255 Ứng dụng mô hình APV trong phân tích hoạt động sáp nhập và mua lại Công ty (M & A) tại Việt Nam - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THỊ KHÁNH TÂM

ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH APV TRONG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ
MUA LẠI CÔNG TY (M&A) TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh Tế Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số : 60 31 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Thành Phố Hồ Chí Minh - 2007 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc só kinh tế này là do chính tôi nghiên cứu
và thực hiện. Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và
chính xác.

Hoàng Thò Khánh Tâm
− Mua lại bằng vốn vay (LBO: leveraged buyout)
− Liên minh công ty
− Hoạt động thanh lý tài sản
1.1.2 Phân loại hoạt động sáp nhập và mua lại ......................................... 2
− Sáp nhập theo chiều ngang
− Sáp nhập theo chiều dọc
− Sáp nhập để mở rộng sản phẩm
− Sáp nhập kiểu Cônglômêra
− Mua cổ phần (share-due)
− Mua tài sản (asset-due)
1.1.3 Động cơ của hoạt động sáp nhập và mua lại .................................... 4
1.1.3.1 Những động cơ làm tăng giá trò công ty và giá trò cho cổ
đông...................................................................................... 5
1.1.3.2 Những động cơ không làm tăng giá trò công ty và giá trò cho
cổ đông................................................................................. 6
1.1.4. Các nguyên tắc trong hoạt động sáp nhập và mua lại ..................... 7
1.1.5. Tác động của hoạt động sáp nhập và mua lại tới doanh nghiệp và
nền kinh tế – xã hội.......................................................................... 9
1.1.5.1 Tác động tích cực ................................................................. 9
1.1.5.2 Tác động tiêu cực................................................................ 10
1.1.6 Vai trò của ngân hàng đầu tư........................................................... 12
1.1.7 Mức độ và thống kê về các thương vụ sáp nhập và mua lại trên thế
giới.................................................................................................... 14
1.1.7.1 Các làn sóng sáp nhập và mua lại trên thế giới ................. 14
1.1.7.2 Thống kê các thương vụ sáp nhập và mua lại có quy mô lớn
trên thế giới từ năm 2000-2007 ............................................ 17
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH APV ............................................ 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG I........................................................................... 23
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI
CÔNG TY Ở VIỆT NAM........................................................... 24

NOPAT : Net operating profit after taxes – lợi nhuận hoạt động sau thuế
TS : Tax shield – tấm chắn thuế
WACC : Weighted average cost of capital – chi phí sử dụng vốn bình quân
WTO : Wordl Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1.2 : Mô hình phân loại hoạt động sáp nhập và mua lại...............................2
Biểu đồ 1.1.4 : Quy trình thực hiện hoạt động sáp nhập và mua lại .............................7

1. Tính thiết thực của luận văn
Thò trường sáp nhập và mua bán doanh nghiệp tuy không mới mẻ ở Việt
Nam nhưng đặc biệt có xu hướng phát triển nhanh chóng trong những năm gần
đây khi nền kinh tế Việt Nam phát triển và tiến trình cổ phần hóa trở nên sôi
động. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm năm 2007 đã có 46 thương vụ sáp nhập và
mua lại được thực hiện với tổng giá trò gần 626 triệu đôla Mỹ. Trong khi đó, dự
kiến năm 2007 sẽ có khoảng 50.000 doanh nghiệp mới ra đời, đa số là công ty
vừa và nhỏ. Và dự báo khoảng phân nửa trong số doanh nghiệp mới thành lập
này sẽ phá sản trong 2 năm đầu tiên, 80% tổng số sẽ không phát triển trong 5
năm tiếp theo. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập WTO sẽ tạo ra
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho doanh nghiệp như sức ép cạnh
tranh, vốn, công nghệ, sản phẩm… Chính vì thế, năm 2007 được dự đoán sẽ là
năm mở đầu của sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động tập trung kinh tế dưới hình
thức sáp nhập và mua lại.
Nhu cầu bán doanh nghiệp sẽ ngày càng lớn và nhu cầu mua lại doanh
nghiệp cũng gia tăng do số lượng nhà đầu tư tăng. Tuy nhiên, cho đến nay hoạt
động sáp nhập và mua lại chưa có tỷ lệ giao dòch thành công đáng kể là vì người
bán không biết bán cho ai, khi nào, giá bán bao nhiêu là thích hợp; còn người
mua không biết cách nào để tiếp cận và mức giá phải trả như thế nào cho phù
hợp; ai sẽ là người có lợi trong giao dòch, cổ đông của công ty mục tiêu hay công
ty thu mua… Để cho giao dòch thành công cả bên mua và bên bán đều cần nắm
rõ các bước phải thực hiện trong quy trình mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan đó, việc nghiên cứu về thò trường
sáp nhập và mua lại ở thế giới và Việt Nam, cũng như áp dụng những kiến thức
của tài chính doanh nghiệp vào việc phân tích hoạt động sáp nhập, mua lại và
đònh giá doanh nghiệp là cần thiết.
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 1
Chương I : Tổng luận về đề tài

2. Mục đích của luận văn

HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 2
Chương I : Tổng luận về đề tài

CHƯƠNG I: TỔNG LUẬN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI (M&A)
1.1.1 Các khái niệm cơ bản:
− Hoạt động sáp nhập (merger): thường được dùng để mô tả hai công ty,
thông thường có kích cỡ tương đồng nhau, kết hợp các nguồn lực lại với
nhau, hoạt động như một công ty thống nhất.
− Hoạt động thâu tóm hay mua lại (takeover, acquisition): dùng để chỉ một
công ty lớn hơn mua lại một công ty nhỏ hơn.
Tuy nhiên, khi một hoạt động được gọi là sáp nhập, mua lại hay thâu tóm,
hiệu quả của giao dòch về cơ bản là như nhau, đều là hoạt động của hai công ty
kết hợp thành một nên ta có thể dùng các thuật ngữ này thay thế cho nhau.
− Công ty thu mua (acquiring company): là công ty tìm mua một công khác
− Công ty mục tiêu (target company): công ty bò sáp nhập hay mua lại
− Thâu tóm thù đòch (hostile takeover): là một hoạt động mà không được sự
ủng hộ của ban quản lý công ty mục tiêu. Việc thâu tóm có thể ảnh hưởng
xấu đến công ty mục tiêu và đôi khi gây tổn hại đến cả bên thâu tóm.
− Thâu tóm có thiện chí (friendly takeover): là một hoạt động mà được ban
quản lý của công ty mục tiêu hoan nghênh và ủng hộ. Việc thâu tóm đó
có thể bắt nguồn từ lợi ích chung của cả hai bên.
− Mua lại bằng vốn vay LBO (leveraged buyouts): là việc mua lại công ty
bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính là các khoản tiền đi vay. Một nhóm
các nhà đầu tư đi vay tiền từ ngân hàng, dùng tài sản của mình làm thế
chấp để thâu tóm một công ty khác. Hoặc ban quản trò của công ty dùng
cách đi vay ngoài để duy trì quyền kiểm soát của mình bằng cách chuyển
công ty từ chỗ là công ty đại chúng thành công ty tư nhân…
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 3

Hợp nhất

Sáp
nhập
Công ty mục tiêu tiếp tục tồn tại nhưng
như một công ty tư nhân.
Tài sản của công ty mục tiêu được
chuyển nhượng toàn bộ cho công ty thu
mua và cuối cùng nó bò giải thể.
Công ty mục tiêu và công ty thu mua kết
hợp thành một công ty mới; cần sự chấp
thuận của cổ đông cả hai công ty.
Công ty mục tiêu trở thành một phần của
công ty thu mua; cần sự chấp thuận của
cổ đông cả hai công ty. Biểu đồ 1.1.2: Mô hình phân loại hoạt động sáp nhập và mua lại
Hoạt động sáp nhập được chia thành bốn loại chính:
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 4
Chương I : Tổng luận về đề tài
− Sáp nhập theo chiều ngang: là sự kết hợp của những công ty đang trực
tiếp cạnh tranh với nhau trong cùng một dòng sản phẩm. Một trong những
động cơ hàng đầu của hoạt động sáp nhập theo chiều ngang là sự cắt
giảm chi phí sản xuất có thể đạt được; một động cơ khác là sự gia tăng
năng lực thò trường thông qua việc giảm sự cạnh tranh.
− Sáp nhập theo chiều dọc: là sự kết hợp của những công ty thuộc những
công đoạn khác nhau của một dây chuyền sản xuất, tức không cạnh tranh
mà mang tính bổ trợ cho nhau. Ví dụ, các công ty trong ngành công
nghiệp dầu mỏ có khuynh hướng sáp nhập theo chiều dọc rất cao, ngoài

− Trả bằng nguồn tiền mặt thặng dư của doanh nghiệp. Nghiệp vụ này
thường liên quan đến hoạt động mua lại công ty hơn là sáp nhập bởi vì
lúc này công ty thu mua sẽ là chủ sở hữu cổ phiếu của công ty mục
tiêu. Phương pháp này khá hiệu quả khi lãi suất thò trường có khuynh
hướng giảm và không làm thay đổi cấu trúc vốn của công ty từ đó ảnh
hưởng đến thu nhập trên mỗi cổ phần của cổ đông. Tuy nhiên, nó lại
có ảnh hưởng đến dòng tiền lưu động và khả năng thanh toán bằng
tiền mặt của công ty.
− Việc mua lại có thể được tài trợ thông qua hình thức vay nợ từ ngân
hàng hoặc phát hành trái phiếu. Các khoản nợ này sẽ được ghi nhận
vào bảng cân đối của công ty thu mua.
− Hoạt động mua lại còn có thể được tài trợ bằng sự kết hợp của tiền
mặt, nợ vay và phát hành thêm cổ phiếu. Công ty thu mua sẽ phát
hành thêm cổ phiếu ra công chúng và dùng tiền thu được từ việc phát
hành thêm này để mua lại công ty khác.
1.1.3 Động cơ của hoạt động sáp nhập và mua lại:
Một công ty quyết đònh mua lại hay sáp nhập với công ty khác vì nhiều
động cơ. Nhưng dù với bất kỳ động cơ nào thì việc mua lại hay sáp nhập sẽ ảnh
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 6
Chương I : Tổng luận về đề tài
hưởng đến quyền lợi của cổ đông công ty thu mua lẫn công ty mục tiêu. Sau đây
chúng ta sẽ phân loại động cơ của hoạt động này thành hai loại:
1.1.3.1 Những động cơ làm tăng giá trò công ty và giá trò cho cổ đông:
− Kết hợp nguồn lực là động cơ chủ yếu của hầu hết các hoạt động sáp
nhập hay mua lại công ty. Khi một công ty sáp nhập hay thâu tóm một
công ty khác, lợi ích từ việc kết hợp nguồn lực sẽ tồn tại khi giá trò của
công ty mới được tạo thành lớn hơn giá trò riêng biệt của từng công ty
trước khi sáp nhập. Ví dụ, công ty A có giá trò thò trường là V
oa
sáp

− Ưu đãi về thuế là một động cơ khác của hoạt động sáp nhập và mua
lại. Công ty có lợi nhuận cao khi thu mua một công ty bò thua lỗ sẽ
được giảm thuế do việc chuyển lỗ, nhờ đó cắt giảm các chi phí về
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 7
Chương I : Tổng luận về đề tài
thuế. Tuy nhiên, tại một số quốc gia, đã có những điều luật nhằm giới
hạn động cơ này của các công ty thu mua.
− Hoạt động sáp nhập và mua lại giúp công ty thu mua và công ty mục
tiêu tác động lẫn nhau, thông qua đó sự bất cân xứng về mặt thông tin,
công nghệ hay sự thiếu hụt về tài nguyên sẽ được chuyển giao, chia
sẻ. Điển hình là khi một công ty mua lại một trong số những nhà cung
cấp của mình, công ty sẽ thu được lợi nhuận từ nguồn tài nguyên của
công ty mục tiêu.
− Bằng việc mua lại một công ty khác, công ty thu mua có thể mua được
những tài sản với giá rẻ hơn giá lắp đặt tài sản mới, có thể sỡ hữu một
thương hiệu đã nổi tiếng sẵn hơn là bắt đầu xây dựng thương hiệu, sỡ
hữu lượng lao động có tay nghề sẵn có hơn là xây dựng từ ban đầu.
− Công ty thu mua sẽ tiến hành mua lại công ty mục tiêu mà được đánh
giá là có giá trò thò trường thấp hơn giá trò hiện tại của dòng tiền tương
lai của nó. Công ty thu mua trông đợi vào tiềm năng của công ty mục
tiêu và sự xuất hiện của một bộ máy quản lý mới sẽ giúp giá trò của
công ty mục tiêu tăng lên.
− Khi một công ty muốn tham gia vào một thò trường mới, cách nhanh
nhất để tham gia vào là mua lại một công ty đang hoạt động trong thò
trường đó. Động cơ này cũng làm đa dạng hoá rủi ro của công ty.
Dòng tiền của công ty có thể đến từ việc tham gia sản xuất kinh doanh
trên nhiều thò trường khác nhau.
1.1.3.2 Những động cơ không làm tăng giá trò công ty và giá trò cho cổ đông:
− Hoạt động sáp nhập và mua lại giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư của
công ty, giúp ổn đònh nguồn thu nhập của công ty. Tuy nhiên, đối với

Biểu đồ 1.1.4: Quy trình thực hiện hoạt động sáp nhập và mua lại
Khi công ty thu mua muốn sáp nhập hay mua lại một công ty khác, họ
thường tiến hành theo các bước:

Công ty thu
mua
Tư vấn
Ra quyết đònh:
- Bộ máy quản lý
- Đền bù
- Giải quyết lao
động dư thừa
- Chiến lược
phát triển
Đánh giá
Tiếp cận, tìm
hiểu
Xác đònh công
ty mục tiêu
Thẩm đònh và
hoạch đònh
chiến lược lâu
dài
Thương lượng:
- Giá cả
- Phương
pháp thanh
toán

HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 9

Chương I : Tổng luận về đề tài
Sau khi tiến hành thẩm đònh xác đònh được rủi ro, công ty thu mua sẽ tiến
hành các biện pháp giải quyết rủi ro bằng hai cách: công ty thu mua và công ty
mục tiêu cùng nhau giải quyết vấn đề (trong trường hợp sáp nhập) hay công ty
thu mua sẽ tìm cách chuyển rủi ro về phía đối tác.
1.1.5 Tác động của hoạt động sáp nhập và mua lại tới doanh nghiệp và nền
kinh tế – xã hội:
1.1.5.1 Tác động tích cực của hoạt động M&A: nếu như việc sáp nhập và mua
lại hướng đến mục tiêu chung là vì lợi ích của cả hai bên (công ty thu
mua và công ty mục tiêu) thì nó đem lại những tác động tích cực như
sau:
Đối với công ty thu mua và công ty mục tiêu:
− Từ các công ty nhỏ, lẻ kết hợp thành một công ty có quy mô lớn hơn
nên khả năng bò triệt tiêu của công ty sau khi sáp nhập hay mua lại
trên thò trường là rất khó xảy ra; doanh nghiệp cũng có khả năng đáp
ứng tốt hơn yêu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ,
giảm bớt các rủi ro trong kinh doanh, tiết kiệm được chi phí cố đònh
(quản lý, điều hành, quảng cáo, văn phòng, marketing…), tiết kiệm
được chi phí đào tạo nhân lực do sắp xếp, bố trí hợp lý hơn nguồn lực,
tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng vốn đầu tư, có khả năng
mở rộng ngành nghề kinh doanh.
− Sau khi sáp nhập hay mua lại, quyền tác động của doanh nghiệp đến
giá cả trên thò trường sẽ lớn hơn do việc giảm cạnh tranh và có thò
phần lớn hơn, kết quả sẽ làm lợi nhuận hoạt động và thu nhập biên tế
của doanh nghiệp đạt cao hơn.
− Sẽ có sự kết hợp nhiều sức mạnh trong trường hợp một công ty có ưu
thế về tiếp thò mua lại một công ty có ưu thế về dòng sản phẩm. Công
ty mới sẽ phát huy được cả hai ưu thế này dẫn đến khả năng cạnh
tranh và thò phần hoạt động sẽ cao hơn.
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 11

Chương I : Tổng luận về đề tài
thù đòch; hoặc sự thay đổi cơ cấu, bộ máy quản lý sau khi sáp nhập hay
mua lại có thể làm cho hoạt động của công ty mục tiêu bò xáo trộn dẫn
đến chiến lược hoạt động lâu dài bò thay đổi.
− Đối với công ty thu mua, đôi khi phải tốn nhiều thời gian và chi phí
nhưng vẫn không thể đạt được mục tiêu. Đôi khi việc thâu tóm diễn ra
thành công nhưng công ty thu mua vẫn không đạt được những gì mong
đợi do không có những kế hoạch kỹ càng, tìm hiểu kỹ về công ty mục
tiêu hoặc không thích ứng được với sự thay đổi, cơ cấu quản lý mới…
− Một công ty thường phải trả thêm một khoản tiền phí hay hoa hồng khi
mua một công ty khác, chi phí này dùng để thuyết phục các cổ đông
hiện hữu bán cổ phần của họ. Các khoản chi phí này khó có thể thu
hồi lại được từ lợi nhuận của công ty mục tiêu sau khi bò thâu tóm. Nói
cách khác, công ty thu mua đôi khi phải bỏ ra một số tiền nhiều hơn
giá trò thực của công ty mà nó đònh mua lại.
− Hoạt động sáp nhập và mua lại cũng khiến công việc tổ chức, quản lý
của công ty trở nên khó khăn hơn, chồng chéo, dẫn đến tình trạng mất
kiểm soát.
Đối với nền kinh tế:
− Hầu hết các vụ sáp nhập và mua lại do phía nước ngoài nắm quyền
chủ động, không theo ý muốn của doanh nghiệp phía Việt Nam. Đây
có thể là chiến lược của các công ty theo sự chỉ đạo của công ty mẹ ở
nước ngoài chấp nhận thua lỗ trong những năm đầu để thôn tính toàn
bộ doanh nghiệp nên đã gây ra những thua thiệt cho phía Việt Nam.
− Một số doanh nghiệp sử dụng hình thức sáp nhập và mua lại để trốn
thuế, sau thời gian được miễn giảm thuế tuyên bố giải thể và sáp nhập
vào một công ty khác, chuyển toàn bộ bộ máy sang tham gia điều
hành một công ty mới.
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 13
Chương I : Tổng luận về đề tài

bằng chứng về sự thâu tóm có ý đònh độc quyền, vi phạm luật cạnh
tranh nhằm kêu gọi sự can thiệp của chính quyền; mua lại cổ phiếu
đang lưu hành trên thò trường nhằm đẩy giá cổ phiếu công ty lên cao
hơn giá công ty thu mua đưa ra; tìm một công ty chào mua khác mà
được chấp thuận bởi công ty mục tiêu để cạnh tranh với công ty muốn
thu mua ban đầu; tìm một đối tác có quan hệ thân thiết với ban quan lý
công ty mục tiêu thu mua đủ số cổ phiếu cần thiết để ngăn chặn mong
muốn sáp nhập hay mua lại toàn bộ của công ty thu mua ban đầu…
− Đònh giá: trong hầu hết các thương vụ mua bán sáp nhập lớn, mỗi bên
mua và bán đều tìm đến một ngân hàng đầu tư để thuê họ đánh giá
công ty mục tiêu và xác đònh mức giá phù hợp. Công ty thu mua muốn
biết mức giá thấp nhất có thể mua được công ty mục tiêu và công ty
mục tiêu thì tìm sự giúp đỡ để chứng minh rằng mức giá chào mua là
quá thấp.
− Tài trợ tài chính: để một thương vụ được thành công đôi khi ngân hàng
đầu tư còn đóng vai trò tài trợ tài chính cho khách hàng, đó có thể là
công ty thu mua khi họ cần nguồn tài chính để thâu tóm công ty khác
hay đối với công ty mục tiêu khi họ cần nguồn tài chính để thực hiện
các chiến lược phòng thủ.
− Hoạt động trung gian (arbitrage operations): arbitrage là hoạt động
đồng thời mua và bán cùng một loại hàng hóa tại hai thò trường khác
nhau với hai mức giá khác nhau và thu được khoản chênh lệch. Trên
thò trường chứng khoán có một loại arbitrage khác gọi là risk arbitrage,
kinh doanh chênh lệch rủi ro. Thuật ngữ này xuất hiện để chỉ những
nhà đầu cơ mua cổ phiếu của các công ty có tin đồn là mục tiêu bò mua
lại với hy vọng kiếm lời khi việc chuyển nhượng hoàn tất. Những nhà
đầu cơ xác đònh công ty có khả năng bò thâu tóm, đánh giá giá chào
mua có thể có, đầu cơ một số lượng lớn cổ phiếu của công ty này ở
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 15
Chương I : Tổng luận về đề tài

Làn sóng thứ ba (1945 – 1973)
Những cuộc sáp nhập trong giai đoạn này chủ yếu theo kiểu
conglomerate. Một số lượng lớn các công ty Mỹ mới thành lập đã hưởng ứng
nhiệt tình các vụ sáp nhập kiểu conglomerate này. Ví dụ như International
Telephone & Telegraph (ITT), LingTemco Voight (LTV) & Litton Industries.
Nhiều công ty đã hướng tới sự đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh để giữ một
mức tăng trưởng bền vững. Một ví dụ về sự thành công trong việc đa dạng hóa
này là trong vòng 10 năm ITT đã sáp nhập với gần 250 công ty khác, nhiều công
ty trong số đó không cùng ngành. Cho đến khi vào cuối những năm 1960, giá cổ
phiếu của các công ty sáp nhập giảm mạnh thì làn sóng sáp nhập theo kiểu
conglomerate mới lắng dòu xuống. Trong thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều công
ty đa quốc gia. Nhiều công ty Mỹ bắt đầu đầu tư ra nước ngoài do bởi các
khuyến khích về thuế, việc giảm bớt các rào cản thương mại và việc giảm chi
phí vận chuyển. Làn sóng sáp nhập bắt đầu chấm dứt vào đầu những năm 1970
khi chỉ số Dow Jones giảm hơn ba lần (cổ phiếu của các công ty sáp nhập lớn
nhất giảm hơn 80% và cổ phiếu của các công ty về lónh vực vi tính, kỹ thuật
giảm hơn 77%); đồng thời là việc nổ ra các cuộc khủng hoảng năng lượng thế
giới.
Làn sóng thứ 4 (những năm 1980)
Vào những năm 1980, làn sóng sáp nhập được xem như những làn sóng
thâu tóm công ty. Cuộc thâu tóm đầu tiên diễn ra vào năm 1974 bởi Morgan
Stanley đại diện cho công ty Inco thâu tóm ESB. Bất kỳ công ty nào không
phát huy được hết tiềm năng của mình đều có nguy cơ bò thâu tóm. Những cuộc
sáp nhập lớn trong giai đoạn này ở Mỹ như Amoco & Exxon mua công ty dầu
của Canada. Thêm vào đó, nhiều công ty nước ngoài cũng bắt đầu mua các
HVTH: Hoàng Thò Khánh Tâm 17
Chương I : Tổng luận về đề tài
công ty Mỹ và nhiều công ty đa quốc gia lớn mạnh cũng bắt đầu hình thành
bên ngoài nước Mỹ. Ví dụ năm 1989, tập đoàn United Kingdom’s Beecham đã
mua lại SmithKline Beecham với giá 16 tỷ đô la. Vào giữa năm 1980, các cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status