Luận văn thạc sĩ Hoạt động mua lại và sáp nhập tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN QUANG QUÝ
HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS-TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện.

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1

1.1 Khái niệm về mua lại và sáp nhập ngân hàng 1

1.2 Phân loại mua lại và sáp nhập ngân hàng 3

1.2.1 Phân loại mua lại ngân hàng 3

1.2.2 Phân loại sáp nhập ngân hàng 3

1.3 Động cơ, phương thức mua lại và sáp nhập ngân hàng 4

1.3.1 Động cơ mua lại và sáp nhập ngân hàng 4

1.3.2 Phương thức mua lại và sáp nhập ngân hàng 5

1.4 Những lợi ích và tiêu cực của việc mua lại và sáp nhập ngân hàng 7

1.4.1 Những lợi ích của việc mua lại và sáp nhập ngân hàng 7

1.4.2 Những tiêu cực của việc mua lại và sáp nhập ngân hàng 9

1.5 Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng trên thế giới 10

1.5.1 Thực trạng hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng trên thế giới
10

1.5.2 Những bài học kinh nghiệm trong hoạt động mua lại và sáp nhập
ngân hàng 18


KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM 55

3.1 Đề xuất đối với Ngân hàng Nhà nước 55

3.2 Đề xuất đối với Ngân hàng thương mại : nâng cao hiệu quả định giá và
quy trình mua lại và sáp nhập 59

3.2.1 Tìm kiếm mục tiêu phù hợp 59

3.2.2 Định giá và soát xét 61

3.2.3 Hoàn tất giao dịch và chuẩn bị các vấn đề sau sáp nhập 64

3.3 Các đề xuất hỗ trợ 66

3.3.1 Chủ động chuẩn bị sẽ mang lại kết quả tốt 66

3.3.2 Đánh giá và rút kinh nghiệm M&A 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 : Vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, tổng tài sản của SCB giai đoạn 2010-
2013.
Hình 2.2 : Mức tăng so với năm trước của Vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, tổng
tài sản của SCB giai đoạn 2010-2013.
Hình 2.3 : Hệ số lợi nhuận sau thuế/tổng doanh thu, tỷ số lợi nhuận trên tài
sản, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ngành ngân hàng theo
Bảng xếp hạng V1000 năm 2013.
Hình 2.4 : Tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
của ngân hàng SHB giai đoạn 2010 – 2013.

Hình 2.5 : Tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
của ngân hàng SCB giai đoạn 2010 – 2013.
Hình 3.1 : Thời gian từ khi hình thành ý tưởng đầu tư đến lúc hoàn tất giao
dịch M&A.
Hình 3.2 : Giao dịch được tài trợ từ đâu ?
Hình 3.3 : Các biện pháp bổ sung khi thực hiện giao dịch


NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín, sáp nhập SHB-HBB lại cho thấy một thực tế là một ngân hàng nhỏ bé lại có thể thâu tóm các ngân hàng khác lớn
hơn mình rất nhiều. Từ đây vấn đề đặt ra chính là động cơ của các vụ M&A
mang màu sắc lợi ích cá nhân, sử dụng sáp nhập và thâu tóm để trục lợi, chu
chuyển vốn không minh bạch, …
Bên cạnh đó tồn tại một thực trạng là tỉ lệ thành công của các vụ M&A
ngân hàng đang còn rất thấp và đa phần các vụ M&A không tạo ra giá trị gia
tăng, hoặc không tăng cường năng lực tài chính cũng như khả năng tuân thủ
và minh bạch hóa thông tin của hệ thống.
Những dự báo cũng như thực tế đã diễn ra trong năm 2012 cho thấy xu
thế M&A ngân hàng đã và đang tăng bên cạnh những dấu hiệu khả quan và
các động thái hỗ trợ tích cực từ phía Chính phủ cho quá trình M&A ngành
ngân hàng chứng minh rằng chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào viễn
cảnh tốt đẹp hơn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Những vụ M&A ngân hàng tại Việt Nam vừa qua đã cho thấy những đặc
trưng của M&A ngành ngân hàng và bộc lộ những mặt hiệu quả cũng như hạn
chế đáng để suy ngẫm, đồng thời đặt ra những yêu cầu và thách thức trong
việc quản lý và điều hành hoạt động M&A ngành ngân hàng. Chính vì những
lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài khóa luận của mình là : “Hoạt động
mua lại và sáp nhập tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”.

2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích và đánh giá vai trò quản lý hoạt động mua lại và sáp nhập
ngân hàng tại Việt Nam thông qua các thể chế quản lý (Ủy ban chứng khoán,
NHNN, …).
Phân tích các tình huống M&A ngân hàng thương mại tại Việt Nam
nhằm làm rõ thực trạng hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam, rút ra một
số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.

1.1 Khái niệm về mua lại và sáp nhập ngân hàng
Tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm
2005 quy định :
Sáp nhập doanh nghiệp : “Một hoặc một số công ty cùng loại có thể
sáp nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,
nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt
sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.” (Điều 153).
Hợp nhất doanh nghiệp : “Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể
hợp nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,
nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn
tại của các công ty bị hợp nhất.” (Điều 152).
Việc mua lại doanh nghiệp không được đề cập đến trong Luật Doanh
nghiệp mà được nhắc đến trong Luật Cạnh tranh ban hành ngày 03 tháng 12
năm 2004 : “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ
hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. (Điều 17).
Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của NHNN Việt
Nam quy định việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại TCTD, mở rộng phạm vi
các đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhất; kế thừa tinh thần của Luật
Doanh nghiệp năm 2005 về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh năm 2004 về
tập trung kinh tế, đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối
với WTO trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cụ thể :
Về hình thức mua lại và sáp nhập, Thông tư quy định việc sáp nhập,
hợp nhất và mua lại giữa các TCTD chỉ được tiến hành dưới một số hình thức
nhất định. Các hình thức sáp nhập bao gồm : Ngân hàng, công ty tài chính,
2

TCTD hợp tác sáp nhập vào một ngân hàng; công ty tài chính sáp nhập vào
một công ty tài chính; công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty
cho thuê tài chính. Các hình thức hợp nhất bao gồm : Ngân hàng được hợp

khác khi không đạt được sự đồng thuận hay biết trước của ban điều hành ngân
hàng bị mua lại. Cổ đông của ngân hàng bị mua lại được hoàn tiền hoặc hoán
đổi cổ phiếu và hoàn toàn mất quyền kiểm soát ngân hàng.
- Mua lại có thiện chí : việc mua lại có thể vì lợi ích chung của cả hai
bên tham gia, do đó có sự thỏa thuận và thương lượng giữa hai bên, bên mua
lại và bên được mua lại.
1.2.2 Phân loại sáp nhập ngân hàng
- Sáp nhập theo chiều ngang : là sự sáp nhập hoặc hợp nhất giữa hai
hay nhiều ngân hàng là đối thủ của nhau, kinh doanh và cạnh tranh trên cùng
một dòng sản phẩm, trong cùng một thị trường. Kết quả từ những vụ sáp nhập
theo dạng này sẽ đem lại cho bên sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp
thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân
phối và hậu cần. Khi hai hay nhiều đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết
hợp lại với nhau, họ không những giảm bớt cho mình đối thủ mà còn tạo nên
một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại.
- Sáp nhập theo chiều dọc : là sự sáp nhập hoặc hợp nhất giữa hai hay
nhiều ngân hàng có mối quan hệ người mua - người bán, nằm trên cùng một
chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của ngân hàng
sáp nhập trên chuỗi giá trị đó. Một ngân hàng có thể sáp nhập với một ngân
hàng là nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ của nó - gọi là sáp nhập lùi, hoặc mua
lại ngân hàng có quan hệ thân cận trong hệ thống phân phối sản phẩm dịch vụ
– gọi là sáp nhập tiến. Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho ngân hàng tiến
hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng hoặc đầu ra sản
4

phẩm dịch vụ, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn cung cấp sản phẩm
dịch vụ hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh.
- Sáp nhập tổ hợp : bao gồm tất cả các loại sáp nhập khác. Nhóm thứ
nhất là sáp nhập tổ hợp thuần túy, hai bên sáp nhập không hề có mối quan hệ
nào với nhau. Nhóm thứ hai là sáp nhập bành trướng về địa lý, hai ngân hàng

sáp nhập hai hay nhiều ngân hàng lại với nhau đôi khi cũng là sự lựa chọn của
các bên tham gia. Trong một số trường hợp, bên bị mua lại là ngân hàng đã
thành công và ổn định trong một lĩnh vực nào đó, bán lại ngân hàng đơn giản
chỉ vì lợi nhuận do thương hiệu ngân hàng mang lại.
1.3.2 Phương thức mua lại và sáp nhập ngân hàng
(i) Chào thầu
Chào thầu là phương thức mà ngân hàng đi mua hoặc nhóm nhà đầu tư
có ý định mua lại ngân hàng mục tiêu đề nghị cổ đông hiện hữu bán lại cổ
phiếu của ngân hàng này với giá chào thầu đương nhiên phải cao hơn giá thị
trường và đủ hấp dẫn cổ đông hiện hữu.
Ngân hàng mục tiêu thường là ngân hàng nhỏ hơn, tuy vậy có những
trường hợp ngân hàng nhỏ hơn vẫn có thể “thôn tính” ngân hàng lớn hơn với
những nguồn lực tài chính khổng lồ mà họ huy động được từ bên ngoài.
Nguồn lực tài chính có thể huy đồng bằng : (a) sử dụng vốn thặng dư, (b) huy
động vốn từ cổ đông hiện hữu bằng cách phát hành hành cổ phiếu mới, phát
hành trái phiếu chuyển đổi, (c) vay từ các TCTD.
Mục tiêu trong thương vụ chào thầu là ngân hàng đi mua nắm đủ lượng
cổ phiếu chi phối để thay thế các vị trí chủ chốt của ngân hàng mục tiêu.
Thương hiệu và cơ cấu tổ chức của ngân hàng bị mua lại có thể vẫn được giữ
nguyên mà không nhất thiết phải sáp nhập hoàn toàn vào ngân hàng mua lại.
Ban quản trị của ngân hàng mục tiêu có thể chống lại việc bị mua lại bằng
6

cách tìm đủ nguồn lực tài chính mạnh hơn để đưa ra mức chào mua cổ phần
cao hơn. Dù sao đi nữa, việc bị tấn công theo phương thức chào thầu cũng sẽ
làm ảnh hưởng lớn đến ngân hàng mục tiêu bị tấn công.
(ii) Thương lượng tự nguyện
Thương lượng tự nguyện là hình thức khá phổ biến trong ngành tài
chính – ngân hàng. Khi các bên tham gia dự tính hoặc nhận thấy được những
lợi ích tiềm tàng đem lại từ thương vụ sáp nhập thì ban điều hành các bên sẽ

Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn thường được sử dụng trong các
thương vụ M&A mang tính thù địch, nhằm thôn tính đối thủ.
(v) Mua lại công ty
Phương thức mua lại công ty hay mua lại tài sản cũng tương tự phương
thức chào thầu nhưng mang tính thỏa thuận. Theo đó ngân hàng đi mua sẽ
thương thảo với ngân hàng mục tiêu về việc mua lại tài sản của ngân hàng đó
với mức giá đã được thẩm định trước đó để thống nhất mức giá phù hợp.
Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc nợ.
1.4 Những lợi ích và tiêu cực của việc mua lại và sáp nhập ngân hàng
1.4.1 Những lợi ích của việc mua lại và sáp nhập ngân hàng
Lợi ích mà các ngân hàng kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm :
- Cải thiện tình hình tài chính : về mặt giá trị thì giá trị của ngân hàng
mới sau M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của cả hai hoặc nhiều ngân
hàng khi còn đứng riêng rẽ. Qua đó, ngân hàng có thêm vốn khả dụng cũng
như tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn, cũng như chia sẻ những rủi ro và tăng
cường tính minh bạch tài chính.
- Giảm thiểu chi phí ngắn hạn : nói chung sáp nhập ngân hàng thường
có khuynh hướng giảm chi phí hành chánh. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm
giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ như các công việc văn phòng, tài chính
kế toán hay marketing, … Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với
8

đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp tốt để các ngân hàng sắp xếp
lại những vị trí làm việc kém hiệu quả. Điều quan trọng là ngân hàng sẽ giảm
thiểu trùng lặp trong mạng lưới phân phối.
- Củng cố vị thế thị trường hay đạt được hiệu quả dựa vào quy mô :
Một ngân hàng lớn lúc nào cũng có thế hơn khi giao dịch với các đối tác,
ngân hàng lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với ngân hàng nhỏ. Ngân
hàng sau M&A sẽ tăng thị phần, tăng khách hàng, qua đó có thể tận dụng
được những mối quan hệ khách hàng, tận dụng khả năng bán chéo dịch vụ,

nhập. Hơn nữa, các nhà đầu tư chiến lược hoặc các tổ chức tài chính đứng sau
thương vụ sáp nhập nắm quyền chi phối mạnh giá cổ phiếu. Động cơ của đa
số thương vụ sáp nhập đều xuất phát từ lợi ích cá nhân của nhà quản lý chứ
không nhằm bảo vệ đa phần các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Điều này vô hình chung
thường đưa đến những quyết định mua lại và sáp nhập không cần thiết hoặc
thiếu tính minh bạch.
Bên cạnh đó là rủi ro đem lại xuất phát từ lợi ích mong muốn của bên
thứ ba, đó chính là các tổ chức tư vấn, ngân hàng đầu tư, ngân hàng luật, …
Với mong muốn thu được phí dịch vụ và môi giới cao từ các giao dịch sáp
nhập thành công, các tổ chức trung gian này dễ đưa ra những thống kê lạc
quan, những kết quả đánh giá, tư vấn sai lệch.
M&A đôi khi chỉ là những thương vụ nhằm thôn tính đối thủ để tăng
tính cạnh tranh, chiếm thế độc quyền trong một lĩnh vực, một ngành nào đó.
Hậu quả đáng kể của M&A đó là việc đánh mất thương hiệu, văn hóa
ngân hàng mà phải mất một thời gian rất dài cùng nhiều khó khăn, tổn hao
sức lực, trí tuệ để đạt được. Một trong những cái giá không nhỏ khác mà các
ông chủ mới phải gánh sau thương vụ mua lại là giải quyết khối nợ xấu, là
phải tăng dự phòng rủi ro tín dụng bởi các món vay quá hạn từ ngân hàng
được sáp nhập.
10

M&A sẽ đem lại xu hướng chuyển dịch nhân sự mạnh mẽ từ việc tái
cấu trúc bộ máy hoạt động, sự dịch chuyển và thay đổi những vị trí, nguồn
nhân sự, cũng như thay đổi môi trường làm việc. Sự thay đổi nguồn nhân sự
sau M&A là tất yếu nhưng dễ dẫn đến tình trạng không phù hợp, ức chế ở vị
trí mới, môi trường mới, cũng như gây ra hiện tượng chảy máu chất xám. Vì
vậy việc nhận diện và đánh giá những khó khăn, thách thức sau M&A cũng
như việc chuẩn bị những giải pháp khắc phục hiệu quả là rất quan trọng,
mang tính sống còn.
1.5 Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng trên thế giới

+ Năm 2012 : PNC Financial Services mua lại RBC Bank, thương vụ
trị giá 3,45 tỷ USD.
+ Năm 2013 : FirstMerit Bank mua lại Citizens Republic Bancorp,
thương vụ trị giá 912 tỷ USD.
Những tiền đề và các yếu tố tác động chính tạo nên động cơ cho hoạt
động M&A ngân hàng tại Mỹ, đó là :
Về bối cảnh lịch sử, Đạo luật Anti-Trust (chống độc quyền) và Đạo luật
Bank Holding Company Act (công ty sở hữu ngân hàng) đã giới hạn hoạt
động ngân hàng và khả năng mở rộng kinh doanh của các ngân hàng Mỹ.
Thêm vào đó, hệ thống ngân hàng Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng đổ vỡ tín
dụng năm 1981 khiến các khoản vay tín dụng có giá trị lớn tại các nước Mỹ
Latinh trở nên xấu đi, các ngân hàng Mỹ gặp khó khăn và phải chịu áp lực
chuyển hướng kinh doanh và tái cơ cấu hệ thống. Với sự ra đời của Đạo luật
Riegle-Neal năm 1994, hoạt động M&A ngân hàng Mỹ được nới rộng ra,
không còn giới hạn trong phạm vi tiểu bang mà có thể thực hiện xuyên các
tiểu bang.
Một trong những chiến lược chuyển hướng mà các ngân hàng Mỹ thực
hiện là việc chuyển chiến lược kinh doanh sang phục vụ thị trường ngân hàng
bán lẻ. Các ngân hàng sử dụng chiến lược này nhằm phục vụ các khách hàng
12

có nhu cầu về các sản phẩm ngân hàng truyền thống như vay ngắn hạn, tín
dụng bất động sản dài hạn, tiền gửi, … và kèm theo đó là các sản phẩm mới
như quỹ tương hỗ, bảo hiểm, tư vấn đầu tư và các dịch vụ quản lý tài chính.
Xu hướng này đã được thực hiện hiệu quả bởi các ngân hàng Citibank và
Well Fargo. Theo đó, để khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ, các
ngân hàng giảm phí cho khách hàng sử dụng trọn gói các dịch vụ ngân hàng
cung cấp và ngược lại, phí sẽ được tính tăng lên cho các khách hàng chỉ sử
dụng các sản phẩm ngân hàng cơ bản truyền thống.
Xu hướng cơ cấu thu nhập chủ yếu từ lãi chuyển sang từ thu phí dịch

Nhiều ngân hàng đang hướng tới mục tiêu xây dựng quầy giao dịch nhìn và
cảm nhận tương tự như mô hình cửa hàng Apple kết hợp nhân viên giao dịch
tại quầy và công nghệ. Nhưng đây là sự quá độ có nguy cơ làm hàng triệu
khách hàng tụt hậu, trừ khi ngân hàng duy trì dịch vụ tối thiểu tại quầy.
Theo các chuyên gia kinh tế, tiến trình hợp nhất các ngân hàng ở Châu
Âu vẫn còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm sắp tới. Bởi vì, thứ
nhất, có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động M&A ngân hàng như sự
đổi mới về kỹ thuật và công nghệ ngân hàng, chính sách về tài chính ngân
hàng của các quốc gia, tiến trình toàn cầu hóa; thứ hai, số lượng các ngân
hàng trên đầu người ở cộng đồng Châu Âu nhiều gấp hai lần so với ở Mỹ,
chính vì thế sẽ còn rất nhiều cơ hội cho hoạt động M&A; thứ ba, môi trường
kinh doanh không đồng nhất giữa các quốc gia Châu Âu vẫn còn tồn tại,
chính vì thế cùng với quá trình xây dựng cộng đồng Châu Âu thành một thị
trường duy nhất sẽ tạo điều kiện cho hoạt động M&A diễn ra mạnh mẽ hơn.
Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng tại Nhật Bản
Hoạt động M&A ngân hàng tại Nhật Bản gắn liền với sự đổ vỡ bong
bóng bất động sản, mà nguyên nhân là các khoản nợ xấu phát sinh từ các
khoản đầu tư bất động sản và các khoản đầu tư kém hiệm quả khác. Để khắc
phục tình hình yếu kém trên, Chính phủ và các ngân hàng Nhật Bản đã thực
14

hiện hàng loạt vụ M&A ngân hàng. Tuy nhiên, những vụ M&A lớn này vẫn
không giải quyết được những vấn đề tồn đọng mà các ngân hàng này gặp
phải, hiệu quả mang lại không cao, lợi ích kinh tế về quy mô thu được rất ít
và các ngân hàng vẫn chưa trở lại hoạt động hiệu quả do ảnh hưởng của các
yếu tố phát sinh từ nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái.
Hoạt động M&A ngân hàng tại Nhật diễn ra mạnh mẽ hơn với quy mô
lớn hơn do tác động cộng hưởng từ nền kinh tế Nhật Bản yếu kém và cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Á. Các hoạt động M&A được
thực hiện với mục đích là cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và

thành động lực cho khu vực tài chính của Trung Quốc trong việc cải cách thể
chế cơ cấu mà không đem lại những cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Có thể dẫn chứng sự thành công của chiến lược này của các NHTM
Trung Quốc qua kết quả đạt được tại Ngân hàng ICBC. ICBC đã nâng cấp hệ
thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp hai lần trong hai năm đầu thực
hiện chiến lược và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ Nhân Dân Tệ
(482 triệu USD/ngày) kể từ tháng 12/2003. ICBC cũng dẫn đầu trong việc
cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động
tại thị trường nội địa. Hầu hết các công ty bảo hiểm, trong số 10 tập đoàn môi
giới bảo hiểm lớn nhất Trung Quốc và một số tổ chức tài chính đa quốc gia –
trong đó phải kể đến Citibank, là khách hàng trong tổng số 5.600 khách hàng
của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC.
Thế mạnh của các NHTM Trung Quốc so với các NHTM nước ngoài là
họ dễ chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng nội địa hơn. Do vậy, họ đã biết tận
dụng lợi thế này để phát triển dịch vụ mới và hiện đại (là điểm mạnh của ngân
hàng nước ngoài), những dịch vụ này cũng cần có sự tin tưởng của khách
hàng, vì vậy họ đi trước và đã thành công. Xã hội và văn hóa truyền thống
Trung Quốc đã trở thành một rào cản vô hình ngăn chặn sự tấn công mạnh mẽ
của các đối thủ cạnh tranh đến từ bên ngoài biên giới.
16

Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng tại Đông Nam Á
Tại các nước Đông Nam Á, hoạt động M&A ngân hàng cũng diễn ra
dưới tác động của cuộc khủng hoảng và sự phá giá của đồng bản tệ, hệ thống
ngân hàng các quốc gia này đã lâm vào tình trạng thua lỗ và đứng trước nguy
cơ phá sản. Các ngân hàng phải tiến hành sáp nhập và mua lại với nhau và với
các đối tác nước ngoài nhằm thoát khỏi nguy cơ phá sản, và phải tiến hành cơ
cấu để phục hồi.
Ở Thái Lan, các ngân hàng nước ngoài, mà cụ thể nhiều nhất là HSBC
Anh Quốc và các ngân hàng Singapore vốn ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status