LUẬN VĂN:
Giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền
lực nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào là một nước dân chủ. Nhà nước
Lào là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính quyền từ bản (làng) đến Chính phủ đều
là của dân, do dân bầu ra. Đoàn thể từ Trung ương đến địa phương do dân tổ chức ra. Mọi
quyền hành và lực lượng của Nhà nước đều là ở nơi dân.
Những luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản chất của mô hình: nhà nước
do dân thiết lập và trao quyền lực. Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân. Quyền
lực đó thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà
nước, trong đó có bộ máy cưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp luật.
Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, Nhà nước trở thành một bộ máy có quyền
lực lớn, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp, khi quyền lực nhà nước không được
giám sát, Nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên xã hội, xa lạ với xã hội, trở thành một lực
lượng ăn bám xã hội. Trong nhiều thời kỳ, Nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát
triển của xã hội.
Quyền lực nhà nước luôn có xu hướng thay đổi. Ngay từ thời cổ đại Aristote đã nói
đến sự biến chất, chuyển hóa của các Chính phủ, sự chuyển hóa từ hình thức chính phủ
này sang hình thức khác là một sự chuyển hóa tự nhiên, có nguyên nhân từ trong chính tổ
chức của mỗi một hình thức nhà nước. Cho đến Machiavelli, Hobbes, Locke, Montesquieu
và Rousseau đều đề cập đến một nguy cơ của quyền lực nhà nước là dễ bị tha hóa dẫn tới
sự chuyên quyền, độc đoán, xâm phạm tới tự do của con người. Vì vậy, một trong những
nhiệm vụ quan trọng trong thiết chế tổ chức nhà nước là phải thiết lập được các cơ quan
giám sát quyền lực nhà nước để chống chuyên chế, đảm bảo tự do của con người.
Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước Lào đã quan tâm đến giảm sát quyền lực nhà nước để
Bên cạnh đó, khi bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tổ
chức và hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước nói chung, các thể chế giám sát (kiểm
tra, thanh tra, kiểm sát, tài phán, giám sát) quyền lực nhà nước nói riêng từ Trung ương
đến cơ sở có nhiều điểm bất cập như sự chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền. Trách nhiệm của tập thể và cá nhân chưa được quy định chặt chẽ.
Vì những lý do trên, vấn đề giám sát quyền lực nhà nước ở nước Lào đã trở thành
yêu cầu cấp bách, đòi hỏi phải được giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để góp phần
tìm ra các giải pháp tăng cường giám sát quyền lực nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, chống tha hóa quyền lực, đẩy mạnh thực hành dân chủ trong xã hội, bảo đảm
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân lao động trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa,
tôi chọn vấn đề “Giỏm sỏt xó hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Cộng hũa
dõn chủ nhõn dõn Lào hiện nay’’ làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, vấn đề giám sát quyền lực nhà nước trong khoa học luật học thế giới,
mà đặc biệt là khoa học pháp lý phương Tây đã nghiên cứu nhiều cả về lý thuyết và
thực tế. Đối với nước Lào thì giám sát quyền lực nhà nước là vấn đề còn mới mẻ, chưa
có nhận thức thống nhất. Vì vậy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về giám
sát quyền lực ở Lào không nhiều. Phần lớn lại được tổng kết từ các hoạt động giám sát
của Quốc hội, kiểm tra Đảng và thanh tra nhà nước…
ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến giám sát quyền lực nhà
nước. Các công trình chủ yếu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể của công tác kiểm tra, thanh
tra, kiểm sát, giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước ở cả cấp Trung ương, cấp
tỉnh, thành. Có thể nêu lên một số công trình như:
- Phạm Ngọc Kỳ (2000), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
- Đào Trí úc (chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền
lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân Hà Nội.
- “Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước Việt Nam hiện nay”, do Viện
Lào.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm góp phần thực hiện giám sát xã hội
đối với quyền lực nhà nước ở Lào hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, trong phạm vi nghiên cứu luận văn thạc sĩ đã đi
sâu nghiên cứu nội dung, hình thức giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước của một số
chủ thể đặc thù theo pháp luật hiện hành của Lào.
- Thời gian từ năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở:
- Vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào về nhà nước và thực thi quyền lực
nhà nước, về công tác kiểm tra, giám sát.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê, tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp khoa học mới của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống về giám sát xã hội đối
với quyền lực nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Vì vậy, luận văn có những
đóng góp khoa học mới cụ thể sau:
- Chỉ ra đặc điểm, nội dung, hình thức giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước
ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
- Đánh giá được kết quả, hạn chế và nguyên nhân giám sát xã hội đối với quyền lực
nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về bảo đảm giám sát xã hội đối với quyền lực
nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học pháp lý Lào.
- Những giải pháp mà luận văn đưa ra có thể được áp dụng trong thực tiễn góp
Theo nghĩa hẹp, giám sát xã hội được hiểu là một loại giám sát trong cơ chế tổng
thể về giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, loại giám sát này đặc
trưng bởi chủ thể giám sát là các tổ chức và cá nhân bên ngoài nhà nước chứ không phải
do chính nhà nước thông qua các cơ quan của mình để thực hiện. Các chủ thể giám sát ở
đây với đặc tính xã hội có thể là những thành tố độc lập nhỏ nhất (cá nhân) hoặc những
nhóm xã hội (do các cá nhân tập hợp lại tạo nên).
Để nghiên cứu giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước
CHDCND Lào, luận văn này đã tiếp cận giám sát xã hội theo nghĩa hẹp. Đó là khái niệm chung
để chỉ những hoạt động giám sát có cùng tính chất, do các chủ thể đặc thù thực hiện,
như: các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các tập thể lao động và của công dân
(trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, các diễn đàn báo chí, dư luận xã hội) trong việc
quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội. Sự ghi nhận của pháp luật đã tạo ra cho
giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể lao động và công dân
tồn tại trên thực tế ở nước CHDCND Lào với vị trí, vai trò là một loại giám sát, có đầy
đủ các yếu tố phân biệt với giám sát của các cơ quan nhà nước.
Giám sát xã hội là hình thức kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện. Tính trực tiếp biểu hiện ở việc người dân không thông qua cơ quan nhà nước trung
gian nào mà trực tiếp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động quyền lực nhà nước. Tính gián
tiếp biểu hiện ở việc giám sát không phải là làm thay chức năng của quyền lực nhà nước
hay trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước; giám sát xã hội chỉ là hình thức thông qua đó để
góp ý, chấn chỉnh hoạt động của cơ quan nhà nước trong tổ chức thực thi quyền lực nhân
dân giao cho.
Một đặc điểm trong hệ thống chính trị và xã hội của Lào là bộ phận lớn dân cư cả
nước được tập hợp trong các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các tập thể lao
động phù hợp. Các tổ chức và tập thể đó hầu hết lại được liên hiệp lại trong Mặt trận Lào
xây dựng đất nước, cùng với những cá nhân tiêu biểu đại diện cho mọi tầng lớp dân cư.
Điều đó làm cho Mặt trận Lào có cơ sở rộng rãi nhất mà không một chủ thể xã hội nào có
được. Giám sát của Mặt trận Lào và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, các tập thể
1.1.2. Đặc điểm giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước
Là một loại giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, giám sát xã
hội ở nước CHDCND Lào có những đặc trưng chủ yếu sau:
a) Về chủ thể: chủ thể của giám sát xã hội là những cá nhân, tổ chức không mang
quyền lực nhà nước. Đó là công dân và các tổ chức, tập thể do các công dân thành lập hoặc tham
gia. Trong hệ thống chính trị nước CHDCND Lào hiện nay, chủ thể của giám sát xã hội
bao gồm:
+ Mặt trận Lào xây dựng đất nước: Mặt trận Lào là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội
nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Lào sống ở nước
ngoài.
+ Các tổ chức chính trị - xã hội: Đây chính là 4 trong số các tổ chức thành viên của
Mặt trận có vai trò nhất hiện nay: Liên đoàn công đoàn Lào, Hội liên hiệp phụ nữ Lào,
Đoàn thanh niên NDCM Lào, Hội cựu chiến binh Lào. Tính chất chính trị - xã hội trong
mối quan hệ với nhà nước là yếu tố phân biệt 4 tổ chức nay với các tổ chức khác trong xã
hội.
+ Các tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội là tên gọi chung để chỉ các tổ chức tự nguyện
của quần chúng nhưng không phải là tổ chức chính trị- xã hội nêu trên. Trong thực tế, các
tổ chức xã hội mang nhiều tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp các hội, hội liên hiệp, tổng hội,
liên đoàn, hiệp hội,… Tất cả đều có những đặc điểm chung, như: là tổ chức tự nguyện của
quần chúng; tập hợp đông đảo người cùng ngành nghề, hoặc cùng giới, cùng sở thích,…
cùng góp kiến thức, sức lực và hành động một cách thường xuyên để đạt mục đích nào đó.
Tổ chức và hoạt động của hội không được trái với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của
Tổ quốc, của chế độ và được pháp luật công nhận. Đa số các hội có điều lệ và nhiều hội có
tư cách pháp nhân.
+ Các tập thể lao động: là những tập hợp người trong những không gian, thời gian
hay quan hệ ràng buộc nhất định tạo thành những nhóm (chính thức phi chính thức) để nói
tính cưỡng chế của quyền lực nhà nước. Trong các văn bản quy phạm pháp luật ở
CHDCND Lào, giám sát xã hội thường được gọi là giám sát “mang tính nhân dân”, “hỗ
trợ” cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của nhà nước. trong giám sát xã hội, các chủ
thể giám sát chủ yếu áp dụng các biện pháp tác động mang tính giáo dục, thuyết phục, kiến
nghị, phòng ngừa. Nếu như giám sát của các cơ quan nhà nước đặc trưng bởi tính pháp lý
cụ thể trong từng quy định về thẩm quyền, đối tượng, thủ tục, quy trình giám sát thì giám
sát xã hội lại đặc trưng bởi tính xã hội - chính trị trong toàn bộ các nội dung và hình thức,
phương pháp giám sát. Giám sát xã hội không đi quá sâu vào các hiện pháp nghiệp vụ mà
thiên về đánh giá ý thức, nhận thức, thái độ hành vi, thể hiện sự phản kháng, bất bình và
với những sai phạm của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình phục vụ xã
hội, phụng sự nhân dân, đánh giá về năng lực điều hành của các cơ quan, cá nhân có chức
vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước.
c) Về mục đích: Giám sát xã hội chủ yếu nhằm phòng ngừa, phát hiện vi phạm pháp
luật để đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện
pháp loại trừ những nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật và kỷ cương kỷ luật nhà
nước.
d) Về đối tượng và khách thể: Giám sát của các cơ quan nhà nước thường được quy
định cụ thể về đối tượng chịu sự giám sát gắnvới thẩm quyền giám sát của từng chủ thể
nhất định (Ví dụ: Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội giám sát cơ quan hành chính nhà
nước ở trung ương, ở địa phương). Theo đó, khách thể trong quan hệ giám sát do các cơ
quan nhà nước thực hiện cũng thường có tính cụ thể (là những trạng thái hoạt động bình
thường, đúng pháp luật của các cơ quan mang quyền lực nhà nước chịu sự giám sát).
ngược lại, giám sát xã hội được thực hiện đối với toàn bộ hoạt động tổ chức và thực hiện
quyền lực nhà nước. Các chủ thể xã hội có quyền giám sát đối với tất cả các cơ quan trong
bộ máy nhà nước, trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giám sát xã hội có
thể từ lúc bắt đầu lập ra các cơ quan nhà nước (ví dụ: Giám sát trong quá trình bầu cử đại
biểu Quốc hội, giám sát trong quá trình tham gia bổ nhiệm thẩm phán, bầu hội thẩm nhân
dân,…) đến khi các cơ quan đó đã hình thành và hoạt động. So với giám sát của nhà nước,
Giám sát đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước không có mục đích tự thân,
không phải là việc mà bên ngoài áp đặt vào quyền lực nhà nước mà là chức năng và nhu
cầu phát sinh khách quan, tất yếu từ bản thân quyền lực nhà nước. Chính bản chất, mục
đích và đặc điểm của quyền lực nhà nước là cái quy định về số lượng, tính chất, nội dung,
các loại giám sát đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi nước trên thế giới.
Trong các thể chế chính trị mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bản chất và
mục đích của quyền lực nhà nước xác định là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” thì
giám sát của nhân dân - giám sát xã hội - có vị trí, vai trò rất quan trọng, thể hiện qua
những nội dung chính sau đây:
Một là, giám sát xã hội góp phần bảo đảm duy trì sự thống nhất, kiên định về
bản chất cũng như mục tiêu, định hướng của quyền lực nhà nước ở một Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quy luật của quyền
lực cho thấy tuy quyền lực nhà nước là của nhân dân tro cho bộ máy nhà nước để thực
hiện chức năng quản lý xã hội nhưng xu hướng của quyền lực đó lại dễ bị lạm dụng và
tha hoá, dễ xa rời bản chất nhân dân nếu không được chấn chỉnh kịp thời và đúng lúc.
Giám sát là phương tiện để làm giảm nguy cơ chệch hướng về bản chất giai cấp của nhà
nước, trong đó giám sát xã hội là giám sát của chủ thể quyền lực đối với bên được ủy
quyền thực thi quyền lực, giám sát đẻ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của
nhân dân.
Hai là, giám sát xã hội thể hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa xã hội công
dân với nhà nước trong Nhà nước pháp quyền. ở đó vai trò giám sát của xã hội công
dân phải được bảo đảm và phát huy bằng những cơ chế hiện thực. Quá trình vận hành
bộ máy quyền lực nhà nước luôn phải tiếp cận và giải quyết các vấn đề của dân, vì vậy,
đây còn là sự giám sát trực tiếp, thường xuyên, đa dạng đa chiều, theo sát sự sinh động
của đời sống quyền lực nhà nước trên thực tế. Mặt khác, quyền lực nhà nước do những
cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thực thi; đồng thời trong các nhà nước hiện đại
luôn có sự phân công, phân cấp và phân quyền. Khi đã có phân công, phân cấp, phân
quyền thì phải theo dõi, kiểm tra xem các cơ quan đó có làm đúng chức năng, nhiệm vụ
tra của Nhà nước, giám sát kiểm tra của Đảng để hiệu quả của giám sát ngày càng tốt hơn.
1.2. Nội dung, hình thức giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước
của các chủ thể
1.2.1. Nội dung và hình thức giám sát xã hội chung
a. Nội dung của giám sát xã hội
Giám sát của các cơ quan nhà nước thường được pháp luật giới hạn rõ phạm vi nội
dung thực hiện quyền giám sát phù hợp với vị trí, chức năng và thẩm quyền của từng cơ
quan trong bộ máy nhà nước. Ngược lại, với vai trò chủ thể tối thượng của quyền lực nhà
nước, về nguyên tắc, nhân dân có quyền giám sát đối với tất cả mọi nội dung của hoạt
động quyền lực nhà nước. Nói cách khác, giám sát xã hội được áp dụng đối với tất cả các
quá trình và phạm vi thực hiện quyền lực nhà nước, trên các lĩnh vực cơ bản như sau:
- Giám sát quá trình bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thành lập các cơ quan
khác của bộ máy nhà nước.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước; đây thực
chất cũng là hệ thống cơ quan nắm giữ chủ yếu quyền lập pháp.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan chấp hành - điều hành hay còn gọi là
hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, nằm giữ quyền hành pháp trong nhà nước, trực
tiếp quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, nắm giữ quyền tư pháp mà
trọng tâm là hoạt động xét xử của các tòa án nhân dân.
Từ 4 lĩnh vực cơ bản trên, giám sát thực hiện với những nội dung cụ thể sau:
- Giám sát việc thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, giới hạn thẩm quyền
của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan khác và với nhân dân.
- Giám sát đối với tính hợp hiến, hợp pháp và tính hợp lý của các quyết định, hành
vi mang tính quyền lực nhà nước được ban hành.
- Giám sát việc tuân thủ và tổ chức thực hiện các văn bản mang tính quyền lực nhà
nước đã được ban hành bởi cơ quan cơ thẩm quyền.
- Giám sát đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do và các lợi ích của công
1.2.2. Nội dung, hình thức giám sát của Mặt trận Lào xây dựng đất nước và
các tổ chức thành viên đối với quyền lực nhà nước
a) Quyền giám sát của Mặt trận và các tổ chức thành viên: Điều 7 của Hiến pháp
năm 2003 quy định:
Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các tổ chức thành viên( công doàn Lào, đoàn
thanh niên NDCM Lào, liên hiệp phụ nữ Lào, Hội cựu chiến binh Lào) và các cơ
quan tổ chức chính trị là nơi tập hợp sự đoàn kết toàn dân và huy động tầng lớp nhân
dân các dân tộc tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước, phát huy chủ quyền nhân dân,
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên trong cơ quan tổ chức mình
[42, tr.3].
Trên cơ sở nguyên tắc hiện định này, pháp luật có những quy định cụ thể để thực
hiện quyền giám sát của Mặt trận và các tổ chức thành viên.
b) Về chủ thể giám sát: chủ thể giám sát là Uỷ ban Mặt trận Lào xây dựng đất nước và
các tổ chức thành viên của Mặt trận. Khi thực hiện quyền này, Mặt trận nói chung và các thành
viên tuân theo nguyên tắc “Hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, các thành
viên của Mặt trận Lào tuân theo Điều lệ của Mặt trận; đồng thời các tổ chức thành viên vẫn duy
trì tính độc lập của tổ chức mình.
Mặt trận Lào xây dựng đất nước có các thành viên: Tổ chức chính trị (Đảng Nhân dân
Cách mạng Lào) đồng thời là người lónh đạo; các tổ chức chính trị - xó hội (cỏc tổ chức quần
chỳng của Đảng: Liên hiệp Công đoàn, Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên nhân dân cách
mạng và Hội cựu chiến binh), Quân đội nhân dân Lào, Liên hiệp Phật giáo Lào, đại diện của
các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, các giới và người Lào ở nước ngoài và một số tổ chức xó
hội…
Các tổ chức xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc có thể thực hiện quyền giám
sát của mình thông qua Mặt trận; đồng thời có quyền giám sát một cách độc lập. ví dụ:
công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động”,
Điều lệ về tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (Ban tổ chức trung ương Đảng) phê chuẩn như Hội Liên hiệp phụ nữ Lào,
trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước.
- Giám sát hoạt động tư pháp theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật
tố tụng dân sự, việc lựa chọn, giới thiệu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, các chức danh tư
pháp khác.
1.2.3. Nội dung, hình thức giám sát của công dân đối với quyền lực nhà nước
a. Quyền giám sát của công dân đối với hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực
nhà nước.
Hiến pháp hiện hành của Lào quy định 12 quyền về chính trị của công dân, trong số
đó, có các quyền liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện quyền giám sát của công dân
đối với quyền lực nhà nước. Đó là: Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền
tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền kiến nghị với cơ
quan nhà nước; quyền khiếu nại; quyền tố cáo (Điều 41).
Pháp luật chưa có quy định rõ một cách khái quát hóa những nội dung giám sát của
công dân đối với quyền lực nhà nước nhưng thông qua các quy định nêu trên có thể thấy
công dân có quyền giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà
nước và cán bộ, công chức của nhà nước.
b. Các hình thức công dân tự mình thực hiện quyền giám sát
- Giám sát dưới hình thức kiến nghị đối với cơ quan nhà nước. Đây là việc làm thể
hiện tính tích cực, chủ động của công dân.
- Giám sát thông qua việc khiếu nại, tố cáo. Luật khiếu nại, tố cáo quy định cụ thể
quyền và trình tự, thủ tục để người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, trong đó, tính
giám sát thể hiện rõ khi công dân thực hiện quyền tố cáo.
- Giám sát thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri. Thông qua tiếp xúc cử tri của các
đại biểu dân cử, công dân giám sát trực tiếp đại biểu và cơ quan dân cử đó (nghe báo
cáo, chất vấn hoạt động), đồng thời, cũng thông qua các đại biểu dân cử để giám sát
các
cơ
động có hiệu quả, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo quy định của pháp luật, về lĩnh vực giám sát, các hội có quyền: Tư vấn, phản
biện các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của hội theo đề nghị của các tổ chức, cá nhân;
Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt động
của hội theo qui định của pháp luật; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối
với các vấn đề liên quan tới sự phát triển hội và lĩnh vực hội hoạt động; Bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của hội và hội viên; Đại diện cho hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối
ngoại có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của hội.
Trong nhiều văn bản pháp luật mới ban hành, quyền giám sát của các hội, hiệp
hội ngành nghề được quy định ngày càng cụ thể: Luật phòng, chống tham nhũng, Luật
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, luật về các lĩnh vực ngành, nghề kinh tế đặc
thù... Các quy định pháp luật đều ghi nhận, khuyến khích và phát huy vai trò của các
hội, hiệp hội ngành nghề trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên,
giám sát việc thực hiện đúng chính sách, pháp luật của cơ quan, cán bộ, công chức
nhà nước, tập hợp ý kiến thành viên và kiến nghị với Nhà nước những bất cập hoặc
những vấn đề cần bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách trong quá trình quản lý nhà
nước và xã hội.
1.2.5. Nội dung, hình thức giám sát của tập thể lao động đối với quyền lực nhà
nước
Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong các lĩnh vực cụ thể (đăng ký kinh
doanh, quản lý thị trường, quan hệ về thuế, thực hiện thỏa ước lao động tập thể,...) đều có
những quy định tạo quyền cho các tập thể lao động thực hiện việc giám sát, như: kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo, kiện ra tòa án phù hợp,... Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để các tập thể
lao động thực hiện quyền giám sát của mình đối với cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước,
kể cả các thế lực khác trong việc thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Các tập thể lao động có thể tự mình hoặc thông qua các hiệp hội, hội do mình tham
gia thực hiện giám sát quyền lực nhà nước (ví dụ: doanh nghiệp có thể tham gia Phòng
thương mại và công nghiệp, hợp tác xã có thể tham gia Liên minh các hợp tác xã,...) để
và ban hành pháp luật.
- Lĩnh vực hoạt động tư pháp
Việc giám sát trong lĩnh vực hoạt động tư pháp chủ yếu là giám sát quá trình thực
hiện pháp luật về tố tụng.
Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... có quyền và
nghĩa vụ tham gia tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự góp phần
đấu tranh phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, nếu MTTQ và các tổ chức thành viên của
Mặt trận phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng thì có
quyền kiến nghị với các cơ quan có quyền quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các
cơ qua đó phải xem xét, giải quyết và trả lời cho Mặt trận và các tổ chức thành viên
của Mặt trận đã kiến nghị biết.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án quy định ... Uỷ ban MTTQ, các tổ chức
thành viên của MTTQ Việt Nam... có quyền kiến nghị tòa án cấp trên xem xét những
việc làm trái pháp luật của tòa án cấp dưới. Tòa án phải xem xét, giải quyết và trả lời
người đã kiến nghị.
Thông qua việc lựa chọn giới thiệu Hội thẩm nhân dân để thường vụ Quốc hội cử
và HĐND bầu và thông qua việc theo dõi giúp đỡ Hội thẩm mà MTTQ giám sát hoạt
động xét xử của TAND.
- Lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
Trong lĩnh vực này, MTTQ Việt Nam đã giám sát việc tiếp dân và tham gia giải
quyết đối với đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những đối tượng do MTTQ trực
tiếp vận động, đến cán bộ của MTTQ Việt Nam và những trường hợp vi phạm nghiêm
trọng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam hàng năm tiếp hàng nghìn lượt người dân
và hàng nghìn bản kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết
dứt điểm đối với những vụ kiện đang tồn tại nhiều năm. Uỷ ban MTTQ các địa
phương đều tổ chức tiếp dân tại trụ sở và tham gia ban tiếp dân, Ban chỉ đạo việc giải
lợi ích chung của xã hội, của đất nước có hiệu quả, làm cho pháp luật được tôn trọng,
pháp chế và kỷ cương được giữ vững.
Tòa án thực hiện việc giám sát đối với hoạt động quản lý hành chính bằng nhiều
hình thức và phương pháp khác nhau, có thể phân ra hai phương thức kiểm soát như sau:
Phương thức kiểm soát có tính thụ động: qua xét xử các vụ án hình sự, dân sự,
kinh tế, lao động, tòa án phát hiện hoạt động hành chính có sai sót và xử lý sai sót đó.
Phương thức kiểm tra có tính chủ động: trên cơ sử giải quyết khiếu nại, tố cáo của
cá nhân tổ chức, tòa án xét xử tranh chấp hành chính và đưa ra quyết định về tính hợp
pháp của quyết định, hành vi hành chính.
Hiện nay, Tòa án được trao quyền quyền xét xử khiếu kiện đối với các quyết định
hành chính, hành vi hành chính thì phải trao cho Tòa án những quyền hạn nhất định, là
một trong những quyền không thể thiếu được, đó là: quyền hủy quyết định hành chính
hoặc buộc cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước phải thực hiện chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu kiện mà Tòa án xác định
là trái pháp luật ...
Mặc dù tòa án không có quyền ra một quyết định hành chính thay thế cho cơ quan
quản lý nhà nước mà chỉ có quyền phán quyết và yêu cầu cơ qua này ra quyết định phù
hợp với luật.
Thực trạng xét xử hành chính của Tòa án:
Qua một số nét về hoạt động xét xử hành chính hiện nay tại một số địa phương
có thể thấy, Tòa hành chính chưa phát huy được hiệu quả hoạt động như mong đợi; số
lượng vụ việc được thụ lý giải quyết rất nhỏ, trong khi đó khiếu kiện hành chính lại
rất nhiều và phần lớn lại không đủ điều kiện để giải quyết theo luật định. Có thể thấy
một
số
nguyên