HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN HỒNG QUẢNG
kinh tÕ n«ng th«n trong x©y dùng n«ng th«n míi
ë huyÖn kim s¬n tØnh ninh b×nh
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 62 31 01 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN
TS. NGUYỄN MINH QUANG
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
5
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài 5
1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đế tài 10
1.3. Tổng quan kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và vấn đề
đặt ra
24
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH
ỰC TIỄN VỀ KINH TẾ
NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
26
2.1. Lý luận chung về kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
26
2.2. Vai trò, nội dung, các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế nông
thôn trong xây dựng nông thôn mới 41
2.3. Kinh nghiệm của quốc tế và trong nước về phát triển kinh tế
nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 57
Chương 3: TH
ỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KIM SƠN
TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013
74
3.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh
Bình ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn trong xây dựng nông
thôn mới
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH : Công nghiệp hóa
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNTBNN : Chủ nghĩa tư bản nhà nước
CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
CN, TTCN - XD : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng
GDP : Tổng sản phẩm kinh tế quốc dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
HĐH : Hiện đại hóa
HTX : Hợp tác xã
KH - CN : Khoa học - công nghệ
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KTNT : Kinh tế nông thôn
KT - XH : Kinh tế - xã hội
LLSX : Lực lượng sản xuất
Nxb : Nhà xuất bản
QHSX : Quan hệ sản xuất
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
UBND : Ủy ban nhân dân
VAC : Vườn ao chuồng
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XDNTM : Xây dựng nông thôn mới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 3.1: Tổng hợp giá trị, cơ cấu ngành nghề nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản qua các năm 82
nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo qui hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ
thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Theo
yêu cầu này, phát triển kinh tế nông thôn là nội dung chủ yếu của quá trình thực
hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Kim Sơn là huyện “đặc thù” của tỉnh Ninh Bình, thành lập năm 1829, là
kết quả của công cuộc khẩn hoang dưới sự lãnh đạo tài tình của Doanh điền
tướng công Nguyễn Công Trứ, bằng mồ hôi, sức lực của mình, người Kim Sơn
đã kiên cường chiến thắng thiên nhiên tạo một vùng quê mới Kim Sơn - “Núi
vàng”. Là huyện duy nhất của tỉnh có biển, là huyện trọng điểm về chính trị,
kinh tế của tỉnh Ninh Bình, là nơi có đông đồng bào công giáo, với tỷ lệ đồng
bào công giáo chiếm 46,7% số dân, trên địa bàn có Tòa Giám mục Phát Diệm,
31 giáo xứ, 156 giáo họ; 31 nhà thờ giáo xứ, 113 nhà thờ giáo họ, 5 nhà nguyện,
1 đền Đức Bà.
Trong những năm vừa qua, KTNT huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã có
bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đang dần
phá thế thuần nông. Ngành nông nghiệp tăng trưởng khá và ổn định. Công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề, làng nghề ở nông thôn phát
triển khá mạnh. Các hình thức tổ chức sản xuất trong kinh tế nông thôn được đa
dạng hoá. Kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn từng bước được hoàn thiện. Thu
nhập của nhân dân tăng dần, người dân có thêm điều kiện đầu tư phát triển các
công trình phúc lợi như điện, đường, trường, trạm, bộ mặt nông thôn được đổi
mới, tiến bộ hơn trước.
2
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng lợi
thế của huyện. Trước yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn trong thực hiện Chương
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTNT trong xây dựng nông thôn mới.
- Phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông
thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá
trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là KTNT trong quá trình xây dựng nông
thôn mới. Làm rõ vai trò của phát triển KTNT đối với xây dựng nông thôn mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu KTNT trong xây dựng
nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình chủ yếu từ năm 2008 đến năm
2013. Phần đề xuất quan điểm và giải pháp đến năm 2020.
- Về địa điểm nghiên cứu khảo sát: Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (nơi
có tỷ lệ đồng bào công giáo trên 46,7% so với số dân).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam,
chính sách của Nhà nước về kinh tế nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và xây dựng nông
thôn mới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa
học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử.
Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn sử dụng một số phương pháp của kinh tế
học gồm: phương pháp khảo sát, điều tra, phương pháp thống kê; ở đây tác giả
luận án đặc biệt chú trọng phương pháp điều tra khảo sát dưới dạng các bảng hỏi
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Các Tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin
- Tác phẩm Tư phản [76] của C.Mác và Ph.Ăngghen là một công trình
nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại. C.Mác đã phân tích một cách khoa học và triệt
để chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế xã hội, đã vạch ra các
qui luật ra đời, phát triển và diệt vong của CNTB. Trong tác phẩm này C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đề cập đến các lĩnh vực sau đây liên quan đến đề tài:
+ Về hiệp tác trong sản xuất
Trong chương XI, C.Mác đã làm rõ hiệp tác giản đơn TBCN, ở đây
C.Mác đã khẳng định hiệp tác giản đơn TBCN là lao động tập thể chưa có phân
công. C.Mác đã chỉ ra những ưu thế của hiệp tác so với sản xuất nhỏ cá thể như:
tiết kiệm được tư liệu sản xuất; tạo ra một sức sản xuất mới, đó là một sức sản
xuất tập thể trong phần lớn các công việc sản xuất, ngay sự tiếp xúc xã hội cũng
đẻ ra sự thi đua; rút ngắn được thời gian lao động cần thiết để làm ra tổng sản
phẩm; giải quyết những công việc khẩn cấp, mùa vụ Đồng thời C.Mác cũng
làm rõ những điều kiện để tiến hành hiệp tác đó là: Hiệp tác lao động đòi hỏi
phải có sự quản lý, điều khiển, kiểm soát; tích tụ một khối lượng tư liệu sản xuất
vào tay những nhà tư bản riêng lẻ; Kế toán với tư cách là phương tiện kiểm soát
và khái quát quá trình sản xuất trên ý niệm.
+ Về tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp với thị trường sức lao động
Trong chương XIII, về máy móc và đại công nghiệp, C.Mác đã nghiên cứu
cuộc cách mạng về công cụ lao động, làm rõ sự phát triển của máy móc. C.Mác
khẳng định: máy móc gồm ba bộ phận cấu thành là: máy động lực, máy truyền lực
thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, đã dành một phần quan trọng nói về
tính tất yếu và vai trò của CNTB nhà nước trong nền kinh tế thời quá độ.
Lênin cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các quan hệ TBCN
trong thời kỳ quá độ và đề ra nhiệm vụ phải hướng sự phát triển của chúng vào
con đường CNTB nhà nước. Trong tác phẩm này Lênin cũng nêu những hình thức
7
của CNTB nhà nước, đó là các hình thức: Tô nhượng, Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã,
đại lý, Nhà nước cho các nhà tư bản thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất…
- V.I.Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” [69] đã chỉ ra ý
nghĩa đặc biệt của chế độ hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Chính chế độ hợp tác xã cho phép kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân của
người sản xuất hàng hoá nhỏ với lợi ích của xã hội, cho phép nhà nước thực
hiện kiểm tra, kiểm soát, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích xã hội. Cái
chính là chế độ hợp tác xã được bắt đầu bằng những hình thức đơn giản nhất:
hợp tác xã cung tiêu, HTX mua bán, sau đó là hợp tác xã sản xuất - đó là hình
thức đơn giản nhất, dễ tiếp thu và dễ hiểu nhất đối hàng triệu quần chúng
nông dân.
Lênin đã xem xét chế độ hợp tác xã gắn liền với sự phát triển và củng cố
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (nói riêng là nền nông nghiệp). Trong những năm
đầu, khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, hợp tác xã cung tiêu hoạt động kết hợp với
chủ nghĩa tư bản nhà nước; khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được củng cố, hợp
tác xã gắn liền với ngành nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Lênin xác định hợp tác
xã là một biện pháp hết sức quan trọng để giải quyết nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ
nghĩa đối với nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần.
1.1.2. Các công trình khoa học của các học giả, tổ chức quốc tế
Kinh tế nông thôn là một chủ đề đã được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài
quan tâm nhiều, ở những góc độ khác nhau. Trong thời gian gần đây, các nhà
nghiên cứu thuộc tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) và ở các nước
và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước. Đồng thời, bài viết cũng đã làm
rõ sự khác biệt về chính sách nông nghiệp ở hai nước trên cơ sở phân tích những
điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, tính chất cơ cấu nông nghiệp… từ đó đưa
ra những gợi ý cho những điều chỉnh chính sách trong tương lai.
- Trong bài: “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc
tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” [135], tác giả DuYing đã
điểm lại những thành tựu của nông nghiệp Trung Quốc sau 20 năm tiến hành
chuyển dịch cơ cấu và cải cách nông nghiệp (1978 - 1999). Đồng thời, tác giả
cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Trung Quốc
một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn
trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước
trong việc đưa ra các chính sách nông nghiệp hợp lý. Những chính sách được
9
gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông
sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động
thừa ở nông thôn…
- Trong bài: "Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ
theo cải cách cấu trúc” [145] Servaas Storm đã phân tích những tác động trong
trung hạn của chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn
Độ giai đoạn 1985 - 1990, đặc biệt là tác động đến động cơ làm việc của nông
dân vì sự thiếu thốn những khuyến khích được coi là cản trở chính đối với đầu tư
tư nhân vào nông nghiệp và nỗ lực tăng năng suất lao động. Theo đó, can thiệp chủ
động và tích cực của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, dỡ bỏ
những hàng rào đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp… được các tác giả gợi ý và
ủng hộ mạnh mẽ.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1. Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế nông thôn
nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta. Tác giả đã nêu ra
một số mâu thuẫn cần phải tập trung giải quyết trong phát triển kinh tế nông
thôn và phát huy tác động tích cực của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân ở nước ta thời gian tới đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh
tế nông thôn bền vững, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với qui
hoạch, sử dụng đất nông nghiệp chưa hợp lý, thiếu hiệu quả; Mâu thuẫn giữa
yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH,
HĐH, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh với thực trạng qui
mô sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, chính sách đất đai chưa hợp lý hiện
nay; Mâu thuẫn giữa yêu cầu giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong phát
triển kinh tế nông thôn, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với xu
hướng dư thừa lao động trong nông nghiệp và sức hút lao động có hạn của các
ngành công nghiệp, dịch vụ, chính sách bảo hộ quyền lợi của dân cư đô thị.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy nhanh phát
triển kinh tế nông thôn và tăng cường thế trận Quốc phòng toàn dân ở nước ta
trong thời gian tới. Nhưng luận án này chưa bàn đến phát triển kinh tế nông
thôn bền vững trong hội nhập quốc tế.
11
- Tác giả Xỉ Xỏn Phăn Bun Sỉ trong: “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới” [128] trên cơ sở trình bày một số lý
luận chung về kinh tế nông thôn luận án phân tích thực trạng phát triển kinh tế
nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nêu những vấn đề cần tập trung
giải quyết đó là: Hệ thống chính sách đối với kinh tế nông thôn chưa đồng bộ;
Thị trường, nhất là thị trường nông thôn chưa được mở rộng; Hệ thống tín dụng
chậm đổi mới; Đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đổi mới; Mối quan hệ giữa đô thị và đô thị hóa với phát triển kinh tế nông
thôn chưa được chú ý; Những vấn đề ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu
nghèo… cần được quan tâm. Luận án dự báo xu hướng phát triển của kinh tế
nông thôn ở Lào; Đề xuất những quan điểm phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng
quá trình phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam. Tác giả nêu kinh nghiệm của
một số nước trên thế giới và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây
dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam.
- Tác giả Nguyễn Quang Minh trong: “Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh
Hóa hiện nay” [82] đã trình bầy một số cơ sở lý luận về phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế nông thôn. Phân tích thực trạng kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa thời
gian qua, để thấy được những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đăth ra cần
giải quyết. Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng kinh
tế nông thôn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
- Tác giả Phan Đại Doãn và các cộng sự trong: “Quản lý xã hội nông thôn
nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” [32] đã làm rõ những hạn chế ở
khu vực nông thôn nước ta. Trên cơ sở đó nhóm tác giả nhấn mạnh: Phát triển
kinh tế nông thôn phải gắn kết chặt chẽ với ba vấn đề đó là: ổn định chính trị, xã
hội; tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội thì mới bền vững. Tăng trưởng, phát
triển kinh tế phải đi liền với cải thiện đời sống nông dân, phải đặt trong xã hội,
đặt trong con người.
- Tác giả Phạm Văn Nam và các cộng sự trong: “Phát triển nông thôn”
[83] đã chỉ ra thực trạng của nông nghiệp, nông thôn trước thời kỳ đổi mới và tác
động kinh tế - xã hội của đổi mới với phát triển nông thôn. Nhóm tác giả khẳng
13
định: Trình độ phát triển của kinh tế nông thôn nước ta còn thua kém nhiều
nước. Để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển, nhóm tác giả đã trích dẫn
một số lý thuyết và mô hình phát triển nông thôn trên thế giới để tham khảo.
Chẳng hạn như:
+ Lý thuyết đề cao vai trò của nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị công
nghiệp hoá cho rằng, việc xây dựng một nền công nghiệp vững mạnh và năng
động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng
phát triển kinh tế nông nghiệp xưa và nay trên thế giới; Tổng quan những lý luận cơ
bản về cơ cấu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nông
thôn nói riêng. Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát
triển của kinh tế nông thôn Việt Nam. Từ đó thấy được những thành tựu và tồn tại,
khuyết điểm trong thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.
- Trần Xuân Châu trong: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt
Nam thực trạng và giải pháp” [21] cho rằng, phát triển nông nghiệp hàng hoá
trong nông nghiệp là phương thức tối ưu để thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng nền
kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; là con đường duy nhất để giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng
nông dân, nông thôn ra khỏi tình trạng lạc hậu và cũng là quy luật chung của
sự phát triển kinh tế xã hội. Nền nông nghiệp nước ta đã và đang chuyển
mạnh từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo
cơ chế thị trường, ngày càng hướng vào xuất khẩu, đây là một chuyển biến có
ý nghĩa hết sức quan trọng và sâu sắc, làm thay đổi tính chất và các mối quan
hệ cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời theo tác giả, lợi thế và vai
trò của nông nghiệp hàng hoá được khai thác chưa tương xứng với tiềm năng
vốn có của nó. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi chậm, tổ chức sản xuất
còn yếu kém, chất lượng hàng hoá, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, thu nhập
và đời sống của đa số nông dân còn thấp. Tác giả đã làm rõ các nội dung, đặc
trưng, vai trò, điều kiện của việc đẩy nhanh phát triển nền nông nghiệp hàng
hoá; trình bày kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp hàng
hóa. Trên cơ sở những phân tích trên, cuốn sách đưa ra các quan điểm,
phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
ở nước ta.
15
- Nguyễn Từ trong: “Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững”
[120] đã đề cập đến một số vấn đề như: quan niệm về phát triển bền vững, vai trò
của nông nghiệp trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Thực trạng phát triển
tư từ ngân sách…
- Đặng Kim Sơn trong cuốn: “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá” [94] trên cơ sở tổng hợp, phân
tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá ở
nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như vai trò của nông nghiệp
trong công nghiệp hoá, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết vấn đề về đất đai, lao
động, môi trường… trong CNH, HĐH đất nước. Tác giả đã đề cập đến một số
nghịch lý trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đó là: tài nguyên (đất, nước,
lao động…) vừa thiếu vừa lãng phí; sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp và sức
cạnh tranh kém; phát triển nông thôn chưa bền vững. Tác giả cho rằng nguyên
nhân chính của tình trạng trên là do: nhận thức và quan điểm về nông nghiệp,
nông thôn, nông dân không đúng đắn theo các xu hướng khác nhau; đầu tư thấp
cho nông nghiệp, nông thôn, liên kết yếu giữa nông nghiệp và công nghiệp; chia
cắt nông thôn, đô thị; đoàn thể nông dân và kinh tế hợp tác yếu: bộ máy hành
chính đông nhưng không hiệu quả. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số vấn đề
nhằm xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam là: cần phải
hoạch định rõ chiến lược phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp về thu hút
lao động, chế biến nông, lâm, hải sản… đưa nhà máy công nghiệp về nông thôn;
thực sự kết nối nông thôn - đô thị; có chính sách hợp lý để thu hút đầu tư vào phát
triển kết cấu hạ tầng nông thôn; cải cách triệt để hệ thống giáo dục; mạnh dạn thay
đổi chính sách đất đai; phát huy dân chủ ở cơ sở; tăng đầu tư công cho KTNT.
- Tác giả Nguyễn Danh Sơn và các cộng sự trong: “Nông nghiệp, nông
thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện
đại” [93] đề cập tới một số vấn đề mới về lý luận chính trị về vai trò, vị trí của
nông dân, nông thôn, nông nghiệp trong đời sống chính trị, đời sống kinh tế, đời
sống xã hội, đời sống văn hóa của đất nước khi đã thoát khỏi danh sách các nước
nghèo, đang bước vào giai đoạn mới cao hơn đó là CNH, HĐH gắn chặt với phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tập thể tác giả nêu định hướng giải
nghiệp hiện đại; Về nâng cao thu nhập cho người dân; Về thay đổi tư duy, cách
18
thức thực hiện khuyến nông; Về chính sách xã hội đối với nông dân; Về nâng
cao năng lực của hệ thống chính quyền nông thôn - phát triển dân chủ và xã hội
pháp quyền ở nông thôn.
- Phan Diễn trong bài: “Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa tiến trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [31] đã nêu những thành công của nông
nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới là: phát triển tương đối
toàn diện, tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, an ninh lương thực quốc gia
được bảo đảm vững chắc. Đồng thời cũng chỉ rõ: cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn chuyển dịch chậm, chưa gắn kết có hiệu quả với thị trường, nặng
nề về trồng trọt (khoảng 80%), sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân
tán, manh mún, quy mô nhỏ, mang nhiều yếu tố tự phát; công nghiệp chế biến
nông sản phát triển chậm, lạc hậu về công nghệ; dịch vụ ở nông thôn chưa
phát triển. Quan hệ sản xuất nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
KTNT hàng hoá theo cơ chế mới. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
trong thời gian tới: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện tốt công
tác quy hoạch nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh việc nghiên cứu, chuyển
giao khoa học - công nghệ; thực hiện có hiệu quả các chính sách liên quan
đến phát triển kinh tế; tiếp tục đổi mới và xây dựng QHSX phù hợp, theo
hướng phát triển kinh tế mhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn; phát
huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, ổn định chính trị- xã hội nông thôn và xây
dựng nông thôn mới.
- Vũ Văn Phúc trong bài: “Một số vấn đề về CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn” [87] đã nêu một số hạn chế, bất cập trong CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn như: đất nông nghiệp bình quân đầu người ở nước ta thấp và có xu
hướng giảm dần trong quá trình CNH, HĐH; năng suất lao động nông nghiệp
nước ta chỉ nuôi được 2 người, trong khi đó ở Mỹ nuôi được 80 người, Hà Lan
60, Anh 55, Nhật 20; thu nhập của dân cư nông thôn thấp nên sức mua thị trường
sản lượng, chưa quan tâm nhiều đến chất lượng nông sản vẫn còn phổ biến Kết
cấu hạ tầng nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn. Một số chỉ tiêu quan trọng về xã hội và môi
trường nông thôn không đạt được mục tiêu của kế hoạch và chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đề ra.