LUẬN VĂN:
Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bến Tre hiện
nay MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp hiện đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình
phát triển của đất nước. Để có một nền nông nghiệp phát triển cao, hiệu quả, bền vững,
đủ sức hội nhập với thế giới, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm
từng vùng, từng địa phương, bảo đảm phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, sản
Việc đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung,
nông nghiệp nói riêng là đề tài đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài
nước tập trung nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể một số tên đề tài, bài viết
có liên quan như:
- GS, TS Đặng Hữu: Khoa học và công nghệ với sự phát triển kinh tế - xã hội,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989.
- PTS Danh Sơn (chủ biên): Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với
phát triển kinh tế - xã hội trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1999.
- TS Phan Xuân Dũng: Khoa học, công nghệ cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản, số 11, 6/ 1999.
- GS, Chu Tuấn Nhạ: Tác động của khoa học, công nghệ đến chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Khoa học xã hội, số 3/2000.
- Nguyễn Đức Lợi: Vận dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong phát triển nông
nghiệp nước ta, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2000.
- Ngô Anh Thư: Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp ở tỉnh Bình Định. Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003.
- Cao Quang Xứng: Tiến bộ khoa học, công nghệ và tiến trình hình thành kinh tế
tri thức ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2003. - Nguyễn Thị Vân: Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào phát triển nông
nghiệp tỉnh Đồng Tháp, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2008.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết, bài tổng kết, của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn được truy cập từ mạng Internet.
Những đề tài nghiên cứu khoa học, bài viết nêu trên chủ yếu xoay quanh vấn đề
+ Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản
xuất nông nghiệp tỉnh Bến Tre , đưa tiến bộ KH, CN vào lĩnh vực sản xuất cây trồng và vật nuôi
trên địa bàn tỉnh Bến Tre hiện nay.
+ Về thời gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá những
ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi ở tỉnh Bến Tre từ
năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Xuất phát từ cơ sở lý luận của các nhà kinh điển, nhà khoa học
trong và ngoài nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nghiên cứu,
đầu tư cho KH, CN vào phát triển nông nghiệp. Luận văn có sự kế thừa những thành tựu
đạt được trong việc đưa KH, CN vào sản xuất nông nghiệp ở nước ta.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu trừu
tượng hoá khoa học, cùng với các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh…để chứng minh và rút ra kết luận khoa học cho luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ những khó khăn trong việc chuyển giao KH, CN và
ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bến Tre.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đầu tư nghiên cứu,
phát triển, ứng dụng KH, CN có hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
- Nâng cao nhận thức, góp phần đẩy nhanh việc nghiên cứu, ứng dụng
tiến bộ KH, CN vào quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở Bến Tre, cho bản thân
tác giả và đội ngũ giảng viên Trường Chính trị tỉnh Bến Tre trong nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
thức tích cực đã được hệ thống hoá.
Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 “ Khoa học là hệ thống tri thức về các
hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” [28, tr.8].
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ thống
tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những
quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh thần của con
người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [56, tr.526]. Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (Science) là hệ thống tri thức gồm
những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên
cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang
tính quy luật. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên,
phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.
Bên cạnh đó, cũng có những quan niệm nhấn mạnh về mặt cơ cấu – chức năng của
khoa học, xem xét nó như là một hình thái ý thức xã hội. Có quan niệm khác chú trọng
tới những yếu tố sản xuất của nó, chẳng hạn: Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu nhằm
mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong đó bao gồm
tất cả những yếu tố của sự sản xuất: các nhà khoa học, năng lực, trình độ, kinh nghiệm
của họ; sự phân công và hợp tác lao động khoa học; những cơ quan khoa học; những
trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học; những phương pháp nghiên cứu
khoa học; hệ thống các khái niệm, phạm trù, hệ thống thông tin khoa học cũng như toàn
bộ những tri thức hiện có với tư cách là tiền đề hoặc kết quả của lao động khoa học.
Như vậy, về thực chất khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống xã
hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng và thuộc tính vốn tồn tại một
cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện
thực. Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn, cả bề rộng lẫn bề sâu. Xã hội loài người
càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng
chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn. Hiện nay phổ biến có ba cách phân loại cơ bản:
kiến thức của con người về sản xuất như thế nào?). Như vậy, công nghệ có thể thay đổi khi
kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Công nghệ là
việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý
một cách có hệ thống và có phương pháp” [26, tr.43]. Định nghĩa này chỉ xét ở một khía cạnh
nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu quả (như trong lĩnh vực công
nghiệp mà thôi). Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa ra
định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến
vật liệu và thông tin”. Sau đó định nghĩa được mở rộng, “nó bao gồm tất cả các kỹ năng,
kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin”[26,
tr.43]. Định nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý
thông tin và đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ.
Theo khoa học luận: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng,
bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Đây là
khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ.
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là tổng
thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng
vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ [56, tr.270].
Nhìn chung các quan niệm đều đi vào làm rõ công nghệ là môn khoa học ứng
dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học bao gồm các
phương tiện kỹ thuật, công cụ, kỹ năng, bí quyết, phương pháp… sử dụng trong quá trình
sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người.
Ngày nay, công nghệ về mặt nội dung gồm bốn bộ phận hợp thành được gọi là bốn
thành phần công nghệ:
Một là, phần kỹ thuật là phần công nghệ được hàm chứa ở trong các phương tiện
kỹ thuật; bao gồm: các công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng
khác. Trong công nghệ, các thành phần này thường làm thành dây chuyền để thực hiện
Hầu hết các bước ngoặt trong lịch sử kinh tế thế giới đều gắn với các phát minh
khoa học và sáng chế công nghệ. Chúng là những yếu tố chủ yếu, động lực mạnh mẽ nhất
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Mặt dù cả hai đều có điểm chung về mục đích và
hoạt động dựa trên cơ sở phát triển trí tuệ của con người, nhưng giữa chúng có những khác
biệt quan trọng cần chú ý:
Một là, xét về chức năng thì nhiệm vụ của khoa học là tìm ra các quy luật của tự
nhiên, xã hội và tư duy, còn công nghệ lại là việc ứng dụng các nguyên lý, quy luật mà khoa học đã tìm ra vào sản xuất và đời sống. Như vậy, khoa học là hình thức tồn tại của
lý luận, còn công nghệ là hình thức tồn tại của thức tiễn và đời sống.
Hai là, khoa học tập trung giải quyết câu hỏi “tại sao?” tức là nhằm lý giải tìm ra
nguyên nhân; còn công nghệ liên quan đến câu hỏi “làm như thế nào?” nghĩa là tìm ra bí
quyết để áp dụng.
Ba là, nếu các tri thức khoa học có thể phổ biến không hạn chế, thì công nghệ lại
là một thứ hàng hoá dùng để mua bán gắn với các yếu tố sở hữu và giá cả.
Bốn là, thường các hoạt động khoa học được đánh giá bằng các thước đo trực cảm,
trong khi đó thước đo đối với công nghệ lại là phần đóng góp cụ thể đối với việc giải
quyết các mục tiêu kinh tế – xã hội.
Năm là, các hoạt động khoa học thường đòi hỏi phải có một thời gian giải quyết
dài hơn và yếu tố bất định luôn là đặc trưng của hoạt động này. Ngược lại, đối với các
hoạt động công nghệ thời gian giải quyết thường ngắn hơn. Mặc dù, giữa khoa học, công
nghệ có điểm khác nhau như vậy, nhưng cả hai đều thống nhất, tồn tại trong mối quan hệ
tác động qua lại như sau:
Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng triển khai công nghệ
mới vào sản xuất và đời sống.
Công nghệ kích thích sự phát triển của khoa học và cung cấp các phương tiện,
công cụ cho nghiên cứu khoa học.
Lịch sử phát triển của khoa học, công nghệ cho thấy ở thời kỳ đầu phát triển, nhờ
hoạt động thực tiễn, con người đã dần tích lũy được những kinh nghiệm nhất định. Việc
mới, công nghệ tin học… Nó đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tần suất phát
minh mới và thời gian ứng dụng vào sản xuất ngày càng ngắn, phạm vi ứng dụng ngày
càng mở rộng, mang tính liên ngành, thậm chí liên quốc gia đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường (KTTT), xu hướng hội nhập kinh tế quốc
tế, làm cho sản phẩm hàng hoá tạo ra từng bước đáp ứng được yêu cầu trong và ngoài
nước. Từ đó, đặt ra cho chúng ta phải làm sao kích thích sự phát triển của lực lượng sản
xuất, ứng dụng những tiến bộ của KH, CN vào sản xuất và đời sống có hiệu quả và ngày
càng phát triển. Tiến bộ KH, CN là một động lực, một yếu tố có tính chất quyết định đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội, làm cho lực lượng sản xuất ngày càng hoàn thiện, trình độ của người lao động ngày càng thành thạo, năng suất lao động xã hội ngày càng tăng
lên trong điều kiện xã hội ngày càng thuận lợi; của cải xã hội ngày càng dồi dào và phúc
lợi xã hội ngày càng được thực hiện tốt hơn.
1.1.2. Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất
1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau về ứng dụng khoa học, công nghệ
Sự phong phú và đa dạng của sản xuất nông nghịêp với những đặc điểm riêng của
nó làm cho việc ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản xuất nông nghiệp cũng rất đa dạng và
phong phú. Đứng trên các giác độ khác nhau có thể xét dưới những góc độ khác nhau
như:
- Xét dưới góc độ là một quan hệ kinh tế, người ta phân chia thành từng loại sau
đây:
+ Ứng dụng tiến bộ KH, CN về công cụ sản xuất là việc đưa vào sản xuất những
công cụ sản xuất mới có tác dụng giảm nhẹ cường độ lao động, tăng năng suất lao động,
nâng cao chất lượng công việc, cải tạo đất…
+ Ứng dụng tiến bộ KH, CN theo ngành. Tức là đưa tiến bộ
KH, CN vào các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và
theo chi tiết từng ngành, từng sản phẩm trong nông nghiệp. Chẳng hạn như đưa tiến bộ
KH, CN vào sản xuất lúa gạo, cây ăn trái, chăn nuôi bò, lợn, tôm, cá…
Việc phân loại này vừa mang tính khái quát giúp chúng ta có những định hướng và
nội dung khác nhau. Song, chúng đều có những bộ phận hợp thành như nhau trên cơ sở
thỏa mãn các yêu cầu sau:
Thứ nhất, tính khoa học và mới mẻ của tiến bộ KH, CN. Sự thừa nhận về giá trị
khoa học của công trình được công bố là thành công đạt được trong nghiên cứu, còn giá
trị thực tiễn của tiến bộ KH, CN được thể hiện qua việc so sánh với những công nghệ sản
xuất đã có trước đó. Chẳng hạn ưu thế cho năng suất cao của giống lúa lai, tính khoa học
và hiệu quả của phương pháp bón phân hợp lý, tính triệt để của một loại thuốc trừ sâu,
thuốc diệt cỏ…
Thứ hai, những tiêu chuẩn cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật của một tiến bộ KH, CN.
Chẳng hạn: thời gian sinh trưởng của một giống lúa mới, trọng lượng hay kích thước hạt
lúa, thành phần dinh dưỡng trong tiêu chuẩn thức ăn của bò sữa… Vấn đề này rất cần thiết cho các nhà nghiên cứu cũng như người ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản xuất.
Những tiêu chuẩn đó là những thành phần cụ thể của một tiến bộ KH, CN.
Thứ ba, cơ chế vận hành hay phương thức kết hợp các yếu tố vật chất của tiến bộ
KH, CN. Yêu cầu này đặc biệt cần thiết cho người ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản
xuất vì nó chứa đựng những chỉ dẫn cụ thể về quy tắc hành động.
Thứ tư, những hạn chế của nó về mặt kỹ thuật và phạm vi ứng dụng. Ở đây chúng
ta sẽ thấy được mức độ của sự tiến bộ, tức là mức độ thoả mãn về kỹ thuật của quá trình
sản xuất. Có những điều mà ở những thời điểm nhất định, tiến bộ KH, CN chưa đạt được
mong đợi của người sản xuất. Đó cũng là những hạn chế đòi hỏi sự xuất hiện liên tiếp của
những tiến bộ KH, CN mới.
1.1.2.2. Các mô hình về ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất
Trong chặng đường phát triển của nền kinh tế đất nước, những tiến bộ về KH, CN
đã tác động rất lớn đối với quá trình CNH, HĐH. Ứng dụng tiến bộ KH, CN góp phần
nâng cao chất lượng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tăng nhanh sức cạnh tranh trên
thị trường, đồng thời rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học giữa Việt Nam với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Thể hiện rõ nét nhất ở lĩnh vực công nghiệp và nông
nghịêp.
lượng mới, năng lượng tái tạo, các công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm, công nghệ
chế tạo thiết bị cơ khí năng lượng như: tổ hợp thiết bị thuỷ điện, hệ thống truyền dẫn
điện, thiết bị điện cao áp, năng lượng truyền thống có hiệu quả. Nghiên cứu ứng dụng
năng lượng bức xạ và các vấn đề phục vụ xây dựng, quản lý và vận hành an toàn nhà máy
điện hạt nhân.
Các nhà khoa học đã lựa chọn và sử dụng năng lượng gió để nén khí nhằm lưu trữ
các thùng chứa hoặc hầm chứa dưới lòng đất, sau đó sử dụng khí để chạy máy phát điện.
Năng lượng này sẽ cung cấp điện cho các động cơ nén không khí xuống tầng hầm ngập
nước tự nhiên ở độ sâu 610m. Ngày nay, các nhà nghiên cứu vừa phát triển một nhà máy
biogas hoạt động chỉ dựa vào rác thải thay vì dựa vào nguyên liệu thô từ lương thực,
mang lại một phương pháp mới chuyển rác thải thành nguyên liệu có giá trị. Nhà máy
này sản xụất được nhiều hơn 30% khí biogas so với nhiều nhà máy truyền thống khác. Ngoài ra, đã có đề tài nghiên cứu “ Triển khai ứng dụng thiết bị năng lượng mặt trời tại
các hộ gia đình vùng nông thôn, miền núi thành phố Đà Nẵng” do PGS-TS Hoàng Dương
Hùng thực hiện tại “làng năng lượng mặt trời” Bình kỳ 2 được Hội đồng khoa học Thành
phố Đà Nẵng nghiệm thu tháng 12-2008. Nguồn năng lượng này đã giúp người dân được
giải quyết vấn đề chất đốt và có ý thức bảo vệ môi trường.
Năng lượng địa nhiệt là năng lượng triển vọng thay thế cho sản xuất điện từ than đá
và dầu mỏ. Một dự án thử nghiệm các kỹ thuật khoan và địa chấn tiên tiến ở Kenya. Đây là
dự án nhằm đấu tranh chống lại biến đổi khí hậu, đồng thời nhằm khai thác nguồn năng
lượng địa nhiệt từ các tầng đá dưới lòng đất, giảm được chi phí sản xuất điện, cung cấp điện
giá rẻ cho người tiêu dùng…
Bốn là: Công nghệ bảo quản và chế biến nông sản, thực phẩm: Nghiên cứu ứng
dụng các công nghệ sơ chế quy mô nhỏ và vừa, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công
nghệ chế biến tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng , giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của
nông sản, thực phẩm, đặc biệt là một số sản phẩm có lợi thế và triển vọng xuất khẩu như:
gạo, cà phê, chè, điều, cao su, thuỷ sản, các sản phẩm thịt, rau, hoa, quả, dầu thực vật.
Năm là: Công nghệ vũ trụ: Công nghệ vũ trụ bao gồm việc nghiên cứu và chế tạo
thể so sánh nổi. Kỹ thuật sản xuất giống trong phòng thí nhiệm còn là biện pháp hữu hiệu
để xây dựng những chương trình chọn lọc tối ưu. Kỹ thuật nuôi cấy mô còn cho phép với
một quy trình dài có được những sản phẩm có tính di truyền hoàn hảo như nhau và như
thế có thể sử dụng như “bố mẹ lai” và cũng dùng để tạo ra những dòng mới.
Hai là, kỹ thuật sinh học phân tử: Đây là mô hình có phạm vi ứng dụng rộng rãi,
cho phép chúng ta phát hiện những độc hại trong quá trình sản xuất, trong thức ăn hay
trong hệ sinh thái (trong đất, các nôi vi sinh…). Kỹ thuật sinh học phân tử còn giúp cho
việc chọn lọc các giai đoạn rất sớm từ phôi hay mầm non của những cá thể mang những
đặc tính có lợi như giới tính, sức sống chịu bệnh, sức kháng trong những điều kiện đặc
biệt. Chẳng hạn như phôi của bê 6 ngày tuổi đã xác định được là bê đực hay bê cái. Điều
này có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp.
Những “ống thăm dò phân tử” cũng được dùng để xác định cấu trúc của các tổ
chức, các bộ phận cho phép tách rời được AND đặc thù của một bộ phận hay một tính
năng cụ thể, đánh giá được chính xác chất lượng tinh dịch và sự phát triển của phôi. Với kỹ thuật sinh học phân tử người ta đã sản xuất ra chất kháng thể monoclinaux có tác dụng
rất đa dạng trong việc chẩn đón. Vì vậy, ứng dụng đặc biệt nổi bậc của sinh học phân tử
được thực hiện trong lĩnh vực chẩn đón (bệnh dịch cây trồng và gia súc) và trong chọn
giống.
Ba là, kỹ thuật di truyền: Cho đến nay, cách mạng chính về CNSH là kỹ thuật di
truyền (hay kỹ thuật tái tổ hợp gen). Giờ đây người ta có thể thực hiện đưa 1 gen lạ vào
bất cứ bộ phận nào chỉ cần kiểm tra “sự đồng ý” của tế bào tiếp nhận gen mới. Thành
công này có ý nghĩa đặc biệt lớn lao bởi nó cho phép tách rời quy trình sinh học phức tạp
thành những phần đơn giản, từ đó dễ dàng xác định được nhiệm vụ và kiểu hoạt động của
từng gen, cho phép xác định được mối tương quan giữa cấu trúc với nhiệm vụ của những
phân tử.
Kỹ thuật di truyền đã mở ra những triển vọng, viễn cảnh mới về lý thuyết là không
có giới hạn: con người có thể thiết kế và chế tạo ra những vi sinh vật, những tế bào mà
trước đây chưa hề có. Những vi sinh vật nhân tạo này có thể tổng hợp ra ở quy mô công
đặc tính tốt được chọn lọc, tạo ra được trứng thụ tinh có nhân mới. Đến đây có thể đưa
trở lại trứng này vào tử cung của con bò bình thường để cho nó mang thai và đẻ ra bê con
có những đặc tính như các chuyên gia tạo giống mong muốn.
Bốn là, công nghệ tế bào và phôi: Hiện nay chúng ta đã làm chủ và tạo công nghệ
nhân in vitro cho nhiều loại cây trồng nông, lâm nghiệp. Hoàn chỉnh được quy trình công
nghệ nuôi cấy bao phấn lúa, ngô phục vụ công tác tạo giống. Kỹ thuật cứu phôi cũng
được áp dụng đối với một số loài mà hạt có sức sống kém hoặc khi tiến hành lai xa. Các
nhà khoa học cũng đã hoàn thiện quy trình tái sinh cây có múi bằng phôi vô tính kết hợp
với công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng để nhân nhanh và tạo giống cam, quýt sạch bệnh.
Trong lâm nghiệp, đã nghiên cứu thành công phương pháp vi nhân giống bằng nuôi cấy
mô phân sinh kết hợp với công nghệ nhân hom ở quy mô lớn cho một số loài cây lấy gỗ
(bạch đàn, keo, bông, lát hoa). Trong chăn nuôi, công nghệ cấy truyền phôi được áp dụng
để tạo đàn bò giống hạt nhân và bò lai hướng sữa. Các nghiên cứu về cắt phôi, thụ tinh
trong ống nghiệm cũng đã đạt được kết quả ban đầu. Năm là, Công nghệ vi sinh vật: Đã nghiên cứu hoàn thiện một số công nghệ sản
xuất phân vi sinh vật, thức ăn bổ sung cho gia cầm, chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật và bả
diệt chuột sinh học; ứng dụng thành công công nghệ biogas để xử lý chất thải hữu cơ…
Sử dụng vi sinh vật để làm phân bón (phân vi sinh vật cố định Nitơ tự do hoặc hội sinh;
phân vi sinh vật phân giải phót phát khó tan từ vi khuẩn hoặc nấm mốc để dùng xạ
khuẩn) cho cây lâm nghiệp. Công nghệ sản xuất chế phẩm bả diệt chuột sinh học trên cơ
sở vi khuẩn gây bệnh chuyên tính Salmonella enteriditis lsachenco có hiệu lực phòng trừ
chuột 80 - 90% cũng đã được ứng dụng trong sản xuất. Nhiều kết quả nghiên cứu sử
dụng nấm có ích diệt côn trùng đã đạt được kết quả tốt như metarhizium flovoviridae trừ
mối, châu chấu hại mía (hiệu quả phòng trừ đạt 76%)… [8, tr.4].
Chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học được ứng dụng rộng rãi như NPV, V-Bt
để trừ sâu khoang, sâu xanh hại rau, màu, bông, đay, thuốc lá; chế phẩm vi khuẩn huỳnh
quang (Pseudomonas fluorescens) phòng trừ bệnh hại rễ cà phê, vải thiều, lạc.
Trong lĩnh vực xử lý môi trường: đã ứng dụng thành công công nghệ biogas để
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nguồn tài nguyên phong
phú về đa dạng sinh học đảm bảo cung cấp các nguồn nguyên liệu cần thiết cho sự phát
triển CNSH. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trường ngày càng nghiêm
trọng, đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng tiến bộ KH, CN vào sản xuất nông
nghiệp là nguy cơ to lớn đối với sự phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp và kinh
tế nông thôn. Do đó, nó tác động mang tính hai mặt đến sản xuất cây trồng và vật nuôi ở
nước ta. Cụ thể là:
Đối với cây trồng
Đã tạo ra những nguồn gen phong phú và quý hiếm cho chọn, lai tạo giống và
phát triển kỹ thuật di truyền. Cung cấp nguồn nguyên liệu đa dạng, dồi dào cho quá trình
ứng dụng CNSH như công nghệ lên men, công nghệ enzym, công nghệ chiết rút các loại
hoạt chất sinh học…Ngoài ra, nguồn bức xạ mặt trời và sự phân bố đều trong năm đã tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thực vật, như việc ứng dụng nuôi cấy mô và tế bào
trong lai tạo, chọn giống cây trồng, rút ngắn thời gian sản xuất giống, thu hoạt chất tạo
nên một nền nông nghiệp với 3 - 4 vụ trồng trọt năng suất cao sẽ là nguồn cung cấp
nguyên liệu phong phú như tinh bột, đường, sinh khối cho sự phát triển CNSH. Sự thuận lợi của tài nguyên, khí hậu, bức xạ ánh sáng…, đã tạo ra tính đa dạng của hệ sinh thái, tức
là tập hợp các quần thể khác nhau cùng chung sống trong một vùng sinh thái nhất định nào
đó. Các cơ thể sinh vật và điều kiện môi trường trong đó sinh vật tồn tại và phát triển, tương
tác qua lại tạo nên một hệ thống cân bằng động rất đa dạng giúp cho cây trồng sinh trưởng
nhanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế thì nguồn tài nguyên và khí hậu nhiệt đới gió
mùa cũng gây không ít khó khăn như là, thoái hoá rễ, úng hom, thoái hoá men, giảm
lượng tinh bột, giảm lượng đường và sinh khối…cho sự phát triển CNSH, nhất là đối với
công nghệ vi sinh, từ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cây giống cung cấp cho sản xuất
nông nghiệp, hạn chế đến quá trình sinh trưởng của cây trồng.
Đối với vật nuôi
Sự đa dạng về điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, sinh vật… và những điều kiện khác
của quần thể sinh vật, thích ứng với kiểu gen cho hệ sinh thái thực vật ở đó. Hiện nay,
những trang trại cây trồng, trong đó người ta phát triển nhiều loại cây khác nhau, nhưng
đều dựa trên sự thích nghi của các kiểu gen với khí hậu và thổ nhưỡng nhất định, nhằm
tạo ra được tính đa dạng của các loại cây trồng.
- Sự thích ứng của tập đoàn gen cây trồng sẽ đem lại những hệ sinh thái thực vật
khác nhau, góp phần vào việc phát triển ngành trồng trọt ngày càng đa dạng, phong phú ở
nước ta.
Sự thích ứng của các tập đoàn gen vật nuôi với môi trường khí hậu, sẽ tạo nên sự
đa dạng loài động vật ở các vùng sinh thái khác nhau. Các cá thể cùng loài động vật tuy
tập hợp với nhau thành quần thể, tạo nên một vốn gen chung, nhưng vẫn khác nhau về
hình thái và tập tính ở mức độ nhất định. Sự biến đổi của vốn gen trong điều kiện khí hậu
và bức xạ ánh sáng sẽ dẫn đến thay đổi giống loài và hệ sinh thái. Nghiên cứu sự thích nghi
của tập đoàn gen vật nuôi với khí hậu vùng, thổ nhưỡng tạo cơ sở, tiền đề cần thiết để phát
triển chăn nuôi phù hợp với từng vùng, thời vụ trong năm, nhằm hướng tới mục tiêu đa dạng
hóa ngành chăn nuôi. Phát triển đàn gia súc, gia cầm nhiều tầng, nhiều lớp, tăng nhanh sản
lượng hàng hóa lớn cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
1.2.2. Các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào các khâu của
quá trình sản xuất nông nghiệp