Luận văn thạc sĩ Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
___________________

NGUYỄN KHÁNH HÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU CHÉO ĐẾN HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Trầm Thị Xuân Hương
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và
số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và đều được dẫn nguồn tài liệu tham khảo
đầy đủ. Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Hà

1.3.1. Kinh nghiệm về hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo của một số ngân
hàng thương mại 18
1.3.1.1. Nhật Bản 18
1.3.1.2. Hàn Quốc 20
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM 24
2.1. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 24
2.1.1. Tăng trưởng về số lượng 24
2.1.2. Hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam 25
2.1.4. Hiệu quả của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại 32
2.2. THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 33
2.2.1. Sự hình thành và phát triển của SHC trong hệ thống NHTM Việt Nam 33
2.2.2. Các hình thức sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam 35
2.2.2.1. Sở hữu của NHTM Nhà nước tại các ngân hàng liên doanh 35
2.2.2.2. Cổ đông chiến lược tại NHTM Nhà nước và NHTM Cổ phần 35
2.2.2.3. Sở hữu của các NHTM Nhà nước tại các NHTM Cổ phần 36

2.2.2.4. Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM Cổ phần 39
2.2.2.5. Sở hữu NHTM Cổ phần bởi các doanh nghiệp Nhà nước 39
2.2.2.6. Sở hữu NHTM Cổ phần bởi các cá nhân và nhóm cổ đông 41
2.2.3. Một số trường hợp điển hình 42
2.2.3.1. SHC giữa ACB, Eximbank và Sacombank 42
2.2.3.2. SHC giữa NHTMCP Sài Gòn, Đệ Nhất và Việt Nam Tín Nghĩa 45

3.3.1.1. Môi trường quốc gia 72
3.3.1.2. Môi trường nội bộ ngành ngân hàng 74
3.3.1.3. Môi trường thị trường và áp lực cạnh tranh 76
CHƯƠNG 4 78
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA SỞ
HỮU CHÉO ĐẾN HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 78
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG ĐIỀU HÀNH CỦA NHNN ĐỐI VỚI SỞ HỮU93 CHÉO 78

4.2. CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM GIẢM SHC TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT
NAM 80
4.2.1. Đối với các DNNN và các NHTMNN đang sở hữu các NHTMCP 80
4.2.1.1. DNNN và NHTMNN thoái vốn khỏi các NHTMCP 80
4.2.1.2. Thực hiện tái cấu trúc DNNN song song với giải quyết vấn đề SHC 81
4.2.2. Đối với các NHTMCP 82
4.2.2.1. Tiến hành thoái vốn để cắt bỏ dần sở hữu chéo 82
4.2.2.2. Tái cấu trúc thông qua hoạt động mua bán và sáp nhập 83
4.2.2.3. Tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư ra khỏi NHTM 84
4.2.2.4. Nới tỷ lệ sở hữu ở NH trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài 85
4.2.2.5. Nâng cao đạo đức kinh doanh 86
4.3. CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA SHC
ĐẾN HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 87
4.3.1. Hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu chéo và các bên liên quan 87
4.3.2. Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 89
4.3.3. Quy định về công bố thông tin 90
4.3.4. Tăng cường pháp chế và chế tài 91
4.3.5. Xây dựng quỹ đầu tư ETF 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 93

Hệ thống tài chính
M&A
Mergers and acquisitions
Mua bán và sáp nhập
NH

Ngân hàng
NHLD

Ngân hàng Liên doanh
NHNN

Ngân hàng Nhà nước
NHTM

Ngân hàng Thương mại
NHTMCP

Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTMNN

Ngân hàng Thương mại Nhà nước
ROA
Return On Assets
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE
Return On Equity
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
SHC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Sở hữu chéo song phương 2
Hình 1.2: Sở hữu chéo đa phương 2
Hình 1.3: Sở hữu chéo đường thẳng 3
Hình 1.4: Sở hữu chéo vòng tròn 3
Hình 1.5: Sở hữu chéo mạng lưới 4
Hình 1.6: Sở hữu chéo mạng không gian 4
Hình 1.7: Sở hữu chéo dạng phức tạp 5
Hình 2.1: Cơ cấu sở hữu của NHTMNN 38
Hình 2.2: Sở hữu chéo giữa các NHTM và giữa DNNN và NHTM 40
Hình 2.3: Văn phòng Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu NHTM 41
Hình 2.4: Sở hữu chéo giữa ACB – Eximbank – Sacombank 44
Hình 2.5: Cấu trúc sở hữu của ba NH hợp nhất 46
Hình 3.1: Cơ cấu nhóm cổ đông của ACB, Eximbank và Sacombank 49
Hình 3.2: Cơ cấu sở hữu của Vietinbank 51
Hình 3.3: Sở hữu chéo giữa NHTM và cổ đông lớn, doanh nghiệp 56
Hình 3.4: Sở hữu chéo – Đầu tư chéo của ACB 61
Hình 3.5: Sở hữu chéo giữa NHTMNN và DNNN 66
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hệ thống NHTM Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm trong giai đoạn

ra được một bức tranh toàn cảnh về sở hữu chéo giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng
với các doanh nghiệp cũng như chưa đánh giá được tác động của sở hữu chéo đến sự
lành mạnh của hệ thống NHTM Việt Nam.
Từ những trăn trở muốn tìm hiểu về thực trạng, tác động hai mặt của SHC đến
sự lành mạnh của hệ thống NHTM cũng như nguyên nhân của hiện trạng này, tác giả
đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của sở hữu chéo đến của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu tác động của sở hữu chéo đến hệ thống
NHTM Việt Nam. Từ đó đề xuất các khuyến nghị để giảm tình trạng SHC và hạn chế
tác động tiêu cực của SHC nhằm nâng cao sự lành mạnh của các NHTM Việt Nam. Để
đạt được mục đích này, nghiên cứu cần giải quyết các vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về SHC và tác động của SHC đến hệ thống
NHTM;
- Thứ hai, phân tích thực trạng SHC trong hệ thống NHTM Việt Nam và tác động
của SHC đến hệ thống NHTM Việt Nam;
- Thứ ba, đề xuất các khuyến nghị khả thi nhằm hạn chế SHC và hạn chế các tác
động tiêu cực của SHC đến hệ thống NHTM Việt Nam.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu, phân
tích cấu trúc sở hữu của 5 NHTM Nhà nước và 34 NHTM Cổ phần để đánh giá tác
động của SHC đến sự lành mạnh của các NHTM trong giai đoạn 2006 – 2012. Do hạn
chế về mặt thông tin và số liệu, luận văn sẽ tập trung vào phân tích tình huống của một
số NHTM tiêu biểu. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. SỞ HỮU CHÉO
1.1.1. Khái niệm sở hữu chéo
Sở hữu chéo là một hiện tượng phổ biến ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới
như Nhật Bản, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia và một số quốc gia khác.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, SHC nói chung và SHC trong hệ thống ngân hàng nói riêng trở
thành hiện tượng đáng chú ý trong khoảng từ năm 2006 trở lại đây.
SHC là việc một hoặc một nhóm công ty tham gia sở hữu một hoặc một nhóm
công ty khác thông qua việc nắm giữ các chứng khoán vốn của nhau để có ảnh hưởng
quyết định hoặc khả năng kiểm soát đối với nhau.
SHC không những thể hiện dưới hành động nắm giữ cổ phần của đối tác mà còn
được thể hiện thông qua việc có những ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng
trong hoạt động và quản lý công ty cũng như có khả năng kiểm soát đối với công ty đó.
Như vậy có nghĩa là việc sở hữu còn được hiểu theo nghĩa định tính (mức độ ảnh
hưởng) hơn là định lượng (số lượng cổ phần nắm giữ) như từ trước đến giờ chúng ta
vẫn nhầm tưởng. Đây cũng là một trong những giới hạn trong các quy định của cơ
quan chức năng về việc trình bày và công bố thông tin của các bên liên quan trên báo
cáo tài chính.
Hay có thể hiểu đơn giản, SHC là việc các tổ chức nắm giữ cổ phần lẫn nhau
(Ogishima and Kobayashi, 2002). Chẳng hạn như công ty A đầu tư vào công ty B và
công ty B cũng đầu tư ngược lại vào công ty A. SHC khác với mở rộng sở hữu, là việc
cho phép nhiều đối tượng, nhiều thành phần kinh tế cùng nắm giữ vốn của một đơn vị.
Theo Junning Cai và Jiameng (2008) thì mối liên kết chéo giữa các công ty
thường được đo bằng tỷ lệ “nắm giữ cổ phần chéo” được định nghĩa là giá trị nắm giữ
cổ phiếu của công ty này so với tổng cổ phần của công ty kia. Công thức này giúp xác
2

Công ty B
Công ty A
Công ty B
Công ty C
3

a. Sở hữu chéo giản đơn
Đây là hình thức SHC đơn giản nhất, công ty A mua cổ phần công ty B và
ngược lại, công ty B cũng nắm giữ cổ phần của công ty A (Hình 1.1).
b. Sở hữu chéo đường thẳng
Trong hình thức này, các bên tham gia sở hữu một hoặc nhiều công ty khác dưới
hình thức trực tiếp. Chẳng hạn như công ty B đầu tư trực tiếp vào công ty A và ngược
lại, công ty B lại đầu tư trực tiếp vào công ty C, nhưng A và C không có quan hệ đầu tư
trực tiếp với nhau.
Hình 1.3: Sở hữu chéo đường thẳng Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010
c. Sở hữu chéo vòng tròn
Các mối liên kết sở hữu tạo thành một thành vòng khép kín, trong đó các công
ty sở hữu lẫn nhau. Tuy nhiên, hình thức sở hữu mới chỉ dừng lại ở cấp độ trực tiếp.
Hình 1.4: Sở hữu chéo vòng tròn
và công ty A cũng đầu tư vào các công ty B, C và D. Tuy nhiên, các công ty B, C và D
không có mối quan hệ sở hữu với nhau.
Hình 1.6: Sở hữu chéo mạng không gian
Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010
f. Sở hữu chéo dạng phức tạp
Đây là cấp độ phức tạp nhất trong các hình thức SHC. Các công ty liên quan gắn
kết chặt chẽ với nhau thông qua việc sở hữu lẫn nhau và cùng sở hữu một công ty khác
tạo nên mạng lưới hoạt động kinh doanh rộng lớn đan xen nhiều lĩnh vực khác nhau.

Công ty D
Công ty C
Công ty A
Công ty B
Công ty C
Công ty D
Công ty B
Công ty A
5

Hình 1.7: Sở hữu chéo dạng phức tạp
Không phải tất cả các hình thức SHC đều đáng lo ngại, mà trái lại SHC luôn có
những tác động tích cực nhất định đến sự lành mạnh của hệ thống NHTM và các DN
trong hệ thống SHC.
Thứ nhất, SHC giúp ổn định cơ cấu sở hữu và quản trị trong NHTM.
Sở hữu chéo giữa NH với NH và giữa NH với các DN giúp ổn định cơ cấu sở
hữu trong NHTM và DN với sự cam kết dài hạn của các chủ sở hữu. Việc ổn định cơ
cấu sở hữu giúp ban quản trị điều hành NH yên tâm để thực hiện các chiến lược phát
triển NH, mà không phải lo lắng bởi các bất đồng giữa các nhóm cổ đông trong
NHTM.
Việc góp vốn đầu tư vào NHTM hay DN thường đi kèm với việc cử đại diện
trong hội đồng quản trị (HĐQT), hay ban giám đốc điều hành của NHTM hay DN đó
để có ảnh hưởng đến các quyết định quản trị. Hơn nữa, SHC gia tăng càng làm tăng sự
lồng ghép của cơ cấu quản trị NH này vào NH khác. Với sự tham gia của các lãnh đạo
có uy tín và kinh nghiệm của NH này vào ban điều hành hay ban kiểm soát của các NH
khác, ở một mức độ nhất định, sẽ nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của
NHTM.
Thêm nữa, sự tham gia của các cổ đông chiến lược, mang tính độc lập sẽ giúp
nâng cao hiệu quả quản trị điều hành (corporate governance). Một cơ chế quản trị điều
hành tốt là vô cùng quan trọng để đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh của
NHTM.
Thứ hai, SHC giúp nâng cao tiềm lực về vốn, công nghệ và kinh nghiệm
quản lý của NHTM.
SHC thiết lập mối dây liên kết bền vững giữa các chủ thể sở hữu. Với sự liên kết
giữa các NH thông qua hình thức sở hữu, các NHTM thường nhận được sự hỗ trợ lẫn
nhau về vốn, công nghệ và nhất là kinh nghiệm quản lý, quản trị tài chính, rủi ro. Điều
này đặc biệt quan trọng đối với các NHTM có quy mô nhỏ trong việc tạo nguồn tài trợ

động kinh doanh, mà chủ yếu được đưa vào vốn kinh doanh để tái đầu tư.
Thứ tư, SHC giúp NHTM gia tăng ưu thế trong hoạt động mua bán và sáp
nhập cũng như tránh được sự thâu tóm thù địch từ các thế lực bên ngoài.
8

SHC là công cụ có hiệu quả cao của các NHTM trong việc muốn nắm ưu thế
trên bàn đàm phán và thương lượng của một thương vụ mua bán sáp nhập (Merger &
Acquisition - M&A). Nghiên cứu của Harford và các cộng sự (2008) về cổ đông nắm
giữ cổ phần chéo và tác động đến quyết định thâu tóm đã kết luận rằng sở hữu chéo
gián tiếp giữa các nhà đầu tư tổ chức là phổ biến, nhất là trong các thương vụ mua lại
công ty, và có ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định quản trị.
Bỏ qua những yếu tố khác, giả sử quyền biểu quyết phụ thuộc hoàn toàn vào số
lượng cổ phần nắm giữ thì có thể dễ dàng nhận thấy nhà đầu tư có tỷ lệ nắm giữ cổ
phần cao hơn có quyền biểu quyết lớn hơn và quyết định phụ thuộc nhiều vào ý kiến
của phía nhà đầu tư này. Lợi thế này thúc đẩy quá trình M&A diễn ra nhanh chóng,
hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, việc các NHTM và công ty liên kết với
nhau thông qua cấu trúc SHC còn tăng cường sức mạnh nhằm tránh các nguy cơ bị
thâu tóm thù địch (Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010).
Như vậy, SHC góp phần hình thành cơ cấu sở hữu và quản trị ổn định trong NH
và DN, nhờ đó mà tăng cường sự nhất quán trong chiến lược phát triển. Sự liên kết
giữa các NH và giữa NH với DN giúp nâng cao tiềm lực về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý cho NH, để từ đó cải thiện hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh.
SHC còn là tiền đề, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động M&A trong ngân hàng.
1.2.1.2.Tác động tiêu cực
Bên cạnh các tác động tích cực, SHC đã bộc lộ những tác động tiêu cực đến hệ
thống NHTM, thể hiện ở chỗ (i) thông qua SHC, các quy định về đảm bảo an toàn hoạt
động NH chưa được tuân thủ nghiêm ngặt, (ii) SHC làm suy giảm năng lực quản trị

vay và tính khả thi của phương án vay vốn mà dựa trên mối quan hệ giữa các bên cho
vay và đi vay. Điều này gây rủi ro lớn cho các NH trong việc thu hồi tiền gốc và lãi
đúng hạn, cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng nợ xấu
của NHTM. Hơn nữa, SHC với sự liên kết chặt chẽ giữa các NH và DN sẽ làm tăng
nhanh hơn nữa khả năng truyền dẫn và lây lan của các rủi ro tín dụng, làm ảnh hưởng
đến an toàn hệ thống NH.
10

Ba là, các quy định về giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần thường được đưa ra
nhằm tránh việc tập trung vốn đầu tư quá lớn vào một số đối tượng, cũng như hạn chế
việc đầu tư quá nhiều vào những lĩnh vực rủi ro, có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của
hệ thống NH như bất động sản, chứng khoán. Tuy nhiên, bằng hình thức SHC, thông
qua các công ty con và công ty liên kết, NHTM vẫn có thể tham gia thực hiện đầu tư
vượt ngưỡng an toàn một cách “hợp lý”.
Các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động NH càng thiếu chặt chẽ và thiếu
tính bao phủ thì các chủ thể trong hệ thống SHC càng dễ lợi dụng các khe hở này để
không tuân thủ.
Như vậy, bằng nhiều phương thức và kỹ thuật khác nhau, SHC giúp NHTM vô
hiệu hóa các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động, từ đó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu
về vốn, chất lượng tài sản và tính thanh khoản của NHTM; làm suy giảm mức độ an
toàn và lành mạnh của hệ thống NHTM, tăng nguy cơ đổ vỡ của HTTC khi mà các tác
động tiêu cực tích tụ lại.
Thứ hai, SHC làm suy giảm năng lực quản trị của NHTM.
Trong nhiều trường hợp, SHC thường tích tụ quyền kiểm soát và điều hành vào
thiểu số cổ đông. Các cổ đông này thường liên kết với nhau hình thành bộ máy lãnh
đạo có quyền chi phối đến các hoạt động, quyết định của NH hay DN. Nguy hiểm hơn,
các quyết định này thường vì lợi ích nhóm hơn là vì lợi ích của đa số cổ đông, khiến

động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế mà ngược lại dẫn đến việc phân bổ nguồn lực
không hợp lý và suy giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của Gilo và Spiegel (2003) cho thấy SHC có thể làm giảm
cạnh tranh, bởi vì các công ty có thể tạo ra các điều kiện ngầm thông đồng với nhau,
tạo ra các mối quan hệ liên kết chặt chẽ, giúp tiếp cận các nguồn lực, đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh. Như vậy, SHC làm giảm sự minh bạch, sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các NHTM và DN cũng như giảm động lực phát triển, dẫn đến những bất công, nghịch
lý trên thị trường do mối quan hệ chồng chéo, liên kết chặt chẽ với những thỏa thuận
ngầm.
12

Về mặt hiệu quả thông tin, cổ đông hay nhóm cổ đông lớn và bộ máy quản lý
điều hành chồng chéo giữa các NH và DN làm giảm tính bảo mật của thông tin. Có thể
nói, SHC làm giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các thành viên trong hệ thống SHC,
nhờ đó làm giảm chi phí giao dịch, nhưng ngược lại làm tăng tính bất cân xứng thông
tin giữa các thành viên trong hệ thống SHC với bên ngoài.
Việc thông đồng trao đổi thông tin giữa các NH chiếm lĩnh thị trường có thể dẫn
đến tiêu cực, các giao dịch bất hợp lý và phi thị trường. Nếu ban quản trị NH này nằm
trong ban kiểm soát NH kia hoặc ban lãnh đạo của NH này vừa là chủ sở hữu hoặc ban
lãnh đạo của NH kia thì vấn đề bảo mật thông tin bị vô hiệu hóa. Mặt khác, việc trao
đổi thông tin giữa những NH, công ty hoặc nhóm tổ chức có ảnh hưởng trên thị trường
dễ dàng dẫn đến các hành vi tiêu cực như làm giá trên TTCK, thông đồng che dấu sai
phạm hoặc hợp tác trong những giao dịch bất hợp lý và phi thị trường. Chính những
hành vi này khiến cho hệ thống NH hoạt động thiếu lành mạnh và tiềm ẩn nhiều rủi ro,
sai phạm.
Sở hữu chéo, một khi hình thành và phát triển thành mạng lưới phức tạp trong
khi cơ chế giám sát vẫn còn chưa theo kịp và bộc lộ nhiều hạn chế, sẽ tạo kẽ hở cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status