xã viên Hợp tác xã, nhóm
người lao động nhận khoán nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại
kinh doanh riêng rẽ, từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài
riêng.
+ Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các công ty Cổ phần,
công ty TNHH nhưng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập
chỉ nộp một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý
chung thì thuế môn bài thu theo từng thành viên.
Bảng 1: Biểu thuế môn bài áp dụng cho đối tượng khác nộp thuế
Đơn vị tính: nghìn đồng
Bậc thuế Thu nhập/ tháng Mức thuế cả năm
1 Trên 1250 850
2 Trên 900 đến 1250 550
3 Trên 600 đến 900 325
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
22
4 Trên 350 đến 600 165
5 Trên 150 đến 350 60
đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, khuyến khích hiện đại hoá, chuyên
môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ gía thành sản phẩm
- Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở nước
ta kể cả hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội
bộ hay làm quà biếu, tặng, đem trao đổi trừ 26 mặt hàng được quy định trong
luật thuế GTGT.
- Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân (không phân biệt thành
phần kinh tế) có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ. Đối tượng phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp thuế theo hạn
thời hạn ghi trong báo cáo nộp thuế của cơ quan thuế, chậm nhất không quá
ngày 25 của tháng tiếp theo. Hết năm phải kê khai để quyết toán thuế.
- Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Khi bán hàng hoá
hay cung cấp dịch vụ trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng chưa có thuế
GTGT, tiền thuế GTGT phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT.
- Về thuế suất: Có 4 mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá,
dịch vụ.
+ Mức 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ cần khuyến khích
sản xuất tiêu dùng cần thiết cho nhu cầu đời sống.
+ Mức 10% áp dụng đối với các hàng hoá và dịch vụ phổ thông.
+ Mức 20% áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ không khuyến
khích cần điều tiết cao
- Về phương pháp có 2 phương pháp: Khấu trừ thuế và tính trực tiếp
trên GTGT:
+ Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng đối với mọi cơ sở kinh
doanh phải thực hiện chế độ hoá đơn GTGT và sổ sách kinh doanh, có căn cứ
xác định thuế đầu ra và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừ thuế:
Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
đủ điều kiện xác định giá tính thuế theo hợp đồng hay giá ghi trên hợp đồng
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay
25
quá thấp so với giá mua bán tối thiểu tại cửa khẩu và đối với hàng hoá xuất,
nhập khẩu theo phương thức khác không phải là mua, bán, không thanh toán
qua ngân hàng) thì giá tính thuế là giá mua, bán tối thiểu tại cửa khẩu.
- Về chính sách miễn giảm thuế:
Ngoài các đối tượng được miễn giảm thuế sau khi đã làm thủ tục hải
quan như: hàng Viện trợ không hoàn lại, hàng là tài sản di chuyển, hàng trong
tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của khách nhập cảnh Luật thuế xuất, nhập
khẩu hiện hành còn quy định những đối tượng sau được xét miễn giảm thuế:
hàng chuyên dùng cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu giáo dục và đào tạo
Quy định nói trên cho thấy chính sách miễn giảm thuế hiện nay còn khá
rộng rãi so với các nước trong khu vực làm cho chính sách thuế thiếu tính
minh bạch, giảm tính trung lập của thuế.
1.4. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Như các luật thuế khác, luật thuế TTĐB quy định mọi tổ chức cá nhân
không phân biệt thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh
doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB là đối tượng nộp thuế TTĐB.
Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và
thuế suất.
1.5. Các sắc thuế khác
Ngoài các sắc thuế nói trên, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải nộp
các khoản thuế khác như thuế nhà đất, thuế tài nguyên Tuy nhiên vì các
khoản này không phát sinh thường xuyên hay rất nhỏ nên không trình bày kỹ
mục đích ý nghĩa, nội dung chính sách thu.
2- Nội dung quản lí thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh