luận văn thạc sĩ Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở - Pdf 13

chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học
về làm việc tại chính quyền cơ sở

1
HÀ NỘI - 2009
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển của lịch sử có một lực lượng to lớn để làm
nên sức mạnh và niềm tự hào của dân tộc. Đó chính là nhân dân. Những nhà
tư tưởng lớn của dân tộc đã từng có những tổng kết: “Đẩy thuyền cũng là dân,
lật thuyền cũng là dân”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi” Dân chính là chủ thể
của dân tộc, tự đứng lên bằng chính sức mạnh nội sinh, tình đoàn kết, lòng
nồng nàn yêu nước để bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuộc kháng chiến trường kỳ
chống Pháp, chống Mỹ chính là cuộc kháng chiến thần thánh, như lời Chủ
tịch Hồ Chí Minh tổng kết, đó là cuộc “chiến tranh nhân dân”, bởi nó được
gột lên từ chính sự cố kết của cộng đồng, ý thức tự giác của mỗi một người
dân, niềm tin vào chính nghĩa, vào ngày mai thắng lợi.
Ngày nay đất nước đã sang một trang mới, công cuộc đổi mới bước đầu
đã giành được những thành tựu đáng kể, chủ thể tiên phong trong công cuộc
đổi mới chính là nhân dân, bài học xuyên suốt các kỳ Đại hội VI, VII, VIII,
IX, X mà Đảng ta quán triệt khi lãnh đạo đất nước đó chính là “lấy dân làm
gốc”, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, các mặt
trận đoàn thể đều trên cơ sở tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân. Trên bình
diện lý luận và thực tiễn đều có sự xuất hiện của nhân dân với tư cách là chủ
thể của xã hội. Mặt khác ta cũng thấy rằng, xã hội càng phát triển thì đi kèm
theo nó là những nguy cơ, các nguy cơ không hề được dập tắt mà trái lại nó
lại được nhân lên trong những điều kiện mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng xác định: đất nước ta đối diện với những “nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận

loại nhưng mặt khác cơ chế của nó tác động rất khốc liệt, song hành với nó
4
thì người dân phải đối mặt với cơm, áo, gạo, tiền, xăng dầu, lửa điện.
Người nông dân sau một đêm tỉnh dậy thấy mình không còn là chính mình
nữa, nguy cơ về tương lai sẽ ra sao khi ruộng đất không còn, nguy cơ của
sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá, tương lai con cái học hành như thế
nào với mức học phí quá cao tại một trường học nào đó. Chúng ta vẫn nói
đến dân chủ tức dân là chủ và dân làm chủ; nhưng thực tế có như vậy
không? Cộng đồng dân cư chính là nơi chứa đựng những hậu quả của việc
quyền lực nhà nước, quyền lực của dân, quyền lực của luật pháp, của
những cá nhân được uỷ quyền nhưng không được kiểm soát chặt chẽ. Tại
chính những cơ sở, một số cán bộ tự xem mình là “quan cơ sở” lợi dụng
quyền lực cá nhân để trục lợi, đục khoét của dân, trong sớm chiều trở thành
một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Vậy nên các chính sách, pháp luật về đến
cộng đồng dân cư không được chấp hành hoặc bị méo mó, xuyên tạc. Đơn
thư tố giác của người dân từ các cơ sở cộng đồng cứ gửi lên chồng chất mà
không được giải quyết kịp thời. Tất cả những điều này đang giằng xé lấy
đời sống thực tiễn của người dân; cái quyền lực của đa số, của một xã hội
công dân sẽ được thể hiện và phát huy như thế nào? Cộng đồng dân cư phải
làm gì để tự bảo vệ mình, không có một liều thuốc vắcxin để phòng ngừa
hữu hiệu hết cho các loại bệnh. Phải chăng người dân tại các cộng đồng cần
chủ động đề xuất, chủ động tổ chức, chủ động kết nối, chủ động thực hiện,
chủ động kiểm tra, giám sát Tựu trung lại đó chính là tính tự quản của
cộng đồng dân cư ở tại chính quyền cơ sở.
Chính quyền cơ sở- nơi được xem là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
trị nhưng lại chịu sự chi phối trực tiếp nhất trong việc thực thi các chủ trương,
chính sách, pháp luật của nhà nước, nơi mà người dân được phát huy quyền
làm chủ của mình với nhiều vấn đề thực tế nhất.
Đại hội X của Đảng xác định: “Những ý kiến, nguyện vọng và sáng
kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi

thù của Việt Nam. Và trong thực tiễn thì các nước như cộng hoà liên bang
Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Hàn Quốc đều đã triển khai mạnh mẽ giao
quyền tự quản cho cộng đồng dân cư như một phương cách hữu hiệu nhất cho
việc làm chủ của người dân và thực sự đã thành một đối trọng tạo cân bằng
quyền lực trong xã hội. Vì vậy chúng ta cần có một hệ thống lý luận cho vấn
đề này xứng tầm với yêu cầu của thực tiễn.
Sở dĩ chọn cộng đồng dân cư xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương Tỉnh
Nghệ an làm mẫu nghiên cứu, bởi xuất phát nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An
là cộng đồng dân cư trung chuyển các đặc thù của cộng đồng dân cư miền
Bắc và miền Nam. Người dân Nghệ An đông đúc với nhiều loại hình cộng
đồng tiêu biểu như cộng đồng dân cư thuần nông, cộng đồng dân cư dân tộc,
cộng đồng dân cư nông công dịch vụ, cộng đồng dân cư nông trường Cộng
đồng dân cư Nghệ An luôn tự hào về truyền thống cố kết cộng đồng trong
việc giữ làng, giữ nước, tinh thần sáng tạo, hiếu học của ông đồ xứ Nghệ, ý
chí quật cường của Xô viết Nghệ tĩnh vv Ngày nay, hoà cùng khí thế đổi
mới của cả nước, dù xa các trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, nhiều vấn
đề thực tiễn bức xúc nổi cộm, nhiều điều kiện khó khăn, lực cản khách quan
và chủ quan, nhưng cộng đồng dân cư Nghệ An vẫn là một cộng đồng tiêu
biểu của cả nước trong việc phát huy sức mạnh nội sinh, nhằm phát huy tính
tự quản của mình mà xã Đồng Văn là một điển hình.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoạt động tự
quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ
sở”(Qua khảo sát thực tiễn ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu của tôi các công trình nghiên cứu về hoạt động tự quản
của cộng đồng dân cư là không nhiều, đặc biệt là các nhà nghiên cứu chưa đi
sâu bàn bạc các nội dung trọng tâm, các giải pháp cụ thể của nó, để từ đó khái
7
quát lên thành một hệ thống lý luận đem áp dụng vào thực tiễn. Thường thì

một lực lượng ngang hàng với nhà nước và thị trường. Tên gọi cộng đồng trong
sách này để chỉ loại cơ chế quan hệ và xử thế của từng cá nhân hoặc giữa các
nhóm người với nhau theo một số quy luật trong xã hội loài người.
Bằng các dẫn chứng của mình, tác giả đã nêu ra được những mặt tốt
đẹp của cơ chế cộng đồng như lá chắn để bảo vệ quyền lợi của cá nhân, môi
trường phát triển xã hội, khắc phục được những mặt yếu của cơ chế này như
tính cục bộ họ mạc huyết thống, đúng sai đều dễ lây truyền. Đây cũng chính
là một cơ sở để hiểu về cộng đồng dân cư sinh động, đa dạng và phức tạp.
- Đề tài: “Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ ở
cơ sở”. PGS.TSKH.Phan Xuân Sơn Tác giả đã nghiên cứu sâu sắc và khoa
học về một vấn đề mà tác giả xem là hướng nghiên cứu đúng và cần đầu tư
hơn nữa. Đó chính là xã hội công dân (cách nói hiện đại về cộng đồng dân cư)
nền tảng cho vấn đề chính sách dân tộc; sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở
khả năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huy
động lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của cơ sở.
Từ đây tác giả đã đề ra việc thực hiện tự trị và tự quản bằng cách nâng cao
hiệu quả hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
- Đề tài: "Tổ chức quản lý ở thôn, ấp, bản. Thực trạng và giải pháp đổi
mới, hoàn thiện” của TS Phạm Hữu Nghị. Xuất phát từ quan điểm: Thôn, ấp,
bản không phải là cấp chính quyền mà là một tổ chức của công đồng dân cư,
tác giả đã đề xuất đã đề xuất những giải pháp đổi mới, hoàn thiện các thiết
chế để quản lý nó. Tác giả khẳng định rõ: Trưởng thôn chỉ là người đại diện
cho cộng đồng dân cư và bỏ quy định trưởng thôn là người đại diện cho
UBND xã; đồng thời UBND xã chịu trách nhiệm quản lý hành chính nhà
nước trên toàn bộ địa bàn xã, còn thôn chỉ là đơn vị tổ chức do nhân dân tự
quản; các thiết chế quản lý ở thôn, ấp, bản là thiết chế tự quản chứ không phải
đại diện của chính quyền xã, cánh tay nối dài của chính quyền xã; mặt khác
9
cần đổi mới phương thức xây dựng hương ước, quy ước cho phù hợp với tính
đặc thù của mỗi cộng đồng dân cư.

quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Chính sách và chiến lược giảm bất bình đẳng và nghèo đói, Diễn đàn
kinh tế tài chính Việt Pháp, 2003.
- Nông hội làng. Hồ Chí Minh. Trích Văn kiện Đảng toàn tập (giai
đoạn 1924-1930).
- Dân tộc học đại cương, Lê Sỹ Giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.
- Tâm lý người Việt Nam đi vào cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá -những
diều cần khắc phục, Phạm Minh Hạc, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2004.
- Chuyện nhà chuyện nước, Hữu Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
- Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Trần Quốc Vượng, Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội, 2000.
- Chủ nghĩa tam dân. Tôn Trung Sơn. Viện thông tin khoa học xã hội,
Hà Nội, 1995.
- Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi (Báo cáo nhanh về tình hình
phát triển thế giới năm 1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Thể chế chính trị, PGS,TS Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004.
* Các bài báo:
- ThS Nguyễn Hoàng Anh (2002), “Trưởng thôn và vai trò tự quản ở
cộng đồng dân cư cơ sở”, đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- TS Đặng Đình Tân (2002), “Chính quyền cấp xã-Một số vấn đề đặt ra
hiện nay", đặc san 3, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- Bùi Ngọc Sơn (2002), “Trống làng nào làng ấy đánh”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Số 12.
11
- Phùng Văn Hùng (2006), “Tăng cường tính tự quản của chính quyền
địa phương góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành ngân
sách nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 4.
- Nguyễn Văn Thâm (2000), “Một số vấn đề quản lý nhà nước ở thôn

- Đề xuất những giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt hoạt động tự quản
của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở đáp ứng
yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ trong tình hình mới đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tự quản ở các cộng đồng dân
cư thông qua các Hương ước, quy ước, quy chế dân chủ, mối quan hệ, những
vấn đề nổi cộm mà người dân đặt ra.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tính kế thừa, chuyển giao hoạt động tự quản của cộng
đồng dân cư từ lịch sử để lại. Nhưng tập trung nghiên cứu thời kỳ đổi mới CNH,
HĐH đất nướcvà xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương là điển hình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách,
pháp luật của nhà nước; lý luận khoa học, tiến bộ của các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước về những nội dung liên quan đến hoạt động tự quản của
các cộng đồng dân cư ở chính quyền cơ sở.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa Mác-Lênin, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; giữa
13
phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn giải và quy nạp, giữa phương pháp
lôgíc và lịch sử; đồng thời kết hợp với điều tra và khảo sát tình hình thực tế.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ vị trí, vai trò, phương thức và phát huy sự chủ động, sáng tạo
hoạt động tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà
nước ở cơ sở nói riêng, chính sách pháp luật của nhà nước, sự phát triển của
xã hội nói chung.

căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn
giáo Nhỏ hơn, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản
là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung
về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội [29, tr.15-16].
Quan điểm truyền thống sử dụng thuật ngữ cộng đồng như là một cảm
nghĩ, khi con người có ý thức cộng đồng, là cảm giác chung của cộng đồng
được xác nhận thông qua việc tôn trọng các biểu tượng, các đặc điểm riêng có
của cộng đồng.
Quan điểm hiện đại cho rằng:
15
Cộng đồng là một thuật ngữ dùng để mô tả một tổ chức xã hội
đạt trình độ cao trong tổ chức và hoạt động. Nó là một nơi, một tập
thể địa lý giống như một làng, một thành phố hay một trung tâm.
Một cộng đồng là một tổ chức xã hội có quan tâm đến những nhu
cầu cơ bản như kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, chính trị của các
thành viên của mình [8, tr.34].
Cộng đồng được xác định là những người sống và làm việc trong một
khu vực địa lý nhất định. Điều đó có nghĩa là cộng đồng bao gồm tất cả các
thành viên của gia đình, không chỉ bao gồm chủ hộ. Cộng đồng bao gồm các
tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho các quan
điểm của họ" [61, tr.5].
Thuật ngữ cộng đồng còn được hiểu như là một phân thể/ đơn vị/ nhóm
người trong hệ thống xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng và
tính chất chung về những gì mà mình đang có. Quan niệm mác-xít cho rằng:
Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự
cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện
tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm
các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa
họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương
đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục

trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều hoạt động: Kinh
tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư tưởng, lý luận văn hoá, tâm lý
vv Nhưng hình thức cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã
hội. Hoạt động thường được chia làm 2 loại: Hoạt động hướng
ngoại nhằm cải tạo thiên nhiên, xã hội. Hoạt động hướng nội nhằm
cải tạo bản thân con người. Hai loại hoạt động ấy gắn liền mật thiết
với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo
17
tự nhiên và xã hội. Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua
các thời đại khác nhau [31].
Tự quản:
Là chế độ tổ chức và hoạt động của một xí nghiệp, một đơn vị
kinh doanh, nói rộng ra là của một cộng đồng xã hội do tập thể
những người lao động của nó quản lý, tự quyết định lấy công việc
của mình như tự đặt kế hoạch hành động, tự giám sát công việc, tự
đánh giá kết quả công việc, hành vi xử sự của mình mà không cần
có sự điều hành chỉ huy của người quản lý hoặc bất cứ người nào
khác [31, tr.62].
A. Lagain (1969) đã đưa ra một thang đo gồm 8 mức độ hoạt động của
cộng đồng như sau: Nhân dân kiểm soát, chủ trì thực hiện; chính phủ phối
hợp với các nhóm dân cư trong quản lý; giao quyền cho các nhóm dân cư;
chính phủ đáp ứng một phần các nhu cầu của nhân dân; chính phủ trao đổi
bàn bạc với các nhóm dân; chính phủ thông báo cho dân biết; đưa ra quyết
định và thông báo trước; chính phủ vận động nhân dân làm theo [24, tr.94].
Như vậy, cách thức hoạt động của cộng đồng có thể khác nhau, tuỳ vào
loại hình và mức độ của khách thể mà cộng đồng dân cư tác động cũng như
tuỳ vào năng lực thấu hiểu của cộng đồng với các vấn đề liên quan. Thời gian
của hoạt động cũng khác nhau. Điều chú ý là cộng đồng dân cư càng hoạt
động tích cực dưới sự hướng dẫn tốt của những chủ trương chính sách pháp
luật của nhà nước thì hiệu quả hoạt động càng cao.

cộng đồng kể cả những người thuộc nhóm thiệt thòi nhất cũng tự mình nêu
lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua
đó góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội. Thứ ba, là củng cố các thiết chế, tổ
chức; trong đó nhà nước là trung tâm để tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội
19
và sự tăng trưởng; cuối cùng là thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào
tiến trình phát triển.
* Lý thuyết hành động:
Thuyết hành động gắn liền với cha đẻ của nó là MaxWerber, nó bao gồm:
- Hành động duy cảm: là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tình
cảm, bột phát gây ra, không có sự cân nhắc, xem xét.
- Hành động duy lý - truyền thống: là loại hành động tuân thủ những
thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán từ đời này sang đời khác.
- Hành động duy lý: theo sự phân tích của trí tuệ, dựa trên những phân
tích về giá trị, chuẩn mực (giá trị pháp luật, chuẩn mực đạo đức).
* Lý thuyết xã hội hoá: là quá trình chủ thể hoá các tin tức của xã hội,
là sự tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và
sự xét đoán của mỗi cá nhân. Xã hội hoá không chính thức là sự tương tác xã
hội, giữa những người gần gũi như gia đình, bạn bè, nhóm nghề nghiệp. Xã
hội hoá chính thức thông qua các tổ chức xã hội. Cái cốt lõi của xã hội hoá là
sự quản lý của nhà nước với sự tham gia của nhiều người, nhiều tầng lớp xã
hội nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
* Lý thuyết xã hội dân sự: Khái niệm “civil society” thường được dịch
sang tiếng Việt là “xã hội dân sự”. Nó được bắt nguồn từ tiếng Hy lạp mà
được Aristotl dùng lần đầu tiên là “Koin nia politika” mà sau này ta vẫn
thường dịch là politika (chính trị), từ này được bắt nguồn từ polis có nghĩa là
cộng đồng dân cư thành bang, tức là một cộng đồng xã hội nhất định. Với
Aristotl thì “con người là động vật chính trị” cũng đồng nhất “con người là
động vật xã hội”, trong hệ thống lý luận của ông thì cái chính trị (the
political) và cái đạo đức (the ethical) không có sự khác biệt rõ rệt. Mục tiêu

nhất định của lực lượng sản xuất. Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương mại
và công nghiệp của giai đoạn lịch sử ấy, ở mức độ này, nó vượt khỏi khuôn
21
khổ nhà nước và quốc gia, tuy rằng ở bên ngoài, nó phải tự khẳng định với tư
cách quốc gia và, ở bên trong, phải tự tổ chức với tư cách nhà nước” và khi
không còn sự đối kháng giai cấp nữa thì xã hội cũ bị sụp đổ và C.Mác cho
rằng sẽ không có sự xuất hiện một giai cấp thống trị mới, “sẽ không còn một
quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó nữa vì quyền lực chính trị là sự
tóm lược chính thống của đối kháng trong xã hội dân sự” và “tự do là chỗ
biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội, thành một cơ quan phụ thuộc vào xã
hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là
tuỳ ở chỗ trong những hình thức ấy “sự tự do của nhà nước bị hạn chế nhiều hay
ít” [42, tr.554]. Xuất phát từ quan điểm này của C.Mác ta thấy rằng càng chính
trị hoá, nhà nước hoá các tổ chức, các cộng đồng dân cư thì càng hạ thấp vai
trò của xã hội công dân và cản trở sự phát triển của xã hội công dân. Điều này
cũng cho thấy, tại sao ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các tổ chức xã
hội được tổ chức rộng khắp nhưng là vì “cánh tay nối dài” của nhà nước nên
xã hội công dân ở các nước đó lại kém phát triển và yếu ớt. Theo C.Mác, xã
hội công dân không phải là lĩnh vực chính trị, nhưng mọi hoạt động của xã
hội công dân đều có ảnh hưởng đến nhà nước. Vì vậy các thể chế của xã hội
công dân mang những hình thức chính trị nhất định. Như vậy xây dựng xã hội
công dân, một mặt phải thừa nhận vai trò độc lập khách quan của nó đối với nhà
nước, mặt khác không phủ nhận những hình thức chính trị của nó [60, tr.14].
Vậy nên, xã hội dân sự không những đảm đương chức năng đào
luyện con người thành những công dân sống và làm việc có trách nhiệm với
xã hội, hướng hoạt động của họ tới mục tiêu phát triển chung của cộng
đồng và xã hội mà còn là diễn đàn xã hội để cá nhân có điều kiện trao đổi
các kỹ năng sinh hoạt và làm việc, nâng cao trình độ dân trí của mình. Với
nghĩa đó, xã hội dân sự có mối liên hệ mật thiết với khái niệm vốn xã hội
trong việc chỉ ra sự liên kết và gắn bó của cá nhân con người với cộng

Ở nước ta, với đặc thù của một nước nông nghiệp cổ truyền với chủ
nghĩa yêu nước dân tộc cao cả, trong đời sống xã hội Việt Nam, xã hội dân sự
gắn với những thiết chế xã hội mang tính truyền thống có mặt trong các làng
xã nông thôn, những tổ chức quần chúng - “xã hội dân sự ở nông thôn” đã
đóng vai trò lịch sử quan trọng và tích cực trong cấu trúc xã hội dân sự Việt
Nam [47]. Đó là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi người dân trực
tiếp và bằng các hoạt động tự quản thích hợp, tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất
và đời sống, cùng nhau giải quyết các công việc của nội bộ cộng đồng, là nơi tồn tại
và duy trì bao đời nay “các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan
hệ truyền thống gắn bó trong đời sống vật chất và văn hoá” [17, tr.171-173]. Dù được
thành lập theo mục tiêu và hướng dẫn của Đảng và Nhà nước nhưng các thiết chế
phi quan phương và các tổ chức đã hoạt động như một chiếc cầu nối giữa Đảng
với nhân dân hướng đến thực hiện các nhiệm vụ phát triển cụ thể, phục vụ cho
phúc lợi của cộng đồng dân cư cơ sở.
1.1.2. Quyền lực nhà nước ở cơ sở
1.1.2.1. Quyền lực nhà nước
Quyền lực trong xã hội có cấu trúc phức tạp, được tạo thành từ nhiều
loại quyền lực khác nhau. Có quyền lực đạo đức, quyền lực tôn giáo, quyền
lực dòng họ.Trong số rất nhiều loại quyền lực đồng thời tồn tại trong sự đan
xen, thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể của quyền lực
trong xã hội.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân trong điều kiện của CNXH), nó
nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình. “Quyền lực
chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để
trấn áp một giai cấp khác” [43, tr.628].
Một trong những nguồn gốc của quyền lực nhà nước là quyền lực công
cộng, là “sức mạnh của ý chí chung” của cả cộng đồng dân cư cùng sống trên
24
một lãnh thổ, nhưng là quyền lực công cộng trong điều kiện "xã hội bị phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status