LUẬN VĂN:
Hoạt động tự quản của cộng đồng
dân cư trong việc thực thi quyền lực
nhà nước ở cơ sở MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển của lịch sử có một lực lượng to lớn để làm nên sức
mạnh và niềm tự hào của dân tộc. Đó chính là nhân dân. Những nhà tư tưởng lớn của dân
tộc đã từng có những tổng kết: “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “dân vi
quý, xã tắc thứ chi” Dân chính là chủ thể của dân tộc, tự đứng lên bằng chính sức mạnh
nội sinh, tình đoàn kết, lòng nồng nàn yêu nước để bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuộc
kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ chính là cuộc kháng chiến thần thánh,
như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết, đó là cuộc “chiến tranh nhân dân”, bởi nó được
gột lên từ chính sự cố kết của cộng đồng, ý thức tự giác của mỗi một người dân, niềm tin
vào chính nghĩa, vào ngày mai thắng lợi.
có chính sách, nhưng vấn đề là án lệnh không được thực thi, chính sách không được
chấp hành. Ở đây, chính là mối quan hệ giữa chủ trương và hiệu quả, giữa quản lý của
chính quyền và tự quản của cộng đồng dân cư; những kết quả mà mỗi cá nhân cần
thực hiện, không có gì tốt bằng tự thân chủ thể hành động, phát huy sức mạnh nội tại
và một bên là sự quản lý của chính quyền cơ sở, cần tránh hai thái cực: buông lỏng
quản lý hay o ép hoạt động chủ động tích cực của cộng đồng. Vậy ở đây đặt ra vấn đề
thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở.
Có một nhân tố tác động sâu sắc đến cộng đồng dân cư cơ sở, đó chính là cơ
chế thị trường. Một mặt thị trường là sản phẩm tiến bộ của nhân loại nhưng mặt khác
cơ chế của nó tác động rất khốc liệt, song hành với nó thì người dân phải đối mặt với
cơm, áo, gạo, tiền, xăng dầu, lửa điện. Người nông dân sau một đêm tỉnh dậy thấy
mình không còn là chính mình nữa, nguy cơ về tương lai sẽ ra sao khi ruộng đất
không còn, nguy cơ của sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá, tương lai con cái học
hành như thế nào với mức học phí quá cao tại một trường học nào đó. Chúng ta vẫn
nói đến dân chủ tức dân là chủ và dân làm chủ; nhưng thực tế có như vậy không?
Cộng đồng dân cư chính là nơi chứa đựng những hậu quả của việc quyền lực nhà
nước, quyền lực của dân, quyền lực của luật pháp, của những cá nhân được uỷ quyền
nhưng không được kiểm soát chặt chẽ. Tại chính những cơ sở, một số cán bộ tự xem
mình là “quan cơ sở” lợi dụng quyền lực cá nhân để trục lợi, đục khoét của dân, trong
sớm chiều trở thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Vậy nên các chính sách, pháp
luật về đến cộng đồng dân cư không được chấp hành hoặc bị méo mó, xuyên tạc. Đơn
thư tố giác của người dân từ các cơ sở cộng đồng cứ gửi lên chồng chất mà không
được giải quyết kịp thời. Tất cả những điều này đang giằng xé lấy đời sống thực tiễn
của người dân; cái quyền lực của đa số, của một xã hội công dân sẽ được thể hiện và
phát huy như thế nào? Cộng đồng dân cư phải làm gì để tự bảo vệ mình, không có một
liều thuốc vắcxin để phòng ngừa hữu hiệu hết cho các loại bệnh. Phải chăng người
dân tại các cộng đồng cần chủ động đề xuất, chủ động tổ chức, chủ động kết nối, chủ
động thực hiện, chủ động kiểm tra, giám sát Tựu trung lại đó chính là tính tự quản
của cộng đồng dân cư ở tại chính quyền cơ sở.
giải quyết thấu đáo, đặc biệt là triển khai và áp dụng lý thuyết này phù hợp với điều kiện
đặc thù của Việt Nam. Và trong thực tiễn thì các nước như cộng hoà liên bang Đức,
Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Hàn Quốc đều đã triển khai mạnh mẽ giao quyền tự quản cho
cộng đồng dân cư như một phương cách hữu hiệu nhất cho việc làm chủ của người dân
và thực sự đã thành một đối trọng tạo cân bằng quyền lực trong xã hội. Vì vậy chúng ta
cần có một hệ thống lý luận cho vấn đề này xứng tầm với yêu cầu của thực tiễn.
Sở dĩ chọn cộng đồng dân cư xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương Tỉnh Nghệ an
làm mẫu nghiên cứu, bởi xuất phát nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An là cộng đồng dân cư
trung chuyển các đặc thù của cộng đồng dân cư miền Bắc và miền Nam. Người dân Nghệ
An đông đúc với nhiều loại hình cộng đồng tiêu biểu như cộng đồng dân cư thuần nông,
cộng đồng dân cư dân tộc, cộng đồng dân cư nông công dịch vụ, cộng đồng dân cư nông
trường Cộng đồng dân cư Nghệ An luôn tự hào về truyền thống cố kết cộng đồng trong
việc giữ làng, giữ nước, tinh thần sáng tạo, hiếu học của ông đồ xứ Nghệ, ý chí quật
cường của Xô viết Nghệ tĩnh vv Ngày nay, hoà cùng khí thế đổi mới của cả nước, dù xa
các trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, nhiều vấn đề thực tiễn bức xúc nổi cộm,
nhiều điều kiện khó khăn, lực cản khách quan và chủ quan, nhưng cộng đồng dân cư
Nghệ An vẫn là một cộng đồng tiêu biểu của cả nước trong việc phát huy sức mạnh nội
sinh, nhằm phát huy tính tự quản của mình mà xã Đồng Văn là một điển hình.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoạt động tự quản của cộng
đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở”(Qua khảo sát thực tiễn ở
xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu của tôi các công trình nghiên cứu về hoạt động tự quản của cộng
đồng dân cư là không nhiều, đặc biệt là các nhà nghiên cứu chưa đi sâu bàn bạc các nội
dung trọng tâm, các giải pháp cụ thể của nó, để từ đó khái quát lên thành một hệ thống lý
luận đem áp dụng vào thực tiễn. Thường thì các tác giả đã đề cập đến ít nhiều về tính tất
yếu của cộng đồng dân cư trong việc tồn tại và phát triển của nó, về vai trò nên áp dụng
tính tự quản ở cộng đồng cơ sở mang tính chất thuận chiều từ hệ thống chính trị từ trên
sai đều dễ lây truyền. Đây cũng chính là một cơ sở để hiểu về cộng đồng dân cư sinh
động, đa dạng và phức tạp.
- Đề tài: “Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ ở cơ sở”.
PGS.TSKH.Phan Xuân Sơn Tác giả đã nghiên cứu sâu sắc và khoa học về một vấn đề
mà tác giả xem là hướng nghiên cứu đúng và cần đầu tư hơn nữa. Đó chính là xã hội
công dân (cách nói hiện đại về cộng đồng dân cư) nền tảng cho vấn đề chính sách dân
tộc; sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở khả năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia
ra quyết định và tự huy động lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự
chủ của cơ sở. Từ đây tác giả đã đề ra việc thực hiện tự trị và tự quản bằng cách nâng cao
hiệu quả hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
- Đề tài: "Tổ chức quản lý ở thôn, ấp, bản. Thực trạng và giải pháp đổi mới, hoàn
thiện” của TS Phạm Hữu Nghị. Xuất phát từ quan điểm: Thôn, ấp, bản không phải là cấp
chính quyền mà là một tổ chức của công đồng dân cư, tác giả đã đề xuất đã đề xuất
những giải pháp đổi mới, hoàn thiện các thiết chế để quản lý nó. Tác giả khẳng định rõ:
Trưởng thôn chỉ là người đại diện cho cộng đồng dân cư và bỏ quy định trưởng thôn là
người đại diện cho UBND xã; đồng thời UBND xã chịu trách nhiệm quản lý hành chính
nhà nước trên toàn bộ địa bàn xã, còn thôn chỉ là đơn vị tổ chức do nhân dân tự quản; các
thiết chế quản lý ở thôn, ấp, bản là thiết chế tự quản chứ không phải đại diện của chính
quyền xã, cánh tay nối dài của chính quyền xã; mặt khác cần đổi mới phương thức xây
dựng hương ước, quy ước cho phù hợp với tính đặc thù của mỗi cộng đồng dân cư.
- Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
Hoàng Đức Sơn, Những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị đảm bảo tốt dân chủ ở
cơ sở, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2000.
Chu Văn Hưởng, Vấn đề phân cấp, phân quyền trong thực thi quyền lực nhà nước
ở địa phương hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,2008.
Trần Khánh Sơn, Đổi mới hệ thống chính trị cấp Huyện ở Nghệ An hiện nay, Luận
văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2008.
Ngoài ra còn có các cuốn sách làm cơ sở lý luận thiết thực cho việc nghiên cứu
đề tài này như:
Hà Nội, 2000.
- Chủ nghĩa tam dân. Tôn Trung Sơn. Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội,
1995.
- Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi (Báo cáo nhanh về tình hình phát triển
thế giới năm 1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Thể chế chính trị, PGS,TS Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội, 2004.
* Các bài báo:
- ThS Nguyễn Hoàng Anh (2002), “Trưởng thôn và vai trò tự quản ở cộng đồng
dân cư cơ sở”, đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- TS Đặng Đình Tân (2002), “Chính quyền cấp xã-Một số vấn đề đặt ra hiện nay",
đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- Bùi Ngọc Sơn (2002), “Trống làng nào làng ấy đánh”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, Số 12.
- Phùng Văn Hùng (2006), “Tăng cường tính tự quản của chính quyền địa phương
góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, Số 4.
- Nguyễn Văn Thâm (2000), “Một số vấn đề quản lý nhà nước ở thôn bản hiện
nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1.
- Nguyễn Hữu Hải (2005), “Vài nét về chính quyền địa phương Đan Mạch”, Tạp
chí Quản lý nhà nước, số 1.
- Nguyễn Đức Hạnh (2001), “Vài nét về chính quyền địa phương Hoa Kỳ”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp,Số 2
- Nguyễn Xuân Diên (2002), “Thẩm phán làng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số
2.
Nhìn chung các công trình, các bài viết đã đóng góp những kiến giải nhất định có liên
quan đến tính tự quản của công đồng dân cư với việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở, tuỳ
góc độ nghiên cứu mà các tác giả đã có cách khai thác lý luận và gắn với thực tiễn khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu toàn diện về tính tự quản của cộng đồng
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà
nước; lý luận khoa học, tiến bộ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về những nội
dung liên quan đến hoạt động tự quản của các cộng đồng dân cư ở chính quyền cơ sở.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-
Lênin, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; giữa phương pháp phân tích
và tổng hợp, diễn giải và quy nạp, giữa phương pháp lôgíc và lịch sử; đồng thời kết hợp
với điều tra và khảo sát tình hình thực tế.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ vị trí, vai trò, phương thức và phát huy sự chủ động, sáng tạo hoạt động
tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở nói
riêng, chính sách pháp luật của nhà nước, sự phát triển của xã hội nói chung.
- Đánh giá đúng thực trạng tính tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc thực
thi quyền lực nhà nước ở cơ sở và đưa ra một số giải pháp khả thi áp dụng thực tiễn
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo
vận dụng cho các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các cấp chính quyền địa
phương trong cả nước và riêng ở tỉnh Nghệ An.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu hoặc những ai
quan tâm vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần ở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 6 tiết. Chương 1
lý nhất định. Điều đó có nghĩa là cộng đồng bao gồm tất cả các thành viên của gia đình,
không chỉ bao gồm chủ hộ. Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi
chính cộng đồng để đại diện cho các quan điểm của họ" [61, tr.5].
Thuật ngữ cộng đồng còn được hiểu như là một phân thể/ đơn vị/ nhóm người
trong hệ thống xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng và tính chất chung về
những gì mà mình đang có. Quan niệm mác-xít cho rằng: Cộng đồng là mối quan
hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành
viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp
thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của
họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự
tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu
và phương tiện hoạt động [29].
Về bản chất của cộng đồng hoàn chỉnh, J.H.Fitcher cho rằng, cộng đồng bao gồm 4
yếu tố: (1) tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi khi được
gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quan thân mật; (2) có sự liên
hệ về tình cảm và cảm xúc cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3)
có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có
ý nghĩa; (4) một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể [36, tr.79-80].
Vậy, cộng đồng chính là tập hợp những người cùng sống và hoạt động trong
một môi trường tương đồng nhất định như cùng khu vực địa lý, có chung đặc điểm
tâm lý, tình cảm gắn bó, hệ giá trị chuẩn mực, điều kiện sống. Cộng đồng bao gồm
các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho quan điểm và
hoạt động của họ.
1.1.1.2. Cộng đồng dân cư
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì dân cư là "toàn bộ những người đang cư trú trên
một địa bàn lãnh thổ nhất định một cách tự nhiên trong lịch sử và phát triển không
ngừng” [86, tr.518].
Hoặc có thể định nghĩa dân cư là “tập hợp những người có những điểm giống
nhau làm thành một khối như là xã hội” [3, tr.461]. Theo đó, trong phạm vi luận văn,
Như vậy, cách thức hoạt động của cộng đồng có thể khác nhau, tuỳ vào loại hình
và mức độ của khách thể mà cộng đồng dân cư tác động cũng như tuỳ vào năng lực thấu
hiểu của cộng đồng với các vấn đề liên quan. Thời gian của hoạt động cũng khác nhau.
Điều chú ý là cộng đồng dân cư càng hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn tốt của
những chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước thì hiệu quả hoạt động càng cao.
1.1.1.4. Một số lý thuyết Xã hội học
* Lý thuyết phát triển cộng đồng:
Phát triển cộng đồng là một quá trình biến đổi đưa tới sự thay đổi căn bản chất
lượng của cộng đồng theo xu hướng tiến bộ xã hội và đa dạng văn hoá, văn minh [29,
tr.4]. Về thực chất phát triển cộng đồng là một cách thức triển khai các hoạt động xây
dựng và phát triển trên cơ sở tạo sự hợp lực và đồng thuận của nhiều tổ chức xã hội nhằm
phát huy mọi nội lực bên trong của từng thành viên cộng đồng và của cả cộng đồng.
Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm phát triển cộng đồng vào năm 1956, theo đó
phát triển cộng đồng là một tiến trình, qua đó sự nổ lực của chính dân chúng hợp nhất với
nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội của cả cộng
đồng, để các cộng đồng này có điều kiện hội nhập và đóng góp tích cực vào đời sống
quốc gia.
Hoạt động tự quản dựa trên nguyên lý phát triển cộng đồng bao gồm: Nguyên lý
tính tương đối: không nên tuyệt đối hoá sự vật, hiện tượng theo một quan niệm nào cả;
nguyên lý tính đa dạng: Cộng đồng được biểu hiện đa dạng, nên phát triển cộng đồng
mang tính đa dạng, phong phú; nguyên lý tính bền vững: cộng đồng luôn có tính bền
vững, mặc dù có thể bị biến đổi tính chất nhưng khi cộng đồng cũ bị giải thể thì cộng
đồng mới hình thành; nguyên lý đồng biến: bản chất của cộng đồng là đồng thuận, do đó
mọi thành viên, thành phần cộng đồng đều đồng hành và đồng biến; nguyên lý tự biến:
cộng đồng có năng lực riêng, vì vậy có quy luật riêng là tự vận động và tự phát triển gọi
chung là tự biến; nguyên lý tham gia phát triển: chịu sự tác động của các tổ chức khác,
đặc biệt là chịu sự tác động quan trọng của quản lý nhà nước (còn gọi là hợp biến).
- Hoạt động tự quản thông qua lý thuyết phát triển cộng đồng: Thứ nhất, hướng
tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, với sự cân bằng về vật chất và tinh
đồng, trong đó “chính trị” là sự định hướng hành động của mỗi cá nhân để đạt tới mục
đích chung của cả cộng đồng, đó cũng là mục tiêu hình thành nhân cách sống có trách
nhiệm của mỗi cộng đồng Chính vì vậy Aristotl xác định rõ rằng bản chất chính trị của
một cộng đồng chính trị là xã hội dân sự, ở đó không có sự cưỡng bức mà chỉ chú trọng
đến hoạt động tham gia tự nguyện của các thành viên cộng đồng cùng nhau chia sẻ việc
điều hành cộng đồng vì mục đích chung của cộng đồng. Ý thức về xã hội dân sự đã có
một bước phát triển mạnh mẽ trong thời cận đại với các nhà tư tưởng như J. Rodin
(Pháp), T.Hobbes (Anh), B.Spinoza (Hà lan) và đến thế kỷ XVIII, J. J.Rousseau đã phát
triển nó lên một trình độ hoàn chỉnh hơn, đối với ông, con người mất đi quyền tự nhiên
của mình nên cần đảm bảo bằng một hình thức liên hiệp là Khế ước xã hội nhằm để bảo
vệ tài sản của các cá nhân cũng như toàn bộ sức mạnh chung của xã hội và các thành viên
xã hội gọi cơ chế chính trị ấy là Nhà nước. Các tác giả cùng thời như J.Locke hay
Montesquieur thì cho rằng nhân dân hợp thành xã hội - nó là tối thượng và khi thiết lập
nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang Nhà nước nhưng Nhà nước không thể nuốt
mất xã hội. Còn trong tư tưởng của Hegel thì xã hội dân sự là một nơi mà các cá nhân
được tự do theo đuổi những lợi ích, những khác biệt của mình, liên kết với nhau bằng sự
cần thiết lẫn nhau và, với tư cách đó, nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính
trị, nhưng mặt khác ông cũng cho rằng xã hội dân sự không thể trở thành dân sự được
nếu nó không được nhà nước cai quản về mặt chính trị - chỉ có việc thực thi một quyền
lực công cộng tối cao của một nhà nước hợp hiến mới có thể giải quyết được những xung
đột của xã hội dân sự với tính bất công của nó, tổng hợp những lợi ích cụ thể thành một
cộng đồng chính trị chung. Khác với Hegel xem xã hội dân sự là một “vật ban tặng” của
tự nhiên thì C.Mác coi xã hội dân sự kết quả của sự phát triển lịch sử tự nhiên, C.Mác
khẳng định: "Xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một
giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Nó bao trùm toàn bộ đời sống
thương mại và công nghiệp của giai đoạn lịch sử ấy, ở mức độ này, nó vượt khỏi khuôn
khổ nhà nước và quốc gia, tuy rằng ở bên ngoài, nó phải tự khẳng định với tư cách quốc
gia và, ở bên trong, phải tự tổ chức với tư cách nhà nước” và khi không còn sự đối kháng
giai cấp nữa thì xã hội cũ bị sụp đổ và C.Mác cho rằng sẽ không có sự xuất hiện một giai
trọng trong việc thiết lập đồng thuận, đoàn kết xã hội vì mục tiêu phát triển chung.
Khái niệm xã hội dân sự được quy chiếu ở xã hội nông nghiệp cổ truyền ở nước
ta thì đó là cộng đồng dân cư ở cơ sở. Khái niệm cộng đồng thường vẫn được dùng
trong khoa học, người ta vẫn thường hiểu cộng đồng đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, gắn
bó với những thăng trầm của dân tộc. Điều này lại càng phù hợp với tiến trình đi lên của
đất nước, quá trình dựng nước và giữ nước là một quá trình gắn bó cùng sự phát triển của
cộng đồng, vai trò của cộng đồng có tác dụng tích cực đối với nước ta vì nó tích luỹ được
vốn xã hội (Social capital) là các tiêu chuẩn và quan hệ xã hội cho phép nhân dân có khả
năng phối hợp các hành động tập thể. Điều này cũng khác với xã hội phương Tây, khái
niệm này trong xã hội hiện đại được họ hiểu là xã hội dân sự bởi trong quá trình quản lý
của mình có những việc nhà nước không làm được, “bàn tay hữu hình” của nhà nước mà
Maynard Keynes đặt tên không thể bao hết các hoạt động chính trị, xã hội buộc phải giao
lại cho “bàn tay bán vô hình” là các tổ chức khác, các tổ chức này được xây dựng trên cơ
sở của sự thương lượng, hợp tác, thuyết phục đại diện cho hành động, có mặt ở tất cả các
cấp, thậm chí toàn cầu mà C.Mác trong phê phán học thuyết của Hêghen đã dùng lần đầu
tiên.
Ở nước ta, với đặc thù của một nước nông nghiệp cổ truyền với chủ nghĩa yêu
nước dân tộc cao cả, trong đời sống xã hội Việt Nam, xã hội dân sự gắn với những thiết
chế xã hội mang tính truyền thống có mặt trong các làng xã nông thôn, những tổ chức
quần chúng - “xã hội dân sự ở nông thôn” đã đóng vai trò lịch sử quan trọng và tích cực
trong cấu trúc xã hội dân sự Việt Nam [47]. Đó là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là
nơi người dân trực tiếp và bằng các hoạt động tự quản thích hợp, tương trợ, giúp đỡ nhau trong
sản xuất và đời sống, cùng nhau giải quyết các công việc của nội bộ cộng đồng, là nơi tồn tại và
duy trì bao đời nay “các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan hệ truyền thống
gắn bó trong đời sống vật chất và văn hoá” [17, tr.171-173]. Dù được thành lập theo mục tiêu và
hướng dẫn của Đảng và Nhà nước nhưng các thiết chế phi quan phương và các tổ chức đã
hoạt động như một chiếc cầu nối giữa Đảng với nhân dân hướng đến thực hiện các nhiệm vụ
phát triển cụ thể, phục vụ cho phúc lợi của cộng đồng dân cư cơ sở.
1.1.2. Quyền lực nhà nước ở cơ sở
này được tổ chức theo một hệ thống dọc. Từ trên xuống sẽ là trung ương - địa phương và
cơ sở. Nếu nhìn dưới lên sẽ là cơ sở - địa phương và toàn quốc.
Theo Ph.Ăngghen, một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước là
Nó phân chia thần dân của nó theo địa vực, v.v người ta lấy sự phân
chia địa vực làm điểm xuất phát và người ta đã để cho những công dân thực
hiện những quyền lợi và nghĩa vụ của họ tại nơi họ cư trú, không kể họ thuộc
bộ tộc, thị lạc nào. Cách tổ chức những công dân của nhà nước theo địa vực họ
cư trú như thế, là một đặc điểm chung cho tất cả các nhà nước [43, tr.253].
Và sự phân chia như trên cũng chính là sự phân cấp, phân quyền của quyền lực
nhà nước. Tức là "Phân định quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm bằng cách quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, để vừa bảo
đảm việc điều hành tập trung, thống nhất của chính phủ, đồng thời phát huy dân chủ,
nâng cao tính năng động của mỗi địa phương, cơ sở” [76].
Quyền lực nhà nước ở cơ sở chính là vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trọng phạm vi địa giới hành chính cơ sở. Chính quyền
cơ sở vừa là đại diện cho quyền lực của nhân dân trong địa bàn, được người dân bầu ra,
thực hiện ý chí chung của cộng đồng dân cư trong địa bàn; đồng thời cũng thay mặt
quyền lực nhà nước ở địa phương. Quyền lực nhà nước ở cơ sở thể hiện quyền đưa ra
những quy định, quyết định, quyền cưỡng chế thực hiện những quy định, quyết định đó;
quyền xét xử những vi phạm các quy định, quyết định và pháp luật nói chung theo những
phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định cho chính quyền cơ sở có hiệu lực với mọi
đối tượng.
Chính quyền cơ sở gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân là tổ chức đại
diện chính thức cho toàn bộ dân cư trên địa bàn. Tính đại diện chính thức thể hiện ở việc
Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân ở địa bàn trực tiếp bầu ra, thay mặt
nhân dân, trên cơ sở yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và pháp luật, quyết định những
vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân ở đơn vị hành chính cơ sở.
Chính quyền cơ sở trực tiếp thực hiện quyền lực nhân dân trên địa bàn. Nhân dân sử
dụng quyền lực của mình thông qua Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí và
chức chính quyền không thiện cảm với họ, vì tổ chức kinh tế không thuận lợi và vì phong
tục lạc hậu chống lại chính họ. Ví dụ: Trong thời kỳ này nhà nước cấm chuyển nhượng
ruộng đất vì nó đảm bảo cho người dân cơ sở luôn có phần mình trong việc phân chia
ruộng công. Như thế nhà nước không tập trung được ruộng đất.
Do yêu cầu chinh phục tự nhiên, khai phá mở mang đất đai, để tồn tại và chống đỡ
lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, người Việt phải sớm hình thành cố kết cộng đồng. Từ
đây quan hệ nhà-làng xuất hiện, nó bền vững trong suốt chiều dài của lịch sử.
Cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp trong cộng đồng dân cư cơ sở thì các
công xã nông thôn của người Việt cũng có những biến đổi và phân bổ dù nó diễn ra rất
chậm chạp
Cho đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn cách đây 2.000 năm, những mầm mống của một
nhà nước sơ khai cùng với kết cấu làng xã mới xuất hiện, nhà nước đó trên thực tế chỉ là sự
mở rộng liên cộng đồng dân cư cơ sở, một tổ chức đứng trên các cộng đồng dân cư cơ sở để
điều hành chung. Nhà nước thời kỳ Hùng Vương với một đặc trưng chi phối là tính cộng
đồng dân cư ở cơ sở [69].
Mỗi cộng đồng dân cư cơ sở Việt là một đơn vị tự trị. Việt Nam giống như một “liên
bang thôn xã”. Với một đời sống kinh tế đơn giản, sinh hoạt làng xã thô sơ, thiếu đường giao
thông và ít có nhu cầu, các làng chỉ có thể sống độc lập với nhau và tự cung, tự cấp. Dưới
mắt chính quyền, làng là một gốc gác nhân cách, trong việc nước người ta chỉ biết làng chứ
không phân biệt cá nhân, thường thì các công việc nội bộ vẫn do làng tự giải quyết, chính
quyền rất ít khi can thiệp. Làng có thể được coi như một nhà nước nhỏ, được cai quản bởi
một hội đồng kỳ mục gồm các chức sắc, những người có học hành đỗ đạt. Chỉ có làng mới
biết được số dân cư và đất đai của mình, nhà nước không tiếp xúc trực tiếp với dân làng. Để
thu thuế tuyển mộ lính thì quy định cho mỗi làng một con số nhất định và để cho nó tự do
phân bổ đến các thành viên của mình. Như vậy nhà nước xuất hiện nhưng tính giai cấp của
nó chưa có gì nổi bật, nhà nước “siêu cộng đồng cơ sở” không đối lập với cộng đồng dân cư
cơ sở mà mang đậm nét cộng đồng dân cư cơ sở. Từ quan hệ trong cộng đồng dân cư cơ sở
là quan hệ nhà - làng ở rộng tới làng - nước và tạo thành quan hệ nhà – làng - nước.
Thiết chế cộng đồng dân cư cơ sở chi phối đến nhà nước thông qua thiết chế làng
thành được bản sắc của riêng mình, hoạt động tự quản đã xuất hiện trong tâm thức, tâm
linh để hình thành nên bản lĩnh của mình chống lại sự đồng hoá của một quốc gia có trình
độ văn minh cao hơn. Không chấp nhận sự áp đặt văn hoá, ý thức tự vệ và bảo vệ những
giá trị riêng của cộng đồng làng xã của mình là nét nổi bật trong ý thức người Việt. Ở
mọi thời đại lịch sử đã qua, cộng đồng dân cư cơ sở phải dành hết nỗ lực và tinh lực cho
chiến tranh giải phóng để bảo vệ quyền sống, quyền tồn tại của mình, bảo vệ độc lập chủ