HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Mục lục
Trang
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng và hình vẽ 4
Phần mở đầu 5
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập
1.1. Khái niệm về hoạt động mua bán và sáp nhập 8
1.2. Phân loại hoạt động mua bán và sáp nhập 9
1.3. Cách thức thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập 11
1.4. Những lợi ích của hoạt động mua bán và sáp nhập 12
1.5. Những hạn chế của hoạt động mua bán và sáp nhập 13
Chương 2: Tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng Thương
mại Cổ phần tại Việt Nam
2.1. Tình hình hoạt động của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam 15
2.2. Tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng TMCP tại Việt
Nam 16
2.2.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng TMCP tại
Việt Nam 16
2.2.2. Hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam 17
2.2.2.1. Một số thương vụ sáp nhập thành công 18
2.2.2.2. Một số Ngân hàng có dự tính sáp nhập với nhau 30
2.2.3. Động cơ (lý do) mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng TMCP tại
Việt Nam 31
2.2.4. Quy trình thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng TMCP
tại Việt Nam 32
Chương 3: Đánh giá và đề ra những giải pháp cho hoạt động mua bán và sáp
nhập của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam
3.1. Những kết quả đạt được 36
3.2. Những hạn chế và tồn tại 37
Sacombank Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
SCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
MB Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
VietcomBank Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 2/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Danh mục các bảng và hính vẽ
Bảng 2.1: Hệ thống các Ngân hàng theo mức vốn điều lệ trong năm 2013 15
Bảng 2.2: Hệ thống các chỉ tiêu của SCB trước sáp nhập 19
Bảng 2.3: Hệ thống các chỉ tiêu của FicomBank trước sáp nhập 19
Bảng 2.4: Hệ thống các chỉ tiêu của SCB sau sáp nhập 21
Bảng 2.5: Hệ thống các chỉ tiêu của SHB trước sáp nhập 21
Bảng 2.6: Hệ thống các chỉ tiêu của HabuBank trước sáp nhập 22
Bảng 2.7: Hệ thống các chỉ tiêu của SCB sau sáp nhập 24
Bảng 2.8: Hệ thống các chỉ tiêu của PVFC trước sáp nhập 25
Bảng 2.9: Hệ thống các chỉ tiêu của WesternBank trước sáp nhập 26
Bảng 2.10: Hệ thống các chỉ tiêu của PVcomBank 27
Bảng 2.11: Hệ thống các chỉ tiêu của HDBank trước sáp nhập 28
Bảng 2.12: Hệ thống các chỉ tiêu của DaiABank trước sáp nhập 29
Bảng 2.13: Mức lãi suất cho các khoản cho vay của HDBank 30
Hình 2.1: Tổng tài sản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ
12/2012 – 2/2014 16
Trang 3/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Phần mở đầu
Trang 4/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Với cơ sở pháp lý chưa đầy đủ và hiểu biết về hoạt động mua bán và sáp
nhập còn hạn chế nên các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam còn lung túng và rơi vào bị
động trước xu hướng phát triển tất yếu của hoạt động này, dẫn đến những thất bại
trong các thương vụ mua bán và sáp nhập hoặc bị các đối thủ trên thị trường thâu
tóm. Để hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân hàng
TMCP, những khó khăn mà Ngân hàng gặp phải và giải pháp để phát triển hoạt động
mua bán và sáp nhập, em chọn đề tài: “Hoạt động mua bán và sáp nhập của các Ngân
hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu và đánh giá về hoạt động mua
bán và sáp nhập trong lĩnh vực Ngân hàng hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp đối
với các cơ quan quản lý, các NHTM và NHNN nhằm phát triển hoạt động mua bán
và sáp nhập tại Việt Nam trong thời gian tới. Khi tận dụng được các kinh nghiệm từ
các thương vụ sáp nhập thì các Ngân hàng tham gia hoạt động mua bán và sáp nhập
sẽ tự tin hơn, đạt nhiều kết quả tốt, góp phần lành mạnh hóa lĩnh vực Ngân hàng,
giúp thị trường tài chính Việt Nam ngày càng phát triển.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động mua bán và sáp nhập của các
Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp
nhập của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong năm 2011 tới đây.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp như hệ thống, tổng hợp,
thống kê, phân tích, so sánh… để hệ thống hóa lý luận, nêu lên những nội dung cơ
bản về hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực Ngân hàng và đề ra các giải
pháp cho hoạt động này.
Trang 5/45
Thống đốc ngân hàng nhà nước) quy định: “Sáp nhập là việc một hoặc một số TCTD
cổ phần được nhập (gọi là TCTD cổ phần được sáp nhập) vào một TCTD cổ phần
khác(gọi là TCTD cổ phần sáp nhập). Việc giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm của các cổ đông của TCTD cổ phần được sáp nhập do các TCTD cổ phần tự
thỏa thuận”.
Vậy mua bán và sáp nhập Ngân hàng giống nhau và khác nhau như thế nào?
− Giống nhau: Mua bán và sáp nhập giống nhau ở điểm đều là sự kết hợp giữa
hai hoặc nhiều doanh nghiệp với nhau để tạo thành một doanh nghiệp mới có quy mô
về tài sản, thị trường lớn hơn nhằm phát triển doanh nghiệp trong nước cũng như ra
bên ngoài thế giới.
− Khác nhau: Mặc dù Mua bán và Sáp nhập thường được đề cập cùng nhau
nhưng nó vẫn có sự khác biệt về mặt bản chất.
Mua bán diễn ra khi một doanh nghiệp mua lại hoặc thôn tính một doanh
nghiệp khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới. Trên góc độ pháp lý, doanh
Trang 7/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
nghiệp bị mua lại không còn tồn tại trên thị trường và cổ phiếu của bên mua sẽ không
bị ảnh hưởng bởi bên bán.
Sáp nhập diễn ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp có cùng quy mô, đồng
thuận hợp nhất lại thành một doanh nghiệp mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ,
hoạt động này được gọi là “sáp nhập ngang bằng”. Khi đó, cổ phiếu của hai doanh
nghiệp sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của doanh nghiệp mới sẽ được phát hành. Tuy
nhiên hình thức này không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do và một trong số đó
chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng phải có lợi cho cả doanh nghiệp bị
sáp nhập và doanh nghiệp sau sáp nhập.
Hiện tại thì Pháp luật Việt Nam chưa đưa ra được định nghĩa thống nhất và
cụ thể nào cho hoạt động mua bán và sáp nhập nên hoạt động này sẽ được thực hiện
dựa trên các quy định của các Bộ luật riêng, chẳng hạn như luật Doanh nghiệp, luật
Đầu tư…
các hoạt động khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối. Khi tiến hành sản xuất
kinh doanh thì phần lớn các doanh nghiệp thường phải tiến hành mua nguyên vật liệu
hoặc sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất
và kinh doanh. Điều đó cũng có nghĩa là một doanh nghiệp nào đó tiến hành mua lại
các doanh nghiệp khác để hổ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhằm mục đích
giảm thiểu chi phí và tránh việc phá sản.
− Sáp nhập tổ hợp (kết khối): Là sáp nhập giữa các doanh nghiệp không cùng
lĩnh vực kinh doanh nhằm đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đa ngành nghề sau khi
sáp nhập. Ví dụ như Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng Phương
Nam (WesternBank).
Ngoài ra sáp nhập còn được phân loại dựa trên phạm vi lãnh thổ:
− Sáp nhập trong nước: là những thương vụ sáp nhập giữa các doanh nghiệp
trên cùng một lãnh thổ quốc gia. Việc sáp nhập này sẽ được thực hiện dễ dàng hơn và
lợi ích thu về cũng không nhỏ.
Ví dụ như: thương vụ giữa Ngân hàng TMCP Phát triển TP HCM
(HDBank) và Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank).
− Sáp nhập xuyên quốc gia: Là những thương vụ sáp nhập giữa các doanh
nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, và đây là hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến
nhất hiện nay.
Mặc dù hoạt động mua bán và sáp nhập được phân loại theo nhiều tiêu chí
khác nhau, nhưng mục đích của hoạt động này là tạo ra một doanh nghiệp mới về thị
phần, tài sản, quy mô thị trường, đa dang hóa sản phẩm. Ngoài ra hoạt động mua bán
và sáp nhập còn là lựa chọn tốt nhất cho các doanh nghiệp muốn phát triển thành các
Tập đoàn kinh tế đa ngành nghề, đa quốc gia.
1.3. Cách thức thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập
Cách thức thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực Ngân
hàng rất đa dạng và phụ thuộc vào luật pháp, quan điểm quản trị của các bên, mục
tiêu, cơ cấu sở hữu và các lợi thế của mỗi bên trong từng trường hợp cụ thể. Tuy
Trang 9/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4. Những lợi ích của hoạt động mua bán và sáp nhập
Hoạt động mua bán và sáp nhập đem lại những lợi ích nhất định, có thể nói đến
đó là:
Trang 10/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
− Lợi thế nhờ quy mô: Khi hoạt động mua bán và sáp nhập thành công sẽ tạo
nên những Ngân hàng lớn mạnh hơn trước, khi đó sẽ tận dụng được lợi thế kinh
doanh trên quy mô lớn về vốn, con người, năng lực tài chính… và có thể giảm rủi ro
trong kinh doanh, chi phí hoạt động của Ngân hàng cũng giảm đáng kể do giảm được
các điểm giao dịch có vị trí gần kề, giảm các bộ phận, các công việc có tính trùng lặp
như bộ phận quản lí, bộ phận hành chính, giảm thiểu được chi phí marketing, chi phí
quảng cáo, đồng thời làm tăng năng suất lao động, lợi thế trong các cuộc đàm phán,
và tăng khả năng quản lí nguồn lực, tà sản được sử dụng với năng suất cao. Đồng
thời các Ngân hàng còn cung cấp và bổ sung cho nhau những thông tin, bí quyết kinh
doanh, công nghê, con người, khai thác các điểm mạnh của hai ngân hàng để phát
triển mạnh hơn.
− Mở rộng thị trường đa dang hóa sản phẩm dịch vụ: Sau khi sáp nhập các
Ngân hàng sẽ có cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng số lượng khách hàng cũng như
số lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm thu hút khách hàng. Số lượng sản phẩm tăng cũng
làm chi phí giảm xuống, và khách hàng có thể dùng nhiều dịch vụ ở một Ngân hàng
thay vì ở nhiều ngân hàng khác nhau, như thế sẽ tiết kiệm hơn. Đồng thời các Ngân
hàng nhỏ cũng có thể có đủ vốn, nhân lực, công nghệ để phát triển các sản phẩm mới
như ngoại hối, các sản phẩm phát sinh khác.
− Giảm chi phí gia nhập thị trường: Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh
của Chính phủ, việc gia nhập thị trường đối với các Ngân hàng nhỏ, yếu kém là rất
khó khăn, nó đòi hỏi các Ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện rất khắc khe. Vì thế
các Ngân hàng nhỏ cần phải sáp nhập với các ngân hàng lớn hơn để giảm thiểu chi
phí khi gia nhập thị trường và các chi phí khác có liên quan. Trong một số trường
hợp mục đích của việc sáp nhập không là gia nhập thị trường mà còn nhằm mua lại
lập trường,quan điểm kinh doanh riêng và muốn giành quyền kiểm soát, quản lí ngân
hàng nên khó tránh khỏi bất đồng quan điểm.
− Xu hướng chuyển dịch nguồn nhân sự: Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp
diễn ra thành công cũng đồng thời làm thay đổi cấu trúc bộ máy hoạt động kinh
doanh. Khi đó môi trường hoạt động và một số vị trí quản lí sẽ có sự thay dổi theo
hoặc một số nhân viên cũ, lâu năm có thể bị mất việc làm… và lòng tin, sự trung
thành của đội ngũ nhân viên cũng thay đổi theo chiều hướng đi xuống
− Tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế: Có một số thương vụ mua
bán và sáp nhập không làm tăng khả năng sản xuất, không mang lại lợi ích kinh tế
cho doanh nghiệp, không có chiến lược quản lý hiệu quả nên có thể dẫn đến nguy cơ
phá sản lần nữa, gây hoang mang, ảnh hưởng đến các ngành nghề khác có liên quan.
− Văn hóa doanh nghiệp bị ảnh hưởng: Văn hóa công ty được hình thành và
tạo dựng trong bất cứ một Ngân hàng nào đó và được người lao động đón nhận. Khi
sáp nhập hai hay nhiều Ngân hàng lại với nhau, các nét văn hóa đặc trưng riêng của
Trang 12/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
các Ngân hàng sẽ tập hợp lại với nhau trong một hoàn cảnh mới và người lao động sẽ
cảm thấy không thoải mái khi làm việc trong một môi trường với nền văn hóa bị pha
trộn, họ cần phải thích nghi với những thay đổi trong cách giao tiếp với khách hàng, với
các nhân viên mới, từ đó niềm tin của nhân viên đối với ban lãnh đạo cũng thay đổi .
Trang 13/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Chương 2: Tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập
của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam
2.1. Tình hình hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang trong xu hướng hội nhập nền kinh tế nên tình hình
hoạt động của các Ngân hàng cũng bị thay đổi theo. Tính đến thời điểm hiện nay thì
hệ thống Ngân hàng Việt Nam có khoản1.754 Ngân hàng đang hoạt động. Trong đó,
Trang 14/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Hiện nay, lãi suất cho vay của các Ngân hàng TMCP đối với các lĩnh vực ưu
tiên chỉ còn 8%/năm, so với mức lãi suất thông thường đối với kỳ hạn ngắn là 9% -
10,5%/năm và đối với kỳ hạn dài là 11% - 12,5%/năm. Nếu các doanh nghiệp có tình
hình hoạt động lành mạnh, minh bạch và có các phương án hoạt động kinh doanh
hiệu quả thì lãi suất cho vay chỉ ở mức 6% - 7%/năm.
2.2. Tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập của các NHTMCP tại Việt Nam
2.2.1. Cơ sở pháp lí cho hoạt động mua bán và sáp nhập của các NHTMCP
tại Việt Nam
Do hoạt động mua bán và sáp nhập còn khá mới mẻ tại Việt Nam nên hiện
nay vẫn chưa có văn bản pháp luật chính thức nào dành riêng cho hoạt động này mà
nằm rải rác ở các bộ luật khác nhau và các quy chế, thông tư, nghị định và các cam
kết quốc tế có liên quan.
− Luật đầu tư năm 2005: Theo khoản 2, điều 25 quy định: “ Nhà đầu tư được
quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh”.
− Luật doanh nghiệp năm 2005:
+ Theo khoản 1, điều 152 quy định: “ Hai hoặc một số công ty cùng loại có
thể hợp nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất và đồng thời chấm dứt sự tồn tại của
các công ty bị hợp nhất”.
+ Theo khoản 1, điều 153 quy định: “ Hai hoặc một số công ty cùng loại có
thể sáp nhập thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
Trang 15/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập và đồng thời chấm dứt sự tồn tại
của các công ty bị sáp nhập”.
− Luật cạnh tranh năm 2004: Theo khoản 3, điều 17 ngày 1/7/2005 quy định:
Trang 16/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
A. Thương vụ giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) và Ngân hàng
TMCP Đệ Nhất (FicomBank) và Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank).
Đây là thương vụ hợp nhất đầu tiên kể từ khi NHNN công bố chủ trương tái cơ
cấu toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Sau đây là tình hình hoạt động của các Ngân hàng
trước và sau khi sáp nhập:
− Tình hình hoạt động của SCB trước sáp nhập:
Trước khi sáp nhập, SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có
hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam với mạng lưới hoạt động gồm 132 điểm
giao dịch trên toàn nước. Cụ thể là:
+ Vốn điều lệ của Ngân hàng đạt 4.193 tỷ đồng.
+ Trong quý 3/ 2011, tổng tài sản của SCB là 77.985 tỷ đồng, tăng gần 30%
so với cùng kỳ năm trước (51.862,7 tỷ đồng), trong đó nợ phải trả chiếm 73.123,357
tỷ đồng, tăng gần 25.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2010 (47.056,7 tỷ đồng).
+ Tổng chi phí hoạt động của ngân hàng trong quý 3/2011 là 190,393 tỷ đồng,
tăng 56,3 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước (năm 2010 là 134,016 tỷ đồng).
+ Tổng doanh thu trước thuế là 1.107,93 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế là
979,457 tỷ đồng, đều tăng rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Nhưng chi phí cho
hoạt động kinh doanh cũng tăng và tăng rất ít.
Mặc dù tình hình hoạt động của SCB đang từng bước phát triển, nhưng SCB
đang phải gánh một khoảng nợ khá lớn và khó có khả năng chi trả. Vì thế, SCB cần
phải tái cơ cấu nền kinh tế bằng cách sáp nhập với các Ngân hàng khác.
Bảng 2.2. Hệ thống các chỉ tiêu của SCB trước sáp nhập:
ĐVT: tỷ đồng
Các chỉ tiêu Quý 3/ 2011 Quý 3/ 2010
Tổng tài sản 77.985,156 51.862,732
Tổng
nhuận sau thuế là 385,906 tỷ đồng.
Đến quý 3/ 2011, tổng tài sản của vietNam TinNghiaBank là 58.939,466 tỷ
đồng, tăng gần 10.000 tỷ đồng so với đầu năm 2010. Trong đó, Nợ phải trả chiếm
54.919,340 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu chiếm 4.020,126 tỷ đồng.
− Lý do khiến các ngân hàng sáp nhập với nhau
Do các Ngân hàng này gặp khó khăn trong về thanh khoản, chủ yếu là dùng
nhiều vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, nên dẫn đến các khoản nợ của các
Ngân hàng như SCB, FicomBank và TinnghiaBank tăng cao và không có khả năng
chi trả. Và vì để tồn tại và có thể phát triển trên thị trường, tránh tình trạng phá sản
nên các Ngân hàng đã hợp nhất với nhau, nhằm tạo nên một Ngân hàng vững mạnh
hơn, với khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn và mạng lưới hoạt động rộng hơn.
− Tình hình hoạt động của các ngân hàng sau sáp nhập
Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính thức cấp giấy phép số 238/GP-
NHNN về việc hợp nhất tự nguyện giữa 3 Ngân hàng: SCB & FicomBank &
TinNghiaBank thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB). Ngân hàng chính thức đi
vào hoạt động từ ngày 01/01/2012. Với số lượng trụ sở chính, sở giao dịch, chi
nhánh, văn phòng giao dịch…khoảng 230 đơn vị trên cả nước sẽ giúp khách hàng
giao dịch thuận lợi và tiết kiệm nhất. Trên cơ sở kế thừa những thế mạnh vốn có của
3 Ngân hàng, Ngân hàng sau sáp nhập đã có lợi thế trong lĩnh vực Ngân hàng và nằm
trong nhóm 5 Ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam. Cụ thể là:
Trang 18/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
+ Trong năm 2013, tổng tài sản Ngân hàng đạt khoảng 181.019 tỷ đồng, tăng
21,3% so với năm 2012 (149.206 tỷ đồng), trong đó tổng Nợ phải trả là 167.906 tỷ
đồng, tăng gần 30.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước (137.844,318 tỷ đồng). Vốn
điều lệ của Ngân hàng đạt 12.294,801 tỷ đồng trong năm 2013.
+ Tổng dư nợ tín dụng là 89.004 tỷ đồng, tăng gần 1% so với năm 2012
(88.155,2 tỷ đồng). Tỷ lệ nợ xấu là 1,63% trên tổng dư nợ, giảm 77,46% so với
năm 2012.
kỳ năm 2011.
Bảng 2.5. Hệ thống các chỉ tiêu của Ngân hàng SHB trước sáp nhập:
ĐVT: tỷ đồng
Các chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011
Tổng tài sản 81.580,4 70.989,5
Tổng
nguồn vốn
Nợ Phải Trả 75.963 65.158,6
Vốn Chủ Sở Hữu 5.617,352 5.830,8
Tổng chi phí hoạt động 585,222 482,563
Tổng thu nhập hoạt động 1.205,683 910,895
Tổng lợi nhuận sau thuế 446,798 309,558
Điều đó cho thấy, hoạt động kinh doanh của SHB phát triển khá ổn định,
mặc dù chi phí cho hoạt động kinh doanh tăng khá cao nhưng doanh thu và lợi nhuận
không những không giảm mà còn tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2012.
Trang 20/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
− Tình hình hoạt động kinh doanh của HabuBank trước sáp nhập (trong
năm 2012):
Quý I/2012, hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận
nhất cho HabuBank với mức lãi là 212,2 tỷ đồng, gấp 57 lần cùng kỳ năm 2011.
+ Tổng tài sản của HabuBank là 34.648,845 tỷ đồng, giảm so với năm 2011 là
41.449,948 tỷ đồng.
+ Vốn điều lệ đạt 4.050,0 tỷ đồng.
+ Nợ phải trả là 30.180,887 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 4.467,958 tỷ đồng.
+ Tổng chi phí hoạt động trong kỳ là 240 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2011 là 119,1
tỷ đồng), cao gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước.
+ Lợi nhuận thuần trong quý I/2012 là 129 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2011 là 166
tỷ đồng), giảm 22% so với cùng kỳ năm trước.
ở nước ngoài.
Trong quý 4/2012, SHB đạt gần 120 tỷ đồng từ hoạt động đầu tư chứng khoán,
630 tỷ đồng từ các hoạt động khác nên lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của
SHB lên đến gần 460 tỷ đồng, tăng 30% so với quý 4/2011. Thu nhập thuần từ lãi đạt
321,99 tỷ đồng, giảm 37,9% so với quý 4/2011 (518,40 tỷ đồng). Chi phí hoạt động
đạt 653,27 tỷ đồng tăng 92,1% so với quý 4/2011 (340,12 tỷ đồng).
Trong năm 2013, tổng Tài sản của SHB đạt 143.625,803 tỷ đồng, tổng chi phí
hoạt động là 1.860,87 tỷ đồng, giảm 181,877 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2012
(1.678,993 tỷ đồng).
Tổng thu nhập trước thuế của SHB là 1.000,048 tỷ đồng, giảm 825,155 tỷ đồng
so với năm 2012 (1.825,203 tỷ đồng), tổng lợi nhuận sau thuế còn lại của SHB là
849,742 tỷ đồng tỷ đồng, giảm mạnh 96,93% so với năm ngoái.
Bảng 2.7. Hệ thống các chỉ tiêu của SHB sau sáp nhập:
VT: tỷ đồng
Các chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012
Tổng tài sản 143.625,803 116.537,614
Tổng
nguồn vốn
Nợ Phải Trả 133.267,329 107.028,802
Vốn Chủ Sở Hữu 10.355,697 9.506,050
Tổng chi phí hoạt động 1.860,870 1.678,993
ổng doanh thu trước thuế 1.000,048 1.825,203
Trang 22/45
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Tổng lợi nhuận sau thuế 849,770 1.687,269
Thông qua đó, hoạt động kinh doanh của SHB đã đạt được nhiều kết quả tích
cực sau khi sáp nhập và đang ngày càng phát triển. Và gần đây, trong năm 2014, SHB đã
nhận được danh hiệu “ Thương hiệu mạnh Việt Nam”, điều này càng chứng tỏ SHB đang
ngày càng đứng vững và phát triển trên thị trường Ngân hàng Viêt Nam.
Tổng chi phí hoạt động 183,224 264,509
Tổng doanh thu trước thuế 18,963 - 117,289
Tổng lợi nhuận sau thuế 17,789 -135,986
Và trong năm 2013, PVFC vẫn tiếp tục thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt
động nhằm nâng cao hiệu quả, phát triển ổn định và bền vững trên thị trường. Để
tái cơ cấu nền kinh tế thì hoạt động mua bán và sáp nhập là lựa chọn tốt nhất cho
PVFC hiện nay.
− Tình hình hoạt động kinh doanh của WesternBank trước sáp nhập
Trong năm 2012, hoạt động huy động vốn giảm 31% xuống còn 11.794 tỷ
đồng, trong khi huy động vốn cá nhân và tổ chức kinh tế chỉ giảm 15%, tổng tài sản
giảm 5.423 tỷ đồng tương đương với 26% xuống còn 15.152 tỷ đồng.
Tổng dư nợ của WesternBank cuối năm 2012 giảm 50% xuống còn 5.919 tỷ
đồng so với năm 2011, trong đó cho vay khách hàng giảm 40%, ủy thác đầu tư giảm
77%. Ngoài ra tỷ lệ nợ xấu chiếm 6,84% trên tổng dư nợ, tăng 469% so với cuối năm
2011 (1,2%).
Tổng thu nhập của WesternBank trong năm 2012 đạt 394 tỷ đồng giảm
11%, nhưng tổng chi phí hoạt động lại tăng 3% lên 277 tỷ đồng. Chi phí dự phòng rủi
ro tín dụng tăng tăng hơn gấp 4 lần lên đến 61 tỷ đồng và lợi nhuận nhận được trước
thuế là 57 tỷ đồng, giảm 65% so với cùng kỳ năm trước.
Bảng 2.9. Hệ thống các chỉ tiêu của WesternBank trước sáp nhập:
ĐVT: tỷ đồng
Các chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011
Tổng tài sản 15.122,565 20.550,641
Tổng
nguồn vốn
Nợ Phải Trả 11.919,263 17.383,813
Vốn Chủ Sở
Hữu
3.203,302 3.166,828
Tổng thu nhập từ kinh doanh 403.168,607
bán chứng khoán của Ngân hàng lại đạt mức lãi thuần 125,6 tỷ đồng và khoản lãi
thuần từ hoạt động khác là 328 tỷ đồng. Hoạt động huy động khách hàng tăng lên 8%
lên đến 49,181 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng đạt mức 32,5 tỷ đồng.
Cho vay khách hàng của PVcomBank giảm 6%, xuống còn 41,34 tỷ đồng,
trong đó nợ khó đòi chiếm 1,476 tỷ đồng, giảm 8% so với cuối quý 3/2013. Ngoài ra,
tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng cũng giảm từ 5,2% xuống còn 4,97% vào cuối năm 2013.
Bảng 2.10. Hệ thống các chỉ tiêu của PVcomBank:
ĐVT: tỷ đồng
Các chỉ tiêu 31/12/2013 01/10/2013
Trang 25/45