BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN PHÚ DƯ
ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện.
Luận văn được hoàn thành sau quá trình học tập, nghiên cứu, từ kinh nghiệm của bản
thân và được sự hưởng dẫn của thầy PGS. TS Trần Hoàng Ngân.
Bài viết này có tham khảo từ các văn bản luật, các báo cáo của cơ quan quản lý vĩ mô
về ngân hàng, số liệu do các NHTM công bố, các bài nghiên cứu, các tạp chí….và
1.1.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 6
1.1.2.3 Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: 8
1.1.2.4 Rủi ro của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế 9
1.1.2.5 Rủi ro môi trường pháp lý 9
1.1.2.6 Rủi ro thanh khoản 10
1.1.2.7 Rủi ro về giá 11
1.2 ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG THEO CÁC TIÊU CHUẨN
TRONG HIỆP ƯỚC BASEL 13
1.2.1 Basel I 13
1.2.1.1 Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro 14
1.1.1 Basel II 15
1.1.1.1 Khái niệm“Ba trụ cột” được sử dụng trong Basel II 15
1.1.1.2 Bốn nguyên tắc của công tác rà soát giám sát của Basel II 17
1.1.2 Basel III 17
1.3 BÀI HỌC TỪ KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG TẠI MỸ 20
1.3.1 Cho vay dưới chuẩn và khủng hoảng ngân hàng. 20
1.3.2 Bài học từ cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG CỦA
NHTM VIỆT NAM 24
2.1 ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG THEO CÁC TIÊU CHUẨN CỦA
VIỆT NAM 24
2.1.1 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng Số 47/2010/QH12 ngày 6/6/2010 của Quốc
Hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 25
2.1.1.1 Các trường hợp không cấp tín dụng 26
2.1.1.2 Các trường hợp hạn chế cấp tín dụng 27
2.1.1.3 Quy định về giới hạn cấp tín dụng 28
2.1.2 Quyết Định 493/2005/QĐ-NNNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN . 28
2.1.2.1 Phương pháp trích lập dự phòng rủi ro 29
2.1.2.2 Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể 31
2.3.6 TÍN DỤNG CHIẾM TỶ TRỌNG LỚN TRONG GDP. 57
2.3.7 NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NHTM, KHẢ NĂNG GIÁM SÁT CỦA
CƠ QUAN QUẢN LÝ VĨ MÔ CÒN NHIỀU HẠN CHẾ 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
NHTM VIỆT NAM 62
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NHTM VIỆT NAM 62
3.1.1 Xu hướng mở rộng mạng lưới, quy mô vốn tự có 62
3.1.2 NHNN tăng cường công tác thanh tra giám sát 63
3.1.3 Xu hướng mua bán và sáp nhập ngân hàng 63
3.1.4 Kéo giảm nợ xấu 64
3.2 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC NHTM VIỆT NAM 64
3.2.1 Các giải pháp đối với các NHTM 64
3.2.1.1 Giải pháp kéo giảm nợ xấu 64
3.2.1.2 Các giải pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính ngân hàng 66
3.2.1.3 Tăng cường khả năng quản lý và giám sát 68
3.2.2 Kiến nghị đối với NHNN và Chính phủ 69
3.2.2.1 Kiểm soát vấn đề nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 69
3.2.2.2 Nâng cao chất lượng thanh tra các NHTM 69
3.2.2.3 Chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn 73
3.2.3 Kiến nghị khác 74
3.2.3.1 Phát triển thị trường vốn . 74
3.2.3.2 Sự phối hợp của các bộ ngành 75
LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN CHUNG 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ACB NHTM cổ phần Á Châu
AGRIBANK Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN
BIDV Bank of Investment and Development of Vietnam: Ngân hàng
STB/Sacombank NHTM Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín
SHB NHTM cổ phần Sài Gòn – Hà Nội.
Saigonbank NHTM cổ phần Sài Gòn Công Thương Ngân Hàng.
SBV Ngân hàng nhà nước VN
SCB Ngân hàng TMCP Sài Gòn
TCTD Tổ chức tín dụng.
TCB NHTM cổ phần Kỹ Thương
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TMCP Thương mại cổ phần
TSĐB Tài sản đảm bảo
UBGSTCQG Uỷ Ban giám sát tài chính quốc gia
Vietcombank NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Vietinbank (CTG) NHTM cổ phần Công thương Việt Nam.
VietAbank NHTM cổ phần Việt Á
VIB Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Vinashin Tổng công ty công nghiệp tàu thủy VN
WTO World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới.
Western Bank (WEB) NHTM cổ phần Phương Tây
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ và tốc độ tăng nợ xấu từ năm 2008-2012. Trang 44
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng huy động 2009-2013. 45
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng tín dụng 2009-2013. 45
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng niêm yết (2010-2012). 46
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ CAR một số ngân hàng đến ngày 31/12/2010. 50
Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng tín dụng - CPI - GDP (2007-2012). 58 DANH MỤC BẢNG BIỂU
Việt Nam. Đồng thời là kênh cung ứng vốn để phát triển kinh tế-xã hội, phát triển
cơ sở hạ tầng, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, chất lượng tín dụng trong những năm gần đây có xu hướng suy giảm khi
tỷ lệ nợ xấu chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Đảm bảo an toàn tín dụng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
đang là vấn đề được quan tâm hiện nay của các nhà nghiên cứu kinh tế, các cơ quan
quản lý nhà nước và các nhà quản trị ngân hàng.
2. Mục đích nghiên cứu
Tổng quan các lý thuyết về đảm bảo an toàn tín dụng, đảm bảo an toàn tín
dụng theo tiêu chuẩn Basel và theo tiêu chuẩn của chính phủ và NHNN Việt Nam.
Phân tích và đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn tín dụng của hệ thống NHTM
2
Việt Nam trên cơ sở áp dụng các tiêu chuẩn về đảm bảo an toàn tín dụng. Phân tích
nguyên nhân của các thực trạng đó. Đưa ra giải pháp, kiến nghị để hệ thống NHTM
phát triển an toàn và bền vững. Nghiên cứu này phục vụ cho các nhà quản trị
NHTM, các cơ quan quản lý vĩ mô như NHNN và Chính phủ, các nhà nghiên cứu,
học viên, sinh viên ngành tài chính, ngân hàng…
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề đảm bảo an toàn tín dụng
trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Xem xét các nguyên nhân gây mất
an toàn tín dụng và đề xuất giải pháp để NHTM phát triển ổn định trên cơ sở an
toàn tín dụng. Phạm vi nghiên cứu là hệ thống NHTM Việt Nam (NHTM nhà nước
và NHTM cổ phần, không bao gồm ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn
nước ngoài, công ty tài chính…), trong bối cảnh từ khi hệ thống NHTM Việt Nam
chịu tác động của cuộc khủng khoảng tài chính tại Mỹ và suy giảm kinh tế toàn cầu
cho đến thời điểm nghiên cứu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi sử dụng phương pháp thống kê
mô tả dữ liệu lịch sử, phân tích đánh giá để đưa ra các lý luận nhằm xác định bản
nợ quá 10 ngày thì khoản nợ thành quá hạn, phân loại nợ nhóm 2 hoặc cao hơn,
ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro, phát sinh các chi phí để xử lý khoản vay
như chi phí giám sát, khởi kiện, … khách hàng không trả được nợ nên nguồn vốn
đóng băng, khan hiếm nguồn tiền giải ngân mới, lợi nhuận giảm do không thu được
lãi. Tình huống xấu nhất, khi xử lý tài sản không thu đủ nợ thì ngân hàng bị lỗ vốn,
số tiền lỗ vốn lớn gây thua lỗ cho cả ngân hàng, khách hàng gửi tiền mất niềm tin
sẽ rút vốn ồ ạt . Ngân hàng chi trả không kịp thời sẽ gây mất thanh khoản và sẽ dễ
dẫn đến phá sản.
4
Vì vậy có thể nói, nếu rủi ro tín dụng không được ngân hàng kiểm soát tốt sẽ
dẫn đến mất an toàn tín dụng, gây rủi ro hệ thống, có thể dẫn đến phá sản một ngân
hàng, ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế
Rủi ro tín dụng chia thành một vài thành phần như : (1) rủi ro vỡ nợ, (2) rủi
ro giảm uy tín, (3) rủi ro nguy cơ tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản
tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết, (4) thua lỗ do vỡ nợ (LGD)
thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của
bên thứ ba, (5) rủi ro đối tác là một hình thức của rủi ro tín dụng cụ thể xuất phát từ
phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác.
Rủi ro vỡ nợ là khi người đi vay không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ.
Vỡ nợ gây ra thua lỗ một phần hoặc toàn phần đối với khoản tiền được cho vay. Có
nhiều sự kiện vỡ nợ như chậm trể trong nghĩa vụ trả nợ, tái cấu trúc nghĩa vụ trả nợ
do sụt giảm uy tín tín dụng đáng kể của người đi vay, phá sản. Chậm trể trả nợ
không giống như vỡ nợ đơn thuần tức là khả năng không thể đáp ứng nghĩa vụ trả
nợ. Sư chậm trể này có thể được giải quyết trong thời gian ngắn. Tái cấu trúc nếu
bắt nguồn từ sự mất khả năng trả nợ trừ khi cấu trúc nợ thay đổi, giống với vỡ nợ.
Vỡ nợ đơn thuần có nghĩa là không trả nợ vĩnh viễn. Phá sản, thanh lý công ty hay
thâu tóm một công ty khó khăn là những kết quả có thể xảy ra. Chúng gây ra những
thua lỗ đáng kể.
Rủi ro nguy cơ là độ lớn của lượng tiền có thể gặp rủi ro. Đối với một khoản
bộ tín dụng lơ là tạo điều kiện cho số vốn sử dụng sai mục đích ngày càng nhiều.
Đến khi khách hàng không còn khả năng chi trả thì ngân hàng mới biết khách hàng
sử dụng vốn không đúng mục đích ban đầu báo cáo với ngân hàng.
Khả năng quản lý kinh doanh kém: Đây là nguyên nhân xuất phát từ trình độ
kinh nghiệm của người đi vay. Người có trình độ thấp và kinh nghiệm ít thường
kinh doanh kém hiệu quả hơn người có trình độ và nhiều năm kinh nghiệm trong
nghề. Khi kinh nghiệm quản lý đạt trình độ cao, họ thường xử lý công việc dễ
dàng, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở
rộng quy mô kinh doanh, thì tư duy quản lý, bộ máy tổ chức cũng phải thay đổi.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không làm được điều này nên dẫn đến quá sức và
gặp rủi ro hoạt động, ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay.
6
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: chuẩn mực kế
toán nước ta phải chưa theo kịp các nước phát triển. Các doanh nghiệp nước ta đa
phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể. Nên các báo cáo tài chính
thường không có hoặc có báo cáo tài chính nhưng độ chính xác không cao. Các báo
cáo tài chính doanh nghiệp tự lập và thường không được kiểm toán. Có có trường
hợp doanh nghiệp đang thua lỗ nhưng trên báo cáo tài chính doanh nghiệp vẫn đang
có lời. Trong trường hợp này doanh nghiệp thường bị quá hạn sau vài tháng cấp tín
dụng nếu như cán bộ tín dụng không thẩm định thực tế tình hình kinh doanh của
khách hàng.
1.1.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Trước hết phải nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng
nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho
vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay,
danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn… Nguyên nhân gây ra rủi ro
tín dụng từ phía ngân hàng có thể được khái quát cơ bản dưới đây:
Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân
tích và đánh giá khách hàng,… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án
thị trường trong nước cũng như những tác động của nền kinh tế thế giới. Ban quản
trị của nhiều ngân hàng còn mang nặng “bệnh thành tích” chạy đua theo lợi nhuận
bất chấp những rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải, đó là một thực tế đáng lo ngại
mà phải nhanh chóng khắc phục. Một số cán bộ hoạt động trong lĩnh vực ngân
hàng có tư chất ngày càng tha hóa, họ vì những lợi ích cá nhân họ mà bỏ qua những
nguyên tắc, quy định trong các nghiệp vụ ngân hàng. Trên thực tế đã có xảy ra một
số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có
sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay,
hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân
hàng. Đây là một hành động cực kỳ nguy hiểm làm cho rủi ro tín dụng tăng cao dẫn
đến rủi ro thanh khoản tăng cao ảnh hưởng đến uy tín hoạt động của ngân hàng.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn
chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một
cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm
khi được bố trí trong công tác tín dụng. Bên cạnh đó thì trình độ chuyên môn của
8
lực lượng đội ngũ cán bộ, chuyên viên ngân hàng còn yếu nên cần được đào tạo
nhiều hơn nữa về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành
ngân hàng.
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn
thanh tra NHNN tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh
vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện
thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Thế nhưng thực tế trong thời gian
qua, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức.
Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe
càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới
tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực
trên con đường đi tới.
1.1.2.3 Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
1.1.2.5 Rủi ro môi trường pháp lý
Một trong những yếu kém đáng chú ý nhất của hệ thống ngân hàng thương
mại ở Việt Nam là sự tăng trưởng một cách không cân đối trong nhiều năm. Sự mất
cân đối này cần được nhìn nhận cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. Sự tăng
trưởng nhanh về quy mô và vốn trong khi các thiết chế quản lý chưa theo kịp là các
vấn đề nội tại của khu vực này.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính
phủ, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn
bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng
thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn
bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: trong
những hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo
nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ
chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng
cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc
việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng
nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ
tồn đọng, tài sản tồn đọng.
10
1.1.2.6 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền, rủi ro thanh
khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản chính thành tiền một cách nhanh
chóng mà không chịu thất thoát về giá cả. Hay nói một cách khác rủi ro thanh
khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn
thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt. Sự mất cân
đối giữa tài sản nợ (Tài sản nợ của ngân hàng gồm: nguồn vốn huy động được, vốn
vay từ các tổ chức tín dụng khác) và tài sản có (Tài sản có của ngân hàng gồm: tiền
1.1.2.7 Rủi ro về giá
Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay
đổi của lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn,
quy mô và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn…Các nguyên nhân chính của rủi ro lãi suất
bao gồm: sự không cân xứng về kì hạn giữa tài sản nợ và tài sản có; ngân hàng sử
dụng các mức lãi suất khác nhau trong hoạt động huy động vốn và cho vay (Một ví
dụ đơn giản như trường hợp ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định nhưng
cho vay, đầu tư với lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì
chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được, làm giảm lợi nhuận; Ngược lại, khi ngân
hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi nhưng cho vay, đầu tư với lãi suất cố định.
Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu
được); Do có sự không phù hợp về khối lượng, thời hạn giữa nguồn vốn huy động
với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay; Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù
hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế làm cho lãi suất thị trường thay đổi khác với dự kiến
của ngân hàng khiến vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay;
Ngoài ra, khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá
trị tài sản. Khi rủi ro lãi suất xuất hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân
hàng; giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng; làm giảm giá trị thị trường của tài
sản có và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Chúng ta có thể đánh giá rủi ro lãi suất
thông qua các chỉ số sau:
Hệ số chênh lệch lãi thuần (còn gọi là hệ số thu nhập lãi ròng cận biên NIM – Net
Interest Margin).
Hệ số rủi ro lãi suất (R) – Khe hở nhạy cảm lãi suất (Interest rate sensitive gap).
12
Khe hở kỳ hạn (Duration gap): Theo kinh nghiệm của các nước, để kiểm soát rủi ro
lãi suất, các ngân hàng thực hiện các biện pháp: Mua bảo hiểm rủi ro lãi suất để
chuyển giao toàn bộ rủi ro lãi suất cho cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp; Áp dụng
các biện pháp cho vay thương mại (cho vay ngắn hạn) để ngân hàng có thể linh
động thay đổi lãi suất cho vay khi lãi suất thị trường thay đổi theo chiều hướng
giao quyền sở hữu về ngoại tệ, từ đó, làm phát sinh trạng thái ngoại tệ trường hoặc
đoản. Một NHTM duy trì trạng thái ngoại tệ trường sẽ gặp rủi ro hối đoái nếu như
ngoại tệ giảm giá; và ngược lại, họ sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ tăng giá trong trường
hợp NHTM đó duy trì trạng thái ngoại tệ đoản. Điều đó có nghĩa là khả năng rủi ro
hối đoái sẽ xảy ra nếu như NHTM đó duy trì trạng thái ngoại tệ mở và tỷ giá trên
thị trường biến động. Việc giới hạn trạng thái ngoại tệ như vậy chủ yếu là giúp các
ngân hàng phòng tránh rủi ro tỷ giá đặc biệt là các ngân hàng có tư tưởng kinh
doanh mạo hiểm, hạn chế các ngân hàng này có trạng thái ngoại tệ mở quá lớn so
với vốn tự có. Bởi khi rủi ro tỷ giá thực sự phát sinh, các ngân hàng phải đối mặt
với nguy cơ mất vốn và nếu để trạng thái ngoại tệ mở quá cao thì ngân hàng sẽ chịu
nhiều thua lỗ, giảm năng lực tài chính. Thực tế cho thấy, các NHTM thường duy trì
trạng thái ngoại tệ đoản và hậu quả là phải đối mặt với rủi ro tỷ giá khi tỷ giá tăng.
1.2 ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG THEO CÁC TIÊU CHUẨN TRONG
HIỆP ƢỚC BASEL
1.2.2 Basel I
Uỷ Ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi một
nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10)
tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các
ngân hàng vào thập kỷ 80. Năm 1988, Uỷ ban Basel đã giới thiệu hệ thống đo
lường vốn mà thường được đề cập là Hiệp ước Basel I. Thành tựu cơ bản của Basel
I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng
và một tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng.
1.2.2.1 Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro
Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải có tỷ lệ vốn tính trên tổng tài sản có điều
chỉnh rủi ro phải trên 8% thì mới đạt mức an toàn. 14