LOGO
Trần Thị Bích Ngân
Trần Vũ Dương Nhi
Vũ Mỹ Ngọc
Nguyễn Thanh Thảo
Đặng Thu Trang
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI Ở VIỆT NAM
Nhóm thực hiện:
GVHD: Trần Hùng Sơn
Cải cách kinh tế của Việt Nam bắt đầu với một bước tiến nhận thức luận khá triệt để là
công nhận quyền hợp pháp của tài sản tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân. Nền kinh tế thị
trường dần dần thay thế kiểu nền kinh tế kế hoạch tập trung, mà trước đó đã hoạt động dựa
trên nguyên tắc quan liêu, bao cấp tài chính và vật chất của Nhà nước, Liên Xô
Trong những năm sau đổi mới, việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài trong năm 1987, và
các điều chỉnh trong năm 1990, 1992, 1996, 2000, và 2005, cùng với việc sửa đổi Hiến pháp
của Việt Nam trong năm 1992, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) vào nền kinh tế thị trường mới của Việt Nam
1.1. Đổi mới - Chương trình kinh tế mở rộng của VN
1.2. FDI
FDI không phải là nguồn duy nhất tăng trưởng trong nền kinh tế cải cách của Việt Nam. Tuy nhiên, nó
phục vụ như một động lực chính của nền kinh tế, và đã dần dần trở thành một nguồn tài chính hàng đầu
bên ngoài cho nền kinh tế Việt Nam sau đổi mới, dưới hình thức của một trong hai lĩnh vực đầu tư bất
động sản hoặc sáp nhập và mua lại (M&A)
các doanh nghiệp FDI đã mang lại các dịch vụ và công nghệ sản xuất, kết nối với thị trường quốc tế, và tạo
ra công ăn việc làm rất cần thiết cho nền kinh tế.
Những nguồn vốn FDI lớn
1.3. Tại sao M & A?
Bùng nổ
kinh tế
Bong bóng
kinh tế vỡ
Độc quyền
Hội nhập chiều ngang
Hội nhập chiều dọc
Tổng giá trị M&A toàn cầu 15 tỷ USD
Xuất hiện M&A Châu Á
1878-1989
1993-2000
2003…
Công trình nghiên cứu Nhận xét/ Kết luận
Focarelli (2002)-giải đáp động
lực M&A của các NH
bán nhiều dịch vụ hơn, nâng cao chất lượng danh mục đầu tư của NH bị động bằng cách giảm các khoản nợ xấu và
các khoản vay cho các công ty nhỏ
Block (1968) - quá trình tiến hành M&A, giá trị thị trường và lợi nhuận tích lũy của công ty mua và công ty mục tiêu
- khác biệt của CP trong điều kiện sáp nhập và không sáp nhập, ảnh hưởng lên các CP trước và sau sáp nhập của
các công (công ty tiềm năng được mua lại cho giá trị CP tăng lên, trong khi GT cổ phiếu công ty mua lại kém đi)
Shick (1972)-đo lường lợi
nhuận mang lại sau M&
- sử dụng mô hình định giá công ty, thiết lập công thức lợi nhuận dựa trên mô hình định giá cổ phiếu phổ thông, dữ
liệu thực nghiệm từ các ngành công nghiệp hoá chất Mỹ
- sáp nhập có thể đem lại kết quả tích cực
Chand (2009) - quan tâm vấn đề tạo ra giá trị, thảo luận những kịch bản tạo ra giá trị cho các công ty sau M&A
- tăng trưởng các công ty nhờ đầu tư/tái đầu tư xây dựng mới hoặc M&A; trong và sau M&A, các chủ trương có
ảnh hưởng lên nhiều bên liên quan (chứ không chỉ về giá trị cổ phiếu), các bên liên quan khác trong công ty có
những xu hướng ưu tiên khác nhau
Ijiri và Simon
chiếm 60% tổng số vụ sáp nhập, quy mô trung bình chiếm 38%, hầu hết các vụ sáp nhập trong sản xuất dược phẩm
Ấn Độ là loại ngang hơn 85%
- các công ty cải thiện được hoạt động sau M&A
2.2. Tài liệu FDI và M&A khu vực và Việt Nam
M&A xuất phát từ hai động cơ: giải quyết vấn đề trong quá khứ và nắm bắt cơ hội tiềm
năng
tỉ giá và giá tài sản trong các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng thấp hơn,
khuôn khổ chính sách đối với DN nước ngoài đã được tự do hóa làm cho các nhà đầu tư
nước ngoài có được tài sản lớn…
doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với các khoản thanh toán nợ lớn trong khi
lãi suất tăng cao
vai trò quan trọng nhất của M&A xuyên quốc gia nằm trong dài hạn: tái cơ cấu
hoạt động, bộ máy và nguồn lực tài chính
Công trình
nghiên cứu
Nhận xét/ Kết luận
Ramlee và Said (2009)-các xu
hướng trong ngành CN tài chính của
Malaysia
toàn cầu hóa, tái cơ cấu tài chính, tiến bộ công nghệ, tiết kiệm chi phí, mong muốn mở rộng thị
phần…NH lớn muốn lớn hơn vì niềm tin chính phủ sẽ không để họ thất bại…thúc đẩy tiến hành
các hình thức M&A
Yasumaru (2009) - làn sóng M&A Nhật Bản đầu tiên (1989-1990) mua các công ty Mỹ và bất động sản dựa trên
đồng Yên mạnh và thanh khoản cao bong bóng bất động sản bùng nổ dẫn đến kết thúc
- làn sóng thứ hai (1999): thúc đẩy bởi các phiên bản của pháp luật về thuế và khu vực đang nổi
lên của công nghệ thông tin và viễn thông M&A biến mất khi bong bóng công nghệ xì hơi
Báo cáo riêng biệt của khu vực tài chính
Tập dữ liệu bao gồm 252 mục cho bốn loại M & A
(A) các công ty nước ngoài mua lại các công ty nước ngoài
(B) các công ty nước ngoài mua lại công ty địa phương
(C) doanh nghiệp Việt Nam mua lại các công ty nước ngoài
(D) doanh nghiệp Việt Nam mua lại doanh nghiệp Việt Nam.
Như vậy, dữ liệu không giới hạn qua các giao dịch giữa các doanh nghiệp trong nước.
3.2 Phương pháp phân tích
Chủ yếu là sử dụng phân tích thống kê cơ bản, kết hợp với phương pháp định lượng, chẳng hạn như:
khung pháp lý, các biến môi trường, các khía cạnh văn hóa xã hội và đánh giá chủ quan, có thể dẫn
đến kỳ vọng các hình thức cho mỗi M & A khác nhau.
Kết quả phân tích sẽ được thảo luận, so sánh với các công trình khác, vì điều này có thể đưa ra sự
tương đồng và khác biệt giữa M & A trong thị trường Việt Nam và trên thế giới
LOGO
Phần 4
Phân tích và nhận xét
4.1. Một số phân tích thống kê
Dữ liệu chứa 252 hồ sơ giao dịch M & A tại Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2009. Giá trị giao dịch
tổng cộng khoảng 10 tỷ USD
Thị trường mua lại / sáp nhập thuộc về các công ty nước ngoài.
3) Các khoản đầu tư danh mục đầu tư
4) Kinh doanh bất động sản và kinh doanh khách sạn
5) Xây dựng và vật liệu
6) Thép
7) Khai thác mỏ và chế biến khoáng sản
8) Đồ gia dụng
9) Lương thực và thực phẩm
Trong số chín ngành công nghiệp được liệt kê ở trên, lần đầu tiên ba ngành thuộc về các sản phẩm
dịch vụ tài chính thể hiện mối quan tâm hàng đầu công khai nhấn mạnh, đặc biệt đây là một phần
quan trọng của M & A trên thị trường.
Chiến lược hai mũi nhọn của Việt Nam :
Cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước
Cải tạo nền kinh tế tài chính non trẻ của mình (hiện đang thống trị bởi một số lượng lớn của các
ngân hàng thương mại , trong đó có năm nhà nước ngân hàng siêu cường quốc.)