Hoạt động mua lại và sáp nhập tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN QUANG QUÝ

HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS-TS TRƯƠNG QUANG THÔNG

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện.
Các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc trung thực
và được phép công bố.
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2014.

Nguyễn Quang Quý


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan

2.1.2 Sáp nhập ngân hàng thương mại trong quá trình tái cấu trúc ........ 23
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng hoạt động sáp nhập ngân hàng thương mại
trong quá trình tái cấu trúc ..................................................................... 25
2.1.4 Cơ quan thực hiện tái cấu trúc...................................................... 28
2.1.5 Những khó khăn, thách thức chính trong quá trình tái cấu trúc .... 29
2.1.6 Những thiếu sót của quá trình tái cấu trúc .................................... 31
2.2 Nghiên cứu tình huống hợp nhất ba ngân hàng : Ngân hàng thương mại
cổ phần Đệ Nhất, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn và Ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa ................................................. 34
2.3 Nghiên cứu tình huống sáp nhập Ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Gòn - Hà Nội và Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội .................. 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................. 54
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM .................................................................................................. 55
3.1 Đề xuất đối với Ngân hàng Nhà nước ................................................ 55
3.2 Đề xuất đối với Ngân hàng thương mại : nâng cao hiệu quả định giá và
quy trình mua lại và sáp nhập.................................................................... 59
3.2.1 Tìm kiếm mục tiêu phù hợp ......................................................... 59
3.2.2 Định giá và soát xét ..................................................................... 61
3.2.3 Hoàn tất giao dịch và chuẩn bị các vấn đề sau sáp nhập ............... 64
3.3 Các đề xuất hỗ trợ .............................................................................. 66
3.3.1 Chủ động chuẩn bị sẽ mang lại kết quả tốt ................................... 66
3.3.2 Đánh giá và rút kinh nghiệm M&A .............................................. 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ............................................................................. 69
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Hình 2.4 : Tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
của ngân hàng SHB giai đoạn 2010 – 2013.
Hình 2.5 : Tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
của ngân hàng SCB giai đoạn 2010 – 2013.
Hình 3.1 : Thời gian từ khi hình thành ý tưởng đầu tư đến lúc hoàn tất giao
dịch M&A.
Hình 3.2 : Giao dịch được tài trợ từ đâu ?
Hình 3.3 : Các biện pháp bổ sung khi thực hiện giao dịch


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong những năm gần đây, những thuật ngữ kinh tế như : tái cấu trúc,
sáp nhập, mua lại, thâu tóm, … đã trở nên phổ biến và quen thuộc tại Việt
Nam. Các hoạt động mua bán, sáp nhập ngày càng tăng lên về số lượng và
phát triển mạnh cùng với thị trường chứng khoán Việt Nam, trở thành xu
hướng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp cổ phần - tài chính.
Trên thế giới, hoạt động mua lại và sáp nhập đã có từ những năm cuối
thế kỷ 19 với những xu hướng khác nhau khá rõ rệt và đem lại những kết quả
khác nhau, kể cả trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Tại Việt Nam, M&A
tuy còn khá mới mẻ nhưng đang có những bước đi đáng kể. Phát biểu tại Hội
nghị cạnh tranh Asean lần 2 ngày 13/09/2012 tại Thành phố Hồ Chí Minh,
Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết trong ba năm qua, các
thương vụ M&A đã không ngừng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.
Cụ thể, trong năm 2011 có 266 vụ với tổng giá trị giao dịch đạt 6,25 tỉ USD,
tăng mạnh so với con số 295 vụ, trị giá 1,14 tỉ USD vào năm 2009. Riêng
trong ba tháng đầu năm 2012, có 60 vụ M&A với trị giá khoảng 2 tỉ USD …
Trong năm 2011 tình hình kinh tế nói chung cũng như thị trường chứng
khoán gặp nhiều khó khăn chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy các thương

ngân hàng tại Việt Nam thông qua các thể chế quản lý (Ủy ban chứng khoán,
NHNN, …).
Phân tích các tình huống M&A ngân hàng thương mại tại Việt Nam
nhằm làm rõ thực trạng hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam, rút ra một
số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.


3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là hoạt động mua lại và sáp
nhập ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu tình huống các vụ M&A
ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2011-2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài sử dụng phương
pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích, so sánh, thống kê và áp dụng nghiên cứu
tình huống cụ thể trong hoạt động mua lại và sáp nhập tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam.
5. Kết cấu đề tài
Nội dung của đề tài được chia làm 03 chương như sau :
Chương 1 : Tổng quan về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại.
Chương 2 : Hoạt động mua lại và sáp nhập tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
Chương 3 : Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mua lại và sáp
nhập tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
*************************


1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP

TCTD hợp tác sáp nhập vào một ngân hàng; công ty tài chính sáp nhập vào
một công ty tài chính; công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty
cho thuê tài chính. Các hình thức hợp nhất bao gồm : Ngân hàng được hợp
nhất với ngân hàng, công ty tài chính, TCTD hợp tác để thành một ngân hàng;
các công ty tài chính hợp nhất thành một công ty tài chính; các công ty cho
thuê tài chính hợp nhất thành một công ty cho thuê tài chính. Các hình thức
mua lại bao gồm : một ngân hàng được mua lại công ty tài chính, công ty cho
thuê tài chính; một công ty tài chính được mua lại công ty cho thuê tài chính.
Sáp nhập ngân hàng là sự kết hợp của hai hoặc nhiều ngân hàng để tạo
ra một ngân hàng mới duy nhất có quy mô lớn hơn. Sáp nhập thường do sự tự
nguyện của các bên tham gia.
Mua lại ngân hàng là việc một ngân hàng mua lại một ngân hàng khác,
thông thường là một ngân hàng lớn hơn sẽ mua lại ngân hàng nhỏ hơn.
Trên thực tế thì việc mua lại một ngân hàng và trở thành chủ sở hữu
mới gắn liền với việc thâu tóm ngân hàng được mua lại, theo đó ngân hàng
được mua lại không còn tồn tại, còn cổ phiếu vẫn tiếp tục được giao dịch.
Việc sáp nhập xảy ra khi hai hay nhiều ngân hàng, thường có quy mô
tương đương nhau, thỏa thuận để cùng trở thành một ngân hàng mới duy nhất.
Cổ phiếu của các ngân hàng sáp nhập sẽ ngưng giao dịch và thay vào đó là cổ
phiếu của ngân hàng mới.
Như vậy, để có một thương vụ sáp nhập, mua lại, hay hợp nhất thì các
ngân hàng phải cùng loại hình và phải có sự chấm dứt hoạt động kinh doanh
của một hoặc cả các bên tham gia. Cùng với các quy định về việc thành lập
ngân hàng mới, việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của
bên được mua lại, được sáp nhập, ta có cơ sở để xác định chính xác hình thức
một thương vụ mua lại hay sáp nhập NHTM.


3


4

phẩm dịch vụ, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn cung cấp sản phẩm
dịch vụ hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh.
- Sáp nhập tổ hợp : bao gồm tất cả các loại sáp nhập khác. Nhóm thứ
nhất là sáp nhập tổ hợp thuần túy, hai bên sáp nhập không hề có mối quan hệ
nào với nhau. Nhóm thứ hai là sáp nhập bành trướng về địa lý, hai ngân hàng
kinh doanh cùng một loại sản phẩm dịch vụ nhưng cung cấp trên hai thị
trường hoàn toàn cách biệt về địa lý. Nhóm thứ ba là sáp nhập đa dạng hóa
sản phẩm, hai ngân hàng kinh doanh hai loại sản phẩm dịch vụ khác nhau
nhưng cùng ứng dụng một công nghệ hoặc tiếp thị gần giống nhau.
1.3 Động cơ, phương thức mua lại và sáp nhập ngân hàng
1.3.1 Động cơ mua lại và sáp nhập ngân hàng
Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi
thương vụ M&A. Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của ngân hàng
mới (sau khi sáp nhập) được nâng cao.
Trước hết phải kể đến một động cơ mang tính chất trung tính, đó là
M&A để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Dưới sức ép cạnh
tranh của môi trường kinh doanh toàn cầu hôm nay, các ngân hàng buộc phải
phát triển để tồn tại, và một trong những cách tốt nhất để tồn tại là hợp nhất
hoặc thâu tóm các ngân hàng khác. Cạnh tranh thúc đẩy M&A, và M&A
càng khiến cuộc cạnh tranh gay gắt hơn. Để ngân hàng của mình không bị đối
thủ cạnh tranh thâu tóm sáp nhập và địa vị của bản thân không bị đe dọa, ban
quản trị và điều hành các ngân hàng luôn phải chủ động tìm cơ hội thực hiện
M&A để giành lợi thế cạnh tranh trước thị trường.
Động cơ của bên mua
Những ngân hàng mạnh mua lại ngân hàng khác thường nhằm tạo ra
một ngân hàng mới với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả tốt về chi
phí cũng như chiếm lĩnh thị trường tốt hơn, hiệu quả vận hành cao hơn.




6

cách tìm đủ nguồn lực tài chính mạnh hơn để đưa ra mức chào mua cổ phần
cao hơn. Dù sao đi nữa, việc bị tấn công theo phương thức chào thầu cũng sẽ
làm ảnh hưởng lớn đến ngân hàng mục tiêu bị tấn công.
(ii) Thương lượng tự nguyện
Thương lượng tự nguyện là hình thức khá phổ biến trong ngành tài
chính – ngân hàng. Khi các bên tham gia dự tính hoặc nhận thấy được những
lợi ích tiềm tàng đem lại từ thương vụ sáp nhập thì ban điều hành các bên sẽ
cùng thương thảo với nhau để tiến hành việc sáp nhập.
Thương lượng tự nguyện cho thấy các bên tham gia ở trong thế chủ
động và động cơ sáp nhập là rất rõ ràng. Các ngân hàng tham gia sáp nhập
theo hình thức này chủ yếu là các ngân hàng tầm vóc trung bình, sáp nhập lại
với nhau để tạo thành một ngân hàng lớn hơn về quy mô hoạt động cũng như
khả năng cạnh tranh, tận dụng được lợi thế về nguồn lực sẵn có. Vì vậy có thể
nói thương lượng tự nguyện là phương thức sáp nhập theo chiều ngang.
(iii) Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Bên mua lại sẽ tiến hành thu gom cổ phiếu bằng nhiều hình thức như :
thu mua dần trên thị trường chứng khoán, thu gom dưới hình thức chuyển
nhượng từ các cổ đông nhỏ lẻ, từ các nhà đầu tư chiến lược.
Phương thức thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đòi hỏi bên
mua lại cần có tiềm lực tài chính rất lớn và mang tính chất thôn tính đối thủ
cạnh tranh hoặc ngân hàng mục tiêu. Phương thức này cũng đòi hỏi thời gian
tiến hành tương đối dài và sự chuẩn bị hết sức kỹ càng. Việc thu gom cổ
phiếu dưới hình thức chuyển nhượng thường diễn ra hết sức tinh vi và tính
minh bạch không cao.
(iv) Lôi kéo cổ đông bất mãn
Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn thường được tiến hành đi kèm

có khuynh hướng giảm chi phí hành chánh. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm
giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ như các công việc văn phòng, tài chính
kế toán hay marketing, … Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với


8

đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp tốt để các ngân hàng sắp xếp
lại những vị trí làm việc kém hiệu quả. Điều quan trọng là ngân hàng sẽ giảm
thiểu trùng lặp trong mạng lưới phân phối.
- Củng cố vị thế thị trường hay đạt được hiệu quả dựa vào quy mô :
Một ngân hàng lớn lúc nào cũng có thế hơn khi giao dịch với các đối tác,
ngân hàng lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với ngân hàng nhỏ. Ngân
hàng sau M&A sẽ tăng thị phần, tăng khách hàng, qua đó có thể tận dụng
được những mối quan hệ khách hàng, tận dụng khả năng bán chéo dịch vụ,
cũng như tận dụng kiến thức sản phẩm để tạo cơ hội kinh doanh mới, nâng
cao năng lực cạnh tranh.
- Tận dụng quy mô dài hạn : Thông qua việc mua bán hoặc sáp nhập,
ngân hàng mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh,
tối ưu hóa kết quả đầu tư công nghệ, tận dụng kinh nghiệm thành công của
các bên, giảm thiểu chi phí chung cho từng đơn vị sản phẩm cũng như chi phí
khi mua với khối lượng lớn.
- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành : Một trong những
mục tiêu của M&A là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu
và thu nhập. Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống
phân phối. Bên cạnh đó, vị thế của ngân hàng mới sau khi sáp nhập sẽ tăng
lên trong mắt cộng đồng đầu tư, ngân hàng lớn hơn có lợi thế hơn và có khả
năng tăng vốn dễ dàng hơn một ngân hàng nhỏ.
Trên thực tế, để đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta
tưởng - nó không tự đến khi hai ngân hàng sáp nhập. Đương nhiên khi hai

Hậu quả đáng kể của M&A đó là việc đánh mất thương hiệu, văn hóa
ngân hàng mà phải mất một thời gian rất dài cùng nhiều khó khăn, tổn hao
sức lực, trí tuệ để đạt được. Một trong những cái giá không nhỏ khác mà các
ông chủ mới phải gánh sau thương vụ mua lại là giải quyết khối nợ xấu, là
phải tăng dự phòng rủi ro tín dụng bởi các món vay quá hạn từ ngân hàng
được sáp nhập.


10

M&A sẽ đem lại xu hướng chuyển dịch nhân sự mạnh mẽ từ việc tái
cấu trúc bộ máy hoạt động, sự dịch chuyển và thay đổi những vị trí, nguồn
nhân sự, cũng như thay đổi môi trường làm việc. Sự thay đổi nguồn nhân sự
sau M&A là tất yếu nhưng dễ dẫn đến tình trạng không phù hợp, ức chế ở vị
trí mới, môi trường mới, cũng như gây ra hiện tượng chảy máu chất xám. Vì
vậy việc nhận diện và đánh giá những khó khăn, thách thức sau M&A cũng
như việc chuẩn bị những giải pháp khắc phục hiệu quả là rất quan trọng,
mang tính sống còn.
1.5 Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng trên thế giới
1.5.1 Thực trạng hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng trên thế giới
Trong làn sóng sáp nhập và mua lại diễn ra trên toàn cầu, thì lĩnh vực
tài chính – ngân hàng luôn dẫn đầu về số lượng cũng như giá trị các thương
vụ. Ngành tài chính – ngân hàng có một vị trí đặc biệt bởi chỉ với một biến
động nhỏ của nó cũng có thể gây ra những tác động rất lớn đối với nền kinh tế
của mỗi quốc gia và với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như
hiện nay, tác động đó còn mang tính quốc tế cao hơn.
Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng tại Mỹ
Mỹ là nơi diễn ra các cuộc đại sáp nhập đầu tiên của thế giới với bốn
làn sóng sáp nhập nửa sau thập niên 1960, nửa đầu thập niên 1980, nửa sau
thập niên 1990 và năm 1992. Lĩnh vực tài chính – ngân hàng bị ảnh hưởng rất

Thêm vào đó, hệ thống ngân hàng Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng đổ vỡ tín
dụng năm 1981 khiến các khoản vay tín dụng có giá trị lớn tại các nước Mỹ
Latinh trở nên xấu đi, các ngân hàng Mỹ gặp khó khăn và phải chịu áp lực
chuyển hướng kinh doanh và tái cơ cấu hệ thống. Với sự ra đời của Đạo luật
Riegle-Neal năm 1994, hoạt động M&A ngân hàng Mỹ được nới rộng ra,
không còn giới hạn trong phạm vi tiểu bang mà có thể thực hiện xuyên các
tiểu bang.
Một trong những chiến lược chuyển hướng mà các ngân hàng Mỹ thực
hiện là việc chuyển chiến lược kinh doanh sang phục vụ thị trường ngân hàng
bán lẻ. Các ngân hàng sử dụng chiến lược này nhằm phục vụ các khách hàng


12

có nhu cầu về các sản phẩm ngân hàng truyền thống như vay ngắn hạn, tín
dụng bất động sản dài hạn, tiền gửi, … và kèm theo đó là các sản phẩm mới
như quỹ tương hỗ, bảo hiểm, tư vấn đầu tư và các dịch vụ quản lý tài chính.
Xu hướng này đã được thực hiện hiệu quả bởi các ngân hàng Citibank và
Well Fargo. Theo đó, để khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ, các
ngân hàng giảm phí cho khách hàng sử dụng trọn gói các dịch vụ ngân hàng
cung cấp và ngược lại, phí sẽ được tính tăng lên cho các khách hàng chỉ sử
dụng các sản phẩm ngân hàng cơ bản truyền thống.
Xu hướng cơ cấu thu nhập chủ yếu từ lãi chuyển sang từ thu phí dịch
vụ - dẫn đến xu hướng sáp nhập và mua lại giữa các ngân hàng với nhau hoặc
giữa một chủ thể tài chính ngân hàng với một chủ thể tài chính phi ngân hàng.
Hành động này nhằm mục đích mở rộng dãy sản phẩm phục vụ và tăng cường
các sản phẩm giá trị gia tăng, các sản phẩm trọn gói, … Do vậy, việc sáp nhập
và mua lại giữa các tổ chức ngân hàng với các công ty bảo hiểm, các công ty
môi giới, các ngân hàng đầu tư trở nên phổ biến hơn. Ngân hàng sau khi tiến
hành sáp nhập và mua lại có thể trở thành một siêu thị tài chính bởi lẽ nó đã

Âu vẫn còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm sắp tới. Bởi vì, thứ
nhất, có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động M&A ngân hàng như sự
đổi mới về kỹ thuật và công nghệ ngân hàng, chính sách về tài chính ngân
hàng của các quốc gia, tiến trình toàn cầu hóa; thứ hai, số lượng các ngân
hàng trên đầu người ở cộng đồng Châu Âu nhiều gấp hai lần so với ở Mỹ,
chính vì thế sẽ còn rất nhiều cơ hội cho hoạt động M&A; thứ ba, môi trường
kinh doanh không đồng nhất giữa các quốc gia Châu Âu vẫn còn tồn tại,
chính vì thế cùng với quá trình xây dựng cộng đồng Châu Âu thành một thị
trường duy nhất sẽ tạo điều kiện cho hoạt động M&A diễn ra mạnh mẽ hơn.
Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng tại Nhật Bản
Hoạt động M&A ngân hàng tại Nhật Bản gắn liền với sự đổ vỡ bong
bóng bất động sản, mà nguyên nhân là các khoản nợ xấu phát sinh từ các
khoản đầu tư bất động sản và các khoản đầu tư kém hiệm quả khác. Để khắc
phục tình hình yếu kém trên, Chính phủ và các ngân hàng Nhật Bản đã thực


14

hiện hàng loạt vụ M&A ngân hàng. Tuy nhiên, những vụ M&A lớn này vẫn
không giải quyết được những vấn đề tồn đọng mà các ngân hàng này gặp
phải, hiệu quả mang lại không cao, lợi ích kinh tế về quy mô thu được rất ít
và các ngân hàng vẫn chưa trở lại hoạt động hiệu quả do ảnh hưởng của các
yếu tố phát sinh từ nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái.
Hoạt động M&A ngân hàng tại Nhật diễn ra mạnh mẽ hơn với quy mô
lớn hơn do tác động cộng hưởng từ nền kinh tế Nhật Bản yếu kém và cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Á. Các hoạt động M&A được
thực hiện với mục đích là cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và
giúp các ngân hàng vượt qua khủng hoảng.
Ngày 04/01/2006 chứng kiến sự sáp nhập giữa ngân hàng lớn thứ hai
Nhật Bản là Mitsubishi Tokyo với ngân hàng lớn thứ tư UFJ, hình thành nên

chế cơ cấu mà không đem lại những cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Có thể dẫn chứng sự thành công của chiến lược này của các NHTM
Trung Quốc qua kết quả đạt được tại Ngân hàng ICBC. ICBC đã nâng cấp hệ
thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp hai lần trong hai năm đầu thực
hiện chiến lược và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ Nhân Dân Tệ
(482 triệu USD/ngày) kể từ tháng 12/2003. ICBC cũng dẫn đầu trong việc
cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động
tại thị trường nội địa. Hầu hết các công ty bảo hiểm, trong số 10 tập đoàn môi
giới bảo hiểm lớn nhất Trung Quốc và một số tổ chức tài chính đa quốc gia –
trong đó phải kể đến Citibank, là khách hàng trong tổng số 5.600 khách hàng
của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC.
Thế mạnh của các NHTM Trung Quốc so với các NHTM nước ngoài là
họ dễ chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng nội địa hơn. Do vậy, họ đã biết tận
dụng lợi thế này để phát triển dịch vụ mới và hiện đại (là điểm mạnh của ngân
hàng nước ngoài), những dịch vụ này cũng cần có sự tin tưởng của khách
hàng, vì vậy họ đi trước và đã thành công. Xã hội và văn hóa truyền thống
Trung Quốc đã trở thành một rào cản vô hình ngăn chặn sự tấn công mạnh mẽ
của các đối thủ cạnh tranh đến từ bên ngoài biên giới.


16

Hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng tại Đông Nam Á
Tại các nước Đông Nam Á, hoạt động M&A ngân hàng cũng diễn ra
dưới tác động của cuộc khủng hoảng và sự phá giá của đồng bản tệ, hệ thống
ngân hàng các quốc gia này đã lâm vào tình trạng thua lỗ và đứng trước nguy
cơ phá sản. Các ngân hàng phải tiến hành sáp nhập và mua lại với nhau và với
các đối tác nước ngoài nhằm thoát khỏi nguy cơ phá sản, và phải tiến hành cơ
cấu để phục hồi.
Ở Thái Lan, các ngân hàng nước ngoài, mà cụ thể nhiều nhất là HSBC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status