MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển của lịch sử có một lực lượng to lớn để làm
nên sức mạnh và niềm tự hào của dân tộc. Đó chính là nhân dân. Những nhà
tư tưởng lớn của dân tộc đã từng có những tổng kết: “Đẩy thuyền cũng là dân,
lật thuyền cũng là dân”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi” Dân chính là chủ thể
của dân tộc, tự đứng lên bằng chính sức mạnh nội sinh, tình đoàn kết, lòng
nồng nàn yêu nước để bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuộc kháng chiến trường kỳ
chống Pháp, chống Mỹ chính là cuộc kháng chiến thần thánh, như lời Chủ
tịch Hồ Chí Minh tổng kết, đó là cuộc “chiến tranh nhân dân”, bởi nó được
gột lên từ chính sự cố kết của cộng đồng, ý thức tự giác của mỗi một người
dân, niềm tin vào chính nghĩa, vào ngày mai thắng lợi.
Ngày nay đất nước đã sang một trang mới, công cuộc đổi mới bước đầu
đã giành được những thành tựu đáng kể, chủ thể tiên phong trong công cuộc
đổi mới chính là nhân dân, bài học xuyên suốt các kỳ Đại hội VI, VII, VIII,
IX, X mà Đảng ta quán triệt khi lãnh đạo đất nước đó chính là “lấy dân làm
gốc”, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, các mặt
trận đoàn thể đều trên cơ sở tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân. Trên bình
diện lý luận và thực tiễn đều có sự xuất hiện của nhân dân với tư cách là chủ
thể của xã hội. Mặt khác ta cũng thấy rằng, xã hội càng phát triển thì đi kèm
theo nó là những nguy cơ, các nguy cơ không hề được dập tắt mà trái lại nó
lại được nhân lên trong những điều kiện mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng xác định: đất nước ta đối diện với những “nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng.
Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục.
Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây
1
bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay
đổi chế độ chính trị ở nước ta” [19, tr.22]. Đối diện và chịu những ảnh hưởng
nào với mức học phí quá cao tại một trường học nào đó. Chúng ta vẫn nói
đến dân chủ tức dân là chủ và dân làm chủ; nhưng thực tế có như vậy
không? Cộng đồng dân cư chính là nơi chứa đựng những hậu quả của việc
quyền lực nhà nước, quyền lực của dân, quyền lực của luật pháp, của
những cá nhân được uỷ quyền nhưng không được kiểm soát chặt chẽ. Tại
chính những cơ sở, một số cán bộ tự xem mình là “quan cơ sở” lợi dụng
quyền lực cá nhân để trục lợi, đục khoét của dân, trong sớm chiều trở thành
một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Vậy nên các chính sách, pháp luật về đến
cộng đồng dân cư không được chấp hành hoặc bị méo mó, xuyên tạc. Đơn
thư tố giác của người dân từ các cơ sở cộng đồng cứ gửi lên chồng chất mà
không được giải quyết kịp thời. Tất cả những điều này đang giằng xé lấy
đời sống thực tiễn của người dân; cái quyền lực của đa số, của một xã hội
công dân sẽ được thể hiện và phát huy như thế nào? Cộng đồng dân cư phải
làm gì để tự bảo vệ mình, không có một liều thuốc vắcxin để phòng ngừa
hữu hiệu hết cho các loại bệnh. Phải chăng người dân tại các cộng đồng cần
chủ động đề xuất, chủ động tổ chức, chủ động kết nối, chủ động thực hiện,
chủ động kiểm tra, giám sát Tựu trung lại đó chính là tính tự quản của
cộng đồng dân cư ở tại chính quyền cơ sở.
Chính quyền cơ sở- nơi được xem là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
trị nhưng lại chịu sự chi phối trực tiếp nhất trong việc thực thi các chủ trương,
chính sách, pháp luật của nhà nước, nơi mà người dân được phát huy quyền
làm chủ của mình với nhiều vấn đề thực tế nhất.
Đại hội X của Đảng xác định: “Những ý kiến, nguyện vọng và sáng
kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi
mới của Đảng. Dựa vào dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết
thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển là chìa
khoá của thành công” [19, tr.71]. Để thực hiện được điều đó thì một vấn đề
3
quan trọng là chúng ta cần phải nâng cao vai trò chủ động của cộng đồng dân
cư như một lăng kính phản ngược lại để chứng minh cho tính hiệu quả trong
Sở dĩ chọn cộng đồng dân cư xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương Tỉnh
Nghệ an làm mẫu nghiên cứu, bởi xuất phát nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An
là cộng đồng dân cư trung chuyển các đặc thù của cộng đồng dân cư miền
Bắc và miền Nam. Người dân Nghệ An đông đúc với nhiều loại hình cộng
đồng tiêu biểu như cộng đồng dân cư thuần nông, cộng đồng dân cư dân tộc,
cộng đồng dân cư nông công dịch vụ, cộng đồng dân cư nông trường Cộng
đồng dân cư Nghệ An luôn tự hào về truyền thống cố kết cộng đồng trong
việc giữ làng, giữ nước, tinh thần sáng tạo, hiếu học của ông đồ xứ Nghệ, ý
chí quật cường của Xô viết Nghệ tĩnh vv Ngày nay, hoà cùng khí thế đổi
mới của cả nước, dù xa các trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, nhiều vấn
đề thực tiễn bức xúc nổi cộm, nhiều điều kiện khó khăn, lực cản khách quan
và chủ quan, nhưng cộng đồng dân cư Nghệ An vẫn là một cộng đồng tiêu
biểu của cả nước trong việc phát huy sức mạnh nội sinh, nhằm phát huy tính
tự quản của mình mà xã Đồng Văn là một điển hình.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoạt động tự
quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ
sở”(Qua khảo sát thực tiễn ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu của tôi các công trình nghiên cứu về hoạt động tự quản
của cộng đồng dân cư là không nhiều, đặc biệt là các nhà nghiên cứu chưa đi
sâu bàn bạc các nội dung trọng tâm, các giải pháp cụ thể của nó, để từ đó khái
quát lên thành một hệ thống lý luận đem áp dụng vào thực tiễn. Thường thì
các tác giả đã đề cập đến ít nhiều về tính tất yếu của cộng đồng dân cư trong
việc tồn tại và phát triển của nó, về vai trò nên áp dụng tính tự quản ở cộng
đồng cơ sở mang tính chất thuận chiều từ hệ thống chính trị từ trên xuống chứ
chưa thực sự xem nó là một chủ thể thực sự của việc nghiên cứu. Có nhiều tác
5
giả cũng đã mục sở thị các mô hình chính quyền địa phương các nước trên thế
giới nhưng vẫn là một lý luận mở, bởi các tác giả cũng chưa nhắc đến việc
tính cục bộ họ mạc huyết thống, đúng sai đều dễ lây truyền. Đây cũng chính
là một cơ sở để hiểu về cộng đồng dân cư sinh động, đa dạng và phức tạp.
- Đề tài: “Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ ở
cơ sở”. PGS.TSKH.Phan Xuân Sơn Tác giả đã nghiên cứu sâu sắc và khoa
học về một vấn đề mà tác giả xem là hướng nghiên cứu đúng và cần đầu tư
hơn nữa. Đó chính là xã hội công dân (cách nói hiện đại về cộng đồng dân cư)
nền tảng cho vấn đề chính sách dân tộc; sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở
khả năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huy
động lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của cơ sở.
Từ đây tác giả đã đề ra việc thực hiện tự trị và tự quản bằng cách nâng cao
hiệu quả hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
- Đề tài: "Tổ chức quản lý ở thôn, ấp, bản. Thực trạng và giải pháp đổi
mới, hoàn thiện” của TS Phạm Hữu Nghị. Xuất phát từ quan điểm: Thôn, ấp,
bản không phải là cấp chính quyền mà là một tổ chức của công đồng dân cư,
tác giả đã đề xuất đã đề xuất những giải pháp đổi mới, hoàn thiện các thiết
chế để quản lý nó. Tác giả khẳng định rõ: Trưởng thôn chỉ là người đại diện
cho cộng đồng dân cư và bỏ quy định trưởng thôn là người đại diện cho
UBND xã; đồng thời UBND xã chịu trách nhiệm quản lý hành chính nhà
nước trên toàn bộ địa bàn xã, còn thôn chỉ là đơn vị tổ chức do nhân dân tự
quản; các thiết chế quản lý ở thôn, ấp, bản là thiết chế tự quản chứ không phải
đại diện của chính quyền xã, cánh tay nối dài của chính quyền xã; mặt khác
cần đổi mới phương thức xây dựng hương ước, quy ước cho phù hợp với tính
đặc thù của mỗi cộng đồng dân cư.
- Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
Hoàng Đức Sơn, Những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị đảm bảo
tốt dân chủ ở cơ sở, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2000.
7
Chu Văn Hưởng, Vấn đề phân cấp, phân quyền trong thực thi quyền
lực nhà nước ở địa phương hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ
Chí Minh,2008.
- Tâm lý người Việt Nam đi vào cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá -những
diều cần khắc phục, Phạm Minh Hạc, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2004.
- Chuyện nhà chuyện nước, Hữu Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
- Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Trần Quốc Vượng, Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội, 2000.
- Chủ nghĩa tam dân. Tôn Trung Sơn. Viện thông tin khoa học xã hội,
Hà Nội, 1995.
- Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi (Báo cáo nhanh về tình hình
phát triển thế giới năm 1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Thể chế chính trị, PGS,TS Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004.
* Các bài báo:
- ThS Nguyễn Hoàng Anh (2002), “Trưởng thôn và vai trò tự quản ở
cộng đồng dân cư cơ sở”, đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- TS Đặng Đình Tân (2002), “Chính quyền cấp xã-Một số vấn đề đặt ra
hiện nay", đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- Bùi Ngọc Sơn (2002), “Trống làng nào làng ấy đánh”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Số 12.
- Phùng Văn Hùng (2006), “Tăng cường tính tự quản của chính quyền
địa phương góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành ngân
sách nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 4.
- Nguyễn Văn Thâm (2000), “Một số vấn đề quản lý nhà nước ở thôn
bản hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1.
- Nguyễn Hữu Hải (2005), “Vài nét về chính quyền địa phương Đan
Mạch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1.
9
- Nguyễn Đức Hạnh (2001), “Vài nét về chính quyền địa phương Hoa
Kỳ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,Số 2
- Nguyễn Xuân Diên (2002), “Thẩm phán làng”, Tạp chí Nghiên cứu
cư thông qua các Hương ước, quy ước, quy chế dân chủ, mối quan hệ, những
vấn đề nổi cộm mà người dân đặt ra.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tính kế thừa, chuyển giao hoạt động tự quản của cộng
đồng dân cư từ lịch sử để lại. Nhưng tập trung nghiên cứu thời kỳ đổi mới CNH,
HĐH đất nướcvà xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương là điển hình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách,
pháp luật của nhà nước; lý luận khoa học, tiến bộ của các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước về những nội dung liên quan đến hoạt động tự quản của
các cộng đồng dân cư ở chính quyền cơ sở.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa Mác-Lênin, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; giữa
phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn giải và quy nạp, giữa phương pháp
lôgíc và lịch sử; đồng thời kết hợp với điều tra và khảo sát tình hình thực tế.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ vị trí, vai trò, phương thức và phát huy sự chủ động, sáng tạo
hoạt động tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà
nước ở cơ sở nói riêng, chính sách pháp luật của nhà nước, sự phát triển của
xã hội nói chung.
11
- Đánh giá đúng thực trạng tính tự quản của các cộng đồng dân cư
trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở và đưa ra một số giải pháp khả
thi áp dụng thực tiễn
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu,
tham khảo vận dụng cho các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các
được xác nhận thông qua việc tôn trọng các biểu tượng, các đặc điểm riêng có
của cộng đồng.
Quan điểm hiện đại cho rằng:
Cộng đồng là một thuật ngữ dùng để mô tả một tổ chức xã hội
đạt trình độ cao trong tổ chức và hoạt động. Nó là một nơi, một tập
13
thể địa lý giống như một làng, một thành phố hay một trung tâm.
Một cộng đồng là một tổ chức xã hội có quan tâm đến những nhu
cầu cơ bản như kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, chính trị của các
thành viên của mình [8, tr.34].
Cộng đồng được xác định là những người sống và làm việc trong một
khu vực địa lý nhất định. Điều đó có nghĩa là cộng đồng bao gồm tất cả các
thành viên của gia đình, không chỉ bao gồm chủ hộ. Cộng đồng bao gồm các
tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho các quan
điểm của họ" [61, tr.5].
Thuật ngữ cộng đồng còn được hiểu như là một phân thể/ đơn vị/ nhóm
người trong hệ thống xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng và
tính chất chung về những gì mà mình đang có. Quan niệm mác-xít cho rằng:
Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự
cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện
tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm
các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa
họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương
đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục
tiêu và phương tiện hoạt động [29].
Về bản chất của cộng đồng hoàn chỉnh, J.H.Fitcher cho rằng, cộng đồng
bao gồm 4 yếu tố: (1) tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương
quan này đôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt,
tương quan thân mật; (2) có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc cá nhân trong
những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3) có sự hiến dâng tinh thần
với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo
tự nhiên và xã hội. Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua
các thời đại khác nhau [31].
Tự quản:
15
Là chế độ tổ chức và hoạt động của một xí nghiệp, một đơn vị
kinh doanh, nói rộng ra là của một cộng đồng xã hội do tập thể
những người lao động của nó quản lý, tự quyết định lấy công việc
của mình như tự đặt kế hoạch hành động, tự giám sát công việc, tự
đánh giá kết quả công việc, hành vi xử sự của mình mà không cần
có sự điều hành chỉ huy của người quản lý hoặc bất cứ người nào
khác [31, tr.62].
A. Lagain (1969) đã đưa ra một thang đo gồm 8 mức độ hoạt động của
cộng đồng như sau: Nhân dân kiểm soát, chủ trì thực hiện; chính phủ phối
hợp với các nhóm dân cư trong quản lý; giao quyền cho các nhóm dân cư;
chính phủ đáp ứng một phần các nhu cầu của nhân dân; chính phủ trao đổi
bàn bạc với các nhóm dân; chính phủ thông báo cho dân biết; đưa ra quyết
định và thông báo trước; chính phủ vận động nhân dân làm theo [24, tr.94].
Như vậy, cách thức hoạt động của cộng đồng có thể khác nhau, tuỳ vào
loại hình và mức độ của khách thể mà cộng đồng dân cư tác động cũng như
tuỳ vào năng lực thấu hiểu của cộng đồng với các vấn đề liên quan. Thời gian
của hoạt động cũng khác nhau. Điều chú ý là cộng đồng dân cư càng hoạt
động tích cực dưới sự hướng dẫn tốt của những chủ trương chính sách pháp
luật của nhà nước thì hiệu quả hoạt động càng cao.
1.1.1.4. Một số lý thuyết Xã hội học
* Lý thuyết phát triển cộng đồng:
Phát triển cộng đồng là một quá trình biến đổi đưa tới sự thay đổi căn
bản chất lượng của cộng đồng theo xu hướng tiến bộ xã hội và đa dạng văn
hoá, văn minh [29, tr.4]. Về thực chất phát triển cộng đồng là một cách thức
triển khai các hoạt động xây dựng và phát triển trên cơ sở tạo sự hợp lực và
* Lý thuyết hành động:
Thuyết hành động gắn liền với cha đẻ của nó là MaxWerber, nó bao gồm:
- Hành động duy cảm: là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tình
cảm, bột phát gây ra, không có sự cân nhắc, xem xét.
17
- Hành động duy lý - truyền thống: là loại hành động tuân thủ những
thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán từ đời này sang đời khác.
- Hành động duy lý: theo sự phân tích của trí tuệ, dựa trên những phân
tích về giá trị, chuẩn mực (giá trị pháp luật, chuẩn mực đạo đức).
* Lý thuyết xã hội hoá: là quá trình chủ thể hoá các tin tức của xã hội,
là sự tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và
sự xét đoán của mỗi cá nhân. Xã hội hoá không chính thức là sự tương tác xã
hội, giữa những người gần gũi như gia đình, bạn bè, nhóm nghề nghiệp. Xã
hội hoá chính thức thông qua các tổ chức xã hội. Cái cốt lõi của xã hội hoá là
sự quản lý của nhà nước với sự tham gia của nhiều người, nhiều tầng lớp xã
hội nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
* Lý thuyết xã hội dân sự: Khái niệm “civil society” thường được dịch
sang tiếng Việt là “xã hội dân sự”. Nó được bắt nguồn từ tiếng Hy lạp mà
được Aristotl dùng lần đầu tiên là “Koin nia politika” mà sau này ta vẫn
thường dịch là politika (chính trị), từ này được bắt nguồn từ polis có nghĩa là
cộng đồng dân cư thành bang, tức là một cộng đồng xã hội nhất định. Với
Aristotl thì “con người là động vật chính trị” cũng đồng nhất “con người là
động vật xã hội”, trong hệ thống lý luận của ông thì cái chính trị (the
political) và cái đạo đức (the ethical) không có sự khác biệt rõ rệt. Mục tiêu
tối thượng của polis là đảm bảo sự phát triển và hình thành nhân cách của các
thành viên trong cộng đồng, trong đó “chính trị” là sự định hướng hành động
của mỗi cá nhân để đạt tới mục đích chung của cả cộng đồng, đó cũng là mục
tiêu hình thành nhân cách sống có trách nhiệm của mỗi cộng đồng Chính vì
vậy Aristotl xác định rõ rằng bản chất chính trị của một cộng đồng chính trị là
xã hội dân sự, ở đó không có sự cưỡng bức mà chỉ chú trọng đến hoạt động
quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó nữa vì quyền lực chính trị là sự
tóm lược chính thống của đối kháng trong xã hội dân sự” và “tự do là chỗ
biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội, thành một cơ quan phụ thuộc vào xã
hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là
19
tuỳ ở chỗ trong những hình thức ấy “sự tự do của nhà nước bị hạn chế nhiều hay
ít” [42, tr.554]. Xuất phát từ quan điểm này của C.Mác ta thấy rằng càng chính
trị hoá, nhà nước hoá các tổ chức, các cộng đồng dân cư thì càng hạ thấp vai
trò của xã hội công dân và cản trở sự phát triển của xã hội công dân. Điều này
cũng cho thấy, tại sao ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các tổ chức xã
hội được tổ chức rộng khắp nhưng là vì “cánh tay nối dài” của nhà nước nên
xã hội công dân ở các nước đó lại kém phát triển và yếu ớt. Theo C.Mác, xã
hội công dân không phải là lĩnh vực chính trị, nhưng mọi hoạt động của xã
hội công dân đều có ảnh hưởng đến nhà nước. Vì vậy các thể chế của xã hội
công dân mang những hình thức chính trị nhất định. Như vậy xây dựng xã hội
công dân, một mặt phải thừa nhận vai trò độc lập khách quan của nó đối với nhà
nước, mặt khác không phủ nhận những hình thức chính trị của nó [60, tr.14].
Vậy nên, xã hội dân sự không những đảm đương chức năng đào
luyện con người thành những công dân sống và làm việc có trách nhiệm với
xã hội, hướng hoạt động của họ tới mục tiêu phát triển chung của cộng
đồng và xã hội mà còn là diễn đàn xã hội để cá nhân có điều kiện trao đổi
các kỹ năng sinh hoạt và làm việc, nâng cao trình độ dân trí của mình. Với
nghĩa đó, xã hội dân sự có mối liên hệ mật thiết với khái niệm vốn xã hội
trong việc chỉ ra sự liên kết và gắn bó của cá nhân con người với cộng
đồng và truyền thống văn hoá. Bên cạnh việc đề cập đến vai trò liên đới
của các tổ chức xã hội dân sự trong quan hệ với nền kinh tế thị trường và
nhà nước pháp quyền, thông qua sự tham gia tích cực của người dân vào
các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội. Bên cạnh việc kết hợp với nhà
nước cùng giải quyết các vấn đề phát triển chung của địa phương và quốc
gia thì xã hội dân sự còn tích cực tham gia góp ý, giám sát các hoạt động
và đời sống, cùng nhau giải quyết các công việc của nội bộ cộng đồng, là nơi tồn tại
và duy trì bao đời nay “các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan
hệ truyền thống gắn bó trong đời sống vật chất và văn hoá” [17, tr.171-173]. Dù được
21
thành lập theo mục tiêu và hướng dẫn của Đảng và Nhà nước nhưng các thiết chế
phi quan phương và các tổ chức đã hoạt động như một chiếc cầu nối giữa Đảng
với nhân dân hướng đến thực hiện các nhiệm vụ phát triển cụ thể, phục vụ cho
phúc lợi của cộng đồng dân cư cơ sở.
1.1.2. Quyền lực nhà nước ở cơ sở
1.1.2.1. Quyền lực nhà nước
Quyền lực trong xã hội có cấu trúc phức tạp, được tạo thành từ nhiều
loại quyền lực khác nhau. Có quyền lực đạo đức, quyền lực tôn giáo, quyền
lực dòng họ.Trong số rất nhiều loại quyền lực đồng thời tồn tại trong sự đan
xen, thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể của quyền lực
trong xã hội.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân trong điều kiện của CNXH), nó
nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình. “Quyền lực
chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để
trấn áp một giai cấp khác” [43, tr.628].
Một trong những nguồn gốc của quyền lực nhà nước là quyền lực công
cộng, là “sức mạnh của ý chí chung” của cả cộng đồng dân cư cùng sống trên
một lãnh thổ, nhưng là quyền lực công cộng trong điều kiện "xã hội bị phân
chia thành những mặt đối lập không thể điều hoà được, mà xã hội đó bất lực
không sao loại bỏ được” [45, tr.251].
Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà
nước. Do vậy xét về bản chất, quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp
thống trị. Nó được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó
lập ra. Cho nên, quyền lực nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khác
nhau. Một trong những điểm phân biệt với phương thức thực hiện các loại quyền
cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước trọng phạm vi địa giới hành
chính cơ sở. Chính quyền cơ sở vừa là đại diện cho quyền lực của nhân dân
23
trong địa bàn, được người dân bầu ra, thực hiện ý chí chung của cộng đồng
dân cư trong địa bàn; đồng thời cũng thay mặt quyền lực nhà nước ở địa
phương. Quyền lực nhà nước ở cơ sở thể hiện quyền đưa ra những quy định,
quyết định, quyền cưỡng chế thực hiện những quy định, quyết định đó; quyền
xét xử những vi phạm các quy định, quyết định và pháp luật nói chung theo
những phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định cho chính quyền cơ sở
có hiệu lực với mọi đối tượng.
Chính quyền cơ sở gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân là tổ
chức đại diện chính thức cho toàn bộ dân cư trên địa bàn. Tính đại diện chính
thức thể hiện ở việc Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân ở
địa bàn trực tiếp bầu ra, thay mặt nhân dân, trên cơ sở yêu cầu, nguyện vọng
của nhân dân và pháp luật, quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống
của nhân dân ở đơn vị hành chính cơ sở.
Chính quyền cơ sở trực tiếp thực hiện quyền lực nhân dân trên địa bàn.
Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Hội đồng nhân dân là cơ quan
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình. Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp
hành với các công cụ (pháp luật, thẩm quyền ra quyết định) và phương tiện quản
lý (bộ máy giúp việc) nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực nhân dân [9].
1.2. HOẠT ĐỘNG TỰ QUẢN CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC
THỰC THI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ- NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
1.2.1. Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở - Những nội
dung cơ bản
1.2.1.1. Những cơ sở để đánh giá hoạt động tự quản của cộng đồng
dân cư cơ sở
Thứ nhất, cộng đồng dân cư cơ sở của Việt Nam gắn bó hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước với sự tồn tại bền vững của thiết chế làng xã, nói đến
cộng đồng dân cư cơ sở cổ truyền là chúng ta nói đến cơ sở kinh tế của nó là chế