tìm hiểu về sự sáp nhập của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển kinh tế, việc liên kết, sáp nhập, hợp nhất các
doanh nghiệp để hình thành những doanh nghiệp lớn mạnh hơn là xu hướng phổ
biến tất yếu, nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay. Xu
thế này sớm muộn cũng sẽ trở thành làn sóng mạnh mẽ lướt qua tất cả các nền
kinh tế trên thế giới và nó được dự báo sẽ bùng phát trong tương lai gần.
Trên thế giới, các hoạt động mua bán, sáp nhập đã được hình thành rất sớm
và phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh quyết liệt giữa
các công ty với nhau, đồng thời cũng tạo ra xu thế tập trung lại để thống nhất, tập
hợp nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực, thương hiệu .
Tại Việt Nam, vấn đề này đã được đề cập cách đây hơn 10 năm, nhu cầu
bán và mua doanh nghiệp ngày càng tăng cùng với xu hướng hình thành các tập
đoàn kinh doanh, đầu tư chéo giữa các doanh nghiệp đã báo hiệu một tín hiệu tốt
cho nền kinh tế, làm tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn
nữa, đây cũng là một lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam nên thu hút được sự quan
tâm đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
Và dù còn khá mới mẻ nhưng ở nước ta đã có những thương vụ đình đám
bởi sự kết hợp của những thương hiệu đã có tên tuổi, vị trí trên thị trường, chủ
yếu thuộc lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, dịch vụ. Theo
dự báo của các chuyên gia, làn sóng sáp nhập, hợp nhất và mua lại trên thị trường
tài chính sẽ diễn ra nhanh hơn so với dự đoán trước đây và sẽ sôi động hơn trong
ngành ngân hàng và chứng khoán.
Cũng chính vì sự mới mẻ, sơ khai, sôi động và nóng bỏng của vấn đề này
nên chúng em đã chọn đề tài “tìm hiểu về sự sáp nhập của các ngân hàng thương
mại ở Việt Nam hiện nay” để có thể hiểu rõ hơn về hiện tượng này.
I. Bối cảnh ngân hàng hiện nay tại Việt Nam
 Ngành ngân hàng ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh, với đặc trưng của
một nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động của VN luôn ở
mức cao. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng nóng cũng là nguyên nhân dẫn đến
bong bóng tài sản mà nhiều nước mới nổi như VN mắc phải khi nguồn vốn chảy
vào các linh vực rủi ro cao như bất động sản.

Có không ít ý kiến cho rằng, cần phải coi việc phá sản ngân hàng là chuyện
bình thường như phá sản doanh nghiệp, nhưng đối với một lĩnh vực hoạt động
nhạy cảm và có tính lan truyền rộng như lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thì việc phá
sản ngân hàng sẽ để lại rất nhiều hệ lụy cho cả nền kinh tế, nhất là đối với một
nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng với dư nợ tín dụng chiếm
khoảng 120% GDP và vốn tự có của các ngân hàng hiện vẫn còn quá mỏng so
với các nước trên thế giới và khu vực. Đối với bất kỳ quốc gia nào, kể cả các
nước phát triển, đây chỉ là giải pháp cuối cùng khi chính phủ của các quốc gia
này không thể nâng đỡ nổi các ngân hàng và hoạt động kinh doanh của các ngân
hàng không còn hiệu quả nữa. Ngay cả với cường quốc như Mỹ thì việc phá sản
của các ngân hàng thời gian qua đã để lại rất nhiều hệ lụy về kinh tế - xã hội cho
quốc gia này. Vì vậy, phá sản, giải thể ngân hàng sẽ chưa được các nhà quản lý
Việt Nam tính đến trong bối cảnh hiện nay.
Vì vậy, giải pháp phù hợp nhất để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là sáp
nhập, hợp nhất, mua lại giữa các ngân hàng. Quá trình này không chỉ diễn ra giữa
các ngân hàng yếu với ngân hàng mạnh hay giữa các ngân hàng yếu với nhau mà
bản thân giữa các ngân hàng mạnh cũng cần có sự liên kết, sáp nhập, hợp nhất để
tạo ra những ngân hàng lớn mạnh hơn, đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng
trong khu vực và trên thế giới. Nhất là khi sự hiện diện của các ngân hàng 100%
vốn nước ngoài tại Việt Nam gia tăng.
Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là không phân biệt ngân hàng nhỏ hay
ngân hàng lớn mà chỉ phân biệt ngân hàng mạnh hay ngân hàng yếu.
 Mục tiêu của quá trình sáp nhập ngân hàng là nhằm:
• Tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh, hiệu quả, hoạt động ngày càng phù
hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có sức sống và khả năng cạnh
tranh tốt trong môi trường kinh tế trong nước và quốc tế đầy biến động;người dân
được tiếp cận sâu, rộng với mọi loại hình dịch vụ ngân hàng với chất lượng ngày
càng cao;
• Tạo ra một hệ thống ngân hàng đa dạng về loại hình, quan hệ sở hữu; đa dạng về
qui mô: có các ngân hàng đủ mạnh để có thể cạnh tranh trong khu vực và quốc

Đề án chia thành ba nhóm đối tượng để tái cơ cấu: nhóm TCTD lành mạnh,
nhóm thiếu hụt thanh khoản tạm thời và nhóm yếu kém. Tập trung nêu chi tiết về
việc giải quyết, xử lý nhóm thiếu hụt thanh khoản tạm thời và nhóm yếu kém.
Cụ thể, với những TCTD thiếu thanh khoản tạm thời, NHNN sẽ tái cấp vốn.
Nằm trong diện này, các TCTD sẽ bị hạn chế tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn
phải tích cực huy động vốn để trả nợ NHNN và tăng khả năng chi trả. Đồng thời,
sẽ được sự giám sát chặt chẽ của NHNN về tình hình tài chính và hoạt động.
Theo đề án, NHNN “khuyến khích và tạo điều kiện cho các TCTD thuộc
nhóm này sáp nhập, hợp nhất với nhau và sáp nhập, hợp nhất với các TCTD
lành mạnh”.
Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, NHNN sẽ áp dụng các biện pháp xử lý như
buộc hạn chế mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động hoặc bắt buộc TCTD
phải thực hiện một hoặc một số tỷ lệ an toàn cao hơn mức quy định chung.
Về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD yếu kém, đề án nêu rõ, sau
khi áp dụng các biện pháp đảm bảo khả năng chi trả, các TCTD yếu kém sẽ được
sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên cơ sở tự nguyện.“Nếu không thể thực hiện một
cách tự nguyện, NHNN sẽ áp dụng các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại
trên cơ sở bắt buộc đối với TCTD yếu kém” – trích đề án.
Các TCTD yếu kém sẽ phải chuyển nhượng vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần.
Cùng với đó, cổ đông lớn, cổ đông nắm quyền kiểm soát, chi phối của các TCTD
này cũng phải chuyển nhượng cổ phần.
Lúc này, NHNN sẽ đóng vai trò trực tiếp mua lại vốn điều lệ hoặc cổ phần
của các TCTD yếu kém để chấn chỉnh, củng cố, lành mạnh hóa một bước TCTD.
Sau đó, sẽ cho sáp nhập, hợp nhất với TCTD khác hoặc bán lại cho các nhà đầu
tư đủ điều kiện.
Trong chuỗi thực hiện này, các TCTD nước ngoài cũng sẽ được xem xét để
được phép mua lại, sáp nhập các TCTD yếu kém của Việt Nam và tăng giới hạn sở
hữu cổ phần của TCTD nước ngoài tại các NHTMCP yếu kém được cơ cấu lại.
2.2. Đối với các ngân hàng mạnh
Đối với các ngân hàng mạnh, có uy tín, thương hiệu, việc liên kết, hợp nhất

mang lại lợi ích cao nhất cho toàn hệ thống và bản thân mỗi ngân hàng.
Hiện nay, hành lang pháp lý cho quá trình sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ
chức tín dụng đã tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh, trong đó quyền lợi của khách
hàng và người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất, mua
lại được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, khách hàng của các tổ chức tín dụng này có thể
hoàn toàn yên tâm về quyền lợi của mình khi các tổ chức tín dụng mà khách
hàng đang giao dịch thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất hay mua lại.
III. Nguyên nhân của việc sáp nhập:
3.1. Bùng nổ về số lượng
Ở Việt Nam, chỉ trong vòng mấy năm gần đây đã chứng kiến sự bùng nổ
của hệ thống ngân hàng với sự tăng mạnh về con số ngân hàng và chi nhánh ngân
hàng được thành lập cũng như về tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt nguồn từ tăng
trưởng cao của cung tiền là hậu quả của chính sách tiền tệ nới lỏng. Đến lượt
mình, gia tăng tăng trưởng tín dụng lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng và tăng
áp lực lạm phát. Điều đáng nói là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống ngân
hàng không đồng hành với sự cải thiện đáng kể trong công tác phòng ngừa rủi ro
(như không áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại vốn vay, trích lập dự
phòng và công bố thông tin) cũng như việc giám sát, thanh tra và xử phạt của
NHNN, lại còn bịu tác động bởi tham nhũng, can thiệp bởi chính quyền và các
nhóm lợi ích. Công tác quản trị yếu kém ngoài lí do xem nhẹ tầm quan trọng của
nó trước áp lực mở rộng về lượng còn do bởi việc không có hoặc không hoạt
động hiệu quả của các cơ quan thanh tra, giá sát của NHNN cũng như của các tổ
chức tổ chức xếp hạng rủi ro tín dụng.
Tệ hại hơn, nhiều ngân hàng được thành lập bởi các tập đoàn kinh tế hay
một nhóm lợi ích - mà nòng cốt là một số cá nhân tư bản với mục đích là cung
cấp vốn cho nội bộ tập đoàn đó, nhóm lợi ích đó- mà vì thế chất lượng các khoản
cho vay, cũng như mức hạn cho vay, không bao giờ là điều đáng quan tâm.
Thêm nữa, khi thị trường chứng khoán và nhà đất có dấu hiệu tăng trưởng
mạnh, các ngân hàng thi nhau đổ vốn vào đó, tự mình đặt vào vị trí chịu cả rủi ro
tín dụng lẫn rủi ro thị trường và do đó rất dể tổn thương nặng bởi sự lên xuống

Như vậy, khi thị trường tài chính có những biến động thì những ngân hàng
yếu kém không thể đứng vững được sẽ buộc phải sáp nhập đồng thời nguy cơ
chảy máu chất xám mất đi những cán bộ giỏi là điều không thể tránh khỏi.
3.3. Thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao
Trong nghiệp vụ ngân hàng, khả năng thanh khoản đủ có nghĩa là khả năng
của ngân hàng có thể đáp ứng được các yêu cầu rút tiền bất cứ khi nào của người
gửi hoặc là khả năng cung ứng được tất cả các khoản vay tín dụng hay vay tiền
mặt cho người đi vay.
Năm 2011, chính sách tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát của NHNN đã
khiến cho vấn đề thanh khoản của các ngân hàng “nóng” hầu hết năm và trở nên
khá căng thẳng. Để giúp đỡ các NHTM, NHNN đã phải bơm ra một tiền không
nhỏ qua OMO. Ngay trong phiên giao dịch sáng 9/1/2012, NHNN đã bơm ra thị
trường 15.000 tỷ đồng, cao nhất kể từ ngày 1/6/2011, đồng thời, tăng thời gian
cho vay trên thị trường mở (OMO) từ 14 ngày lên 21 ngày.
Tính chung trong gần 10 ngày đầu tháng 1/2012, NHNN đã bơm ròng
khoảng 26.000 tỷ đồng qua OMO và xấp xỉ 60.000 tỷ đồng trong cả tháng
1/2012. Chưa hết, một số NHTMCP nhỏ đã phải cầu viện sự trợ giúp của NHNN
qua tái cấp vốn. Mặc dù vậy, căng thẳng thanh khoản vẫn chưa hết mà tiếp tục
kéo dài sang những ngày sau Tết Nguyên Đán (10/2).
Những ngày đầu năm mới Nhâm Thìn, thị trường đã chứng kiến sự cạnh
tranh gay gắt của các NHTM trong việc huy động vốn. Thậm chí đã có nghi ngờ
về việc tái xuất hiện tượng lách trần lãi suất huy động 14%. Hiện một số ngân
hàng đang nắm giữ một lượng vàng lớn đã kiến nghị cho phép họ được xuất khẩu
vàng tài khoản để tăng thanh khoản. Như thế, chỉ cần bán 1% trong số đó qua tài
khoản là thu được khoảng 5-7 tỷ USD, giải quyết tương đối nhu cầu thanh khoản
cho họ một cách cấp bách.
Nếu tình hình này kéo dài sẽ là trở ngại không nhỏ cho lộ trình hạ lãi suất
của NHNN theo chỉ đạo của chính phủ. Chẳng thế mà, mặc dù những tháng đầu
năm, tốc độ tăng CPI ở mức khá thấp, ngay cả tháng Tết, CPI cũng chỉ tăng xấp
xỉ 1%. Thế nhưng vẫn chưa thấy tín hiệu gì của việc hạ lãi suất. Thống đốc

nông thôn và thành thị) là 1.000 tỷ đồng và cuối năm 2010 là 3.000 tỷ đồng. Như
vậy là chỉ trong vòng 9 năm, các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ đột biến lên
gấp 50-600 lần. Đây là một gánh nặng quá sức tưởng tượng đối với phần lớn các
ngân hàng. Gần 10 ngân hàng đã phải gắng gượng mới vựợt qua chướng ngại vật
1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2008. Đến nay, 20 ngân hàng, chiếm quá một nửa
tổng số ngân hàng cổ phần, chưa về đích, trong đó 9 ngân hàng mới chỉ đạt 1/3
chặng đường. Như vậy chỉ trong nửa năm nữa, các ngân hàng các ngân hàng này
buộc phải tăng vốn lên 300%.
Trong lúc nhiều ngân hàng đang khó nhọc bước tới cái mốc 3.000 tỷ đồng
thì Thống đốc ngân hàng nhà nước lại cảnh báo: sẽ tăng vốn pháp định lên 5.000
tỷ đồng vào năm 2012 và 10.000 vào năm 2015. Yêu cầu tăng vốn quá nhanh
đồng nghĩa với sức ép mở rộng quy mô, tăng nhanh dư nợ tín dụng, tăng trưởng
nóng. Điều này đã, đang và sẽ tất yếu dẫn đến rủi ro phát triển nóng, là một trong
những rủi ro nguy hiểm nhất trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng nhà nước
liên tiếp phát đi thông điệp không nhân nhượng với các ngân hàng không tăng đủ
vốn pháp định.
Tăng vốn là việc bán thêm cổ phần cho cổ đông hiện hữu và cổ đông mới
với giá thấp nhất là bằng mệnh giá. Việc tăng vốn chỉ hợp lí khi đạt được lợi
nhuận khi đạt được lợi nhuận kỳ vọng không thấp hơn tiền gửi ngân hàng. Tuy
nhiên, lợi nhuận của không ít ngân hàng chỉ đạt dưới 10% và cổ tức thì còn thấp
hơn nhiều, giá cổ phiếu của ngành ngân hàng đã bị tụt giảm một cách thảm hại,
thậm chí là dưới mệnh giá và tính thanh khoản rất thấp (mà nguyên nhân chính là
do tăng vốn quá nhanh). Do đó bài toán tăng vốn là vô cùng nan giải, đặc biệt là
khối lượng cổ phần mới quá lớn, đến mức bội thực. Chính vì vậy nhiều ngân
hàng đã sáp nhập với nhau để giải quyết bài toán trên.
3.5. Thách thức bởi sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài
Khi Việt Nam tham gia vào WTO thì việc phải mở cửa cho các ngân hàng
nước ngoài vào và áp dụng quy chế đối xử quốc gia với các ngân hàng nước
ngoài là không thể tránh khỏi. Trong điều kiện hiện nay, đây sẽ là một thách thức
lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam khi phải cạnh tranh với các ngân

0
9T/
2011
2010
9T/
2011
20
10
Vốn điều lệ
3.3
99
3.3
99
4.18
5
4.18
5
3.0
00
3.0
00
Tổng tài sản
58.
940
46.
414
78.0
14
60.1
83

 Lý do sáp nhập:
3 ngân hàng này thời gian qua gặp khó khăn về thanh khoản chủ yếu do
dùng nhiều vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Khi nguồn vốn ngắn hạn không
còn dồi dào, 3 ngân hàng này đã mất khả năng thanh toán tạm thời.
 Diễn biến quá trình:
Ngày 6/12, Ngân hàng Nhà nước chính thức phát đi thông điệp sáp nhập 3
ngân hàng có trụ sở chính tại Tp.HCM, gồm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đệ Nhất (Ficombank).
Ngân hàng Nhà nước BIDV đã hỗ trợ thanh khoản cho cả 3 ngân hàng
này, nên tình hình ổn hơn. 3 ngân hàng này đã họp và đi đến quyết định tự
nguyện hợp nhất, để phát huy thế mạnh của nhau, hỗ trợ cho nhau, đồng thời tiết
giảm chi phí vận hành nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn, với khả
năng tiếp cận thị trường lớn hơn, mạng lưới rộng hơn".
“Quyền lợi của người gửi tiền hợp pháp được đảm bảo, bởi thời gian qua
Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ thanh khoản cho 3 ngân hàng này và sau hợp nhất
ngân hàng này có sự tham gia của Nhà nước”.
 Tình hình sau sát nhập
• Cơ cấu sở hữu của ngân hàng sau hợp nhất chiếm áp đảo là các cá nhân trong
nước với 85,17% (gồm 3.679 cổ đông); cổ đông là tổ chức trong nước sở hữu
14,41% và 0,41% còn lại là cổ phiếu quỹ.
• Theo phương án đưa ra trong đề án, các bên thống nhất tỷ lệ hoán đổi cổ phiếu
phổ thông của ba ngân hàng trên là 1:1 (mỗi cổ phiếu phổ thông của một ngân
hàng sẽ được hoán đổi thành một cổ phiếu của SCB “mới” theo nguyên tắc
ngang bằng mệnh giá). Và trong mọi trường hợp không áp dụng chuyển đổi
thành tiền.
• Về hoạt động, sau khi hợp nhất, theo đề án, ngân hàng mới sẽ áp dụng hệ thống
kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ của SCB cho SCB “mới”; hợp nhất hệ
thống thông tin quản lý và hệ thống truyền dữ liệu SmartBank tiến tới sang hệ
thống Corebanking T24 hoặc Flexcube tùy tình hình thực tế. Ngay sau thời điểm

- Tên TCTD: Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
- Tên viết tắt: SHB
- Giấy phép thành lập: 0041-NH/GP do NHNN cấp ngày 13/11/1993
- Trụ sở chính: 77 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Điện thoại: (04) 39423388
- FAX: (04) 39410944
- Website: www.shb.com.vn.
- Vốn điều lệ: 4.815.795.470.000 đồng.
- Lĩnh vực kinh doanh: Được hoạt động kinh doanh đầy đủ hoạt động kinh
doanh ngân hàng theo Luật các TCTD do NHNN cấp phép.
- Mạng lưới: 1 Hội sở chính, 1 sở giao dịch, 26 chi nhánh, 115 phòng giao
dịch dịch và 10 quỹ tiết kiệm.
- Công ty con: C/ty quản lý tài sản AMC – Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội do Ngân hàng sở hữu 100% vốn điều lệ
Ngân hàng (HBB) HABUBANK( (Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội):
- Tên TCTD: Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
- Tên viết tắt: HBB
- Giấy phép thành lập: 00020/NH-GP do NHNN cấp ngày 06/06/1992
- Trụ sở chính: 15-17 Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
- Điện thoại: (04) 38460135
- FAX: (04) 38235693
- Website: www.habubank.com.vn
- Vốn điều lệ: 4.050.000.000.000 đồng
- Lĩnh vực kinh doanh: Được hoạt động kinh doanh đầy đủ hoạt động kinh doanh
ngân hàng theo Luật các TCTD do NHNN cấp phép.
- Mạng lưới: 1 Hội sở chính, 1 sở giao dịch, 19 chi nhánh, 50 phòng giao dịch dịch
và 10 quỹ tiết kiệm
- Công ty con: C/ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội do Ngân
hàng sở hữu cổ phần chi phối.
b. Nguyên nhân dẫn đến sự sáp nhập của hai ngân hàng:

- Tên bằng tiếng Anh : Sai Gon Ha Noi Joint Stock Commercial Bank
- Tên viết tắt : SHB
- Trụ sở chính : 77 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Website : www.shb.com.vn
- Vốn điều lệ : 8.865.795.470.000 đồng
- Tổng số cổ phần lưu hành : 886.579.547cổ phần
- Mệnh giá : 10.000đ / cổ phần
- Lĩnh vực kinh doanh : SHB sẽ kế thừa và thực hiện tất cả những hoạt động kinh
doanh hiện tại của HBB - những hoạt động mà một ngân hàng thương mại được
phép thực hiện theo các quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010.
- Các chủ sở hữu cổ phiếu của Habubank sau khi sáp nhập vào SHB sẽ được hoán
đổi cổ phiếu theo tỷ lệ 1 cổ phần Habubank bằng 0,75 cổ phần SHB. Tổng số cổ
phần mà cổ đông Habubank nhận khi hoán đổi sẽ được làm tròn theo nguyên tắc
làm tròn xuống số nguyên gần nhất.
- Mạng lưới kinh doanh khắp cả nước trở thành 1/10 ngân hàng thương mại lớn
nhất Việt Nam về quy mô vốn và thị phần.
- Ngân hàng mới sẽ có các công ty con gồm Công ty chứng khoán và Công ty
quản lý tài sản của Ngân hàng, địa bàn hoạt động trong khu vực Đông Dương với
các chi nhánh tại Lào và Campuchia…
- Sau sáp nhập, SHB trở thành 1 trong 10 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt
Nam về quy mô vốn và tổng tài sản.
- Tại thời điểm sáp nhập SHB lọt vào danh sách 8 ngân hàng thương mại cổ phần
(không bao gồm các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối) có tổng tài
sản lớn nhất hệ thống ngân hàng thương mại, với số vốn hơn 8.860 tỷ đồng.
Doanh số huy động của SHB đạt 112.487 tỷ đồng; SHB có 242 đơn vị kinh
doanh trên toàn hệ thống với hơn 4.500 cán bộ nhân viên. Theo số liệu của VSD,
tại thời điểm hoán đổi cổ phiếu, SHB có trên 33 nghìn cổ đông, trở thành một
trong những công ty có mức độ đại chúng cao nhất trên thị trường chứng khoán
Việt Nam
- Hoạt động gần đây:

- Đông Á
- PVFC đàm phán sáp nhập với WesternBank
- ĐẠI Á bank và HDBank
I. Ưu nhược điểm, bài học từ việc sáp nhập các ngân hàng.
1. Ưu điểm.
● Sáp nhập sẽ giúp tăng sức mạnh cho hệ thống ngân hàng.
- Sau hợp nhất của các ngân hàng Sài Gòn, Đệ Nhất và Tín Nghĩa thành
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), ngân hàng HBB vào SHB. Từ
các thương vụ này, nhìn rộng ra toàn hệ thống ngân hàng của Việt Nam có thể
khẳng định, hành động sáp nhập ngân hàng để từng bước tạo ra một hệ thống
ngân hàng vững mạnh hơn, trong đó các thành viên đều có sức cạnh tranh thực
sự và phát triển bền vững.
- Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn là hơn 10.580 tỷ
đồng. Ngân hàng SHB là gần 9000 tỷ, trở thành 1/10 ngân hàng thương mại cổ
phần lớn nhất Việt Nam.
● Sau khi chính thức đi vào hoạt động, đến nay SCB đã và đang được dư
luận và cả những người trong cuộc đánh giá hiệu quả hoạt động tốt hơn, ổn định
hơn, tâm lý khách hàng yên tâm hơn trước những nguy cơ tiềm ẩn của không ít
tổ chức tín dụng.
● Việc HBB sáp nhập vào SHB là một lựa chọn tối ưu để bảo vệ quyền lợi
của các cổ đông nói riêng và các nhà đầu tư nói chung tại HBB, phù hợp với mục
tiêu cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng của Chính phủ và NHNN.
● Việc sáp nhập ngân hàng yếu kém vào ngân hàng khác có năng lực hơn
là hướng đi đúng trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. Nó không chỉ
là sự thống nhất đầu mối để giảm phân tán, nhỏ lẻ gây khó cho quản lý, giám sát,
tăng sức mạnh cho dòng vốn; mà còn tăng trách nhiệm của các ngân hàng với
nền kinh tế.
● Và trong bối cảnh khó khăn chung hiện nay, ngoài việc từng ngân hàng
phải tìm cách tăng sức cạnh tranh nội bộ, cùng gánh đỡ khó khăn cho nền kinh tế
nước nhà, thì họ còn phải chịu áp lực cạnh tranh với các dòng vốn từ các ngân

nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để có lộ trình và bước đi phù hợp nhằm mang
lại lợi ích cao nhất cho toàn hệ thống và bản thân mỗi ngân hàng.
- Cần đánh giá đúng thực lực của mình, nhìn nhận một cách toàn diện các
cơ hội và thách thức, hoạch định cho mình một hướng đi phù hợp để có khả năng
cạnh tranh bình đẳng ở môi trường hội nhập kinh tế toàn cầu trong tương lai.
- Xây dựng định hướng phát triển bền vững, chú trọng đến tất cả mọi mặt
hoạt động cụ thể là đối với hoạt động tín dụng . Các NHTM không nên phát triển
chủ yếu theo số lượng mà cần phải quan tâm đến vấn đề chất lượng , lấy khách
hàng làm trọng tâm.
- Tập trung xây dựng mô hình tổ chức hoạt động theo các chuẩn mực quốc
tế, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tiện ích dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại,
xây dựng mô hình giao dịch thân thiện, phục vụ trọn gói các nhu cầu giao dịch
NH nhanh chóng, hiệu quả.
KẾT LUÂN
Việc sáp nhập, hợp nhất, mua bán lại ngân hàng thương mại là con đường
tất yếu trong lộ trình phát triển ngân hàng Việt Nam hiện tại và tương lai. Như
vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã “vượt qua” cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu mà không có một ngân hàng nào bị phá sản, sáp nhập, hợp nhất hay giải
thể, trong khi tại Mỹ có tới hàng trăm ngân hàng bị phá sản, trong đó có sự sụp
đổ của Lehman Brothers - một đại gia trong giới ngân hàng Mỹ. Tuy nhiên,
những bất ổn của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang bộc lộ ngày càng rõ. Biểu
hiện rõ nhất là những diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ, ngân hàng với
sự vi phạm nghiêm trọng, có tính hệ thống đối với việc vượt trần lãi suất huy
động, “lách” trần tín dụng, bản chất của hoạt động tiền tệ, ngân hàng bị làm sai
lệch, méo mó, khó kiểm soát, các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tiền với sự tham gia của
các cán bộ ngân hàng ngày càng gia tăng… Nguyên nhân sâu xa của tình trạng
này xuất phát từ những yếu kém về năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, năng
lực quản trị, điều hành của một số ngân hàng thương mại yếu kém và sự sa sút về
đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ ngân hàng. Sự yếu kém này đã
khiến cho một số ngân hàng nỗ lực duy trì sự tồn tại bằng mọi giá thông qua việc

II.2.2 Đối với các ngân hàng mạnh
III. Nguyên nhân
III.1 Bùng nổ về số lựợng
III.2 Sự yếu kém trong cơ chế quản trị, điều hành và nguồn nhân lực
III.3 Thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao
III.4 Áp lực tăng vốn
III.5 Thách thức bởi sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài
IV. Các vụ sáp nhập điển hình
IV.1 Sát nhập ba ngân hàng “thương mại Cổ phần Đệ Nhất
(Ficombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) và Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank).
IV.2 HSB (Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội) sẽ mua lại Habubank
(Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội).
IV.3 Một số ngân hàng có dựu định sáp nhập khác
V. Ưu, nhược điểm và bài học rút ra
V.1 Ưu điểm
V.2 Nhược điểm
V.3 Bài học rút ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status