TIỂU LUẬN:
Thực trạng quản lý chất
lượng đào tạo đại học ở Việt
Nam hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kì cho sự phát
người quản lý. Việc quản lý chất lượng đào tạo đại học ở nước ta hiện nay còn
nhiều thiếu sót và khuyết điểm,đặt ra không chỉ với người quản lý chất lượng đào
tạo mà cả những doanh nghiệp,người học và tất cả mọi người quan tâm đến sự
phát triển của đất nước.
Việc quản lý đào tạo đại học hiện nay đặt ra câu hỏi : việc quản lý của nhà
nước với đào tạo đại học đã phát huy tác dụng chưa? Đã có cơ chế chặt chẽ và
đồng bộ trong việc quản lý chưa? Chất lượng đào tạo đại học có đáp ứng những
mục tiêu đặt ra không? Sinh viên tốt nghiệp ra trường có tay nghề, kiến thức và
đáp ứng nhu cầu nhà tuyển dụng không? v.v
Do đó cần thiết phải có cơ chế quản lý góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
đại học Việt Nam hiện nay. Do tính cấp thiết của đề tài,là một sinh viên trường
ĐH KTQD, đứng trước thực trạng quản lý đào tạo đại học ở Việt Nam hiện
nay,em xin chọn đề tài : Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo đại học ở Việt
Nam hiện nay
CHƯƠNG I: BẢN CHẤT VÀ YÊU CẦU VỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM.
I Những yêu cầu đối với chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam.
1.Chức năng của đào tạo đại học trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Đào tạo là một loại hoạt động được tổ chức có hệ thống để trang bị cho người lao
động nhận thức kỹ năng tay nghề và động lực thực hiện công việc. Quản lý chất
lượng đào tạo đại học thực hiện bằng việc quản lý các quá trình trong nhà trường. Có
lao động, là người có nhu cầu về lao động có chất lượng cao từ các trường đại học.
Vì vậy, chất lượng của các trường đại học có ảnh hưởng lớn tới các đối tượng trên.
Đào tạo đại học hiện nay được coi là hình thức dịch vụ thương mại, dịch vụ
quần chúng. Thật vậy, trước đây do quản lý nhà nước theo chế độ tập trung, bao
cấp nên đào tạo đại học được coi là việc của nhà nước, do nhà nước đặt chỉ tiêu và
quản lý ở tất cả mọi khâu các cơ sở đào tạo đại học thuộc loại hình cơ quan hành
chính sự nghiệp. Sản phẩm cơ sở đào tạo đại học là các chuyên gia được đào tạo ra
theo kế hoạch từ trên đưa xuống và được phân công làm việc.
Tuy nhiên, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đào tạo đại học có những bước chuyển đáng kể từ loại hành chính sự nhiệp
sang loại sự nghiệp có thu. Như ta đã biết hàng hóa không nhất thiết gắn với việc
mua bán hay thương mại và dịch vụ GD do vậy vẫn được gọi là một hàng hóa. Khi
nền giáo dục còn là “tinh hoa”, sản phẩm của nó là những con người khoa học, chủ
yếu đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Nhưng ngày nay, giáo dục đại học
đã là giáo dục cho số đông, phần lớn đại học lại là giáo dục nghề nghiệp,tấm bằng
đại học của từng cá nhân sẽ là “tấm hộ chiếu vào đời” và nó chủ yếu mang lại lợi
ích cá nhân.Mục tiêu xuất phát của thi trường giáo dục đại học là là làm cho đại
học được tổ chức và vận hành một một cách hiệu quả hơn đáp ứng nhu cầu của
phá triển kinh tế xã hội. Đặc biệt với chủ trương xã hội hóa nói chung và giáo dục
đào tạo đại học nói riêng, với sự ra đời của đại học dân lập nói chung, đại học bán
công hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế tự cân đói thu chi, đào tạo đại học đã
trở thành một dịch vụ cao cấp, dịch vụ đào tạo nhân lực. Và sản phẩm của loại
hình dịch vụ này chịu ảnh hưởn của cơ chế thị trường, thị trường lao động.
Hiện nay, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình doanh
nghiệp ngày càng phát triển và nhu cầu về sử dụng lao động chất lượng cao ngày
càng tăng. Do đó, sinh viên ra trường muốn có việc làm, có cơ hội phát triển thì yêu cầu phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng của người sử dụng lao
động. Các trường đại học cần có những chương trình đào tạo đáp ứng những nhu
* Là hệ thống các hoạt động phối hợp để định hướng, tổ chức, đảm bảo, cải tiến và
kiểm soát cơ sở đào tạo về chất lượng.
* Là sự tác động có mục tiêu, có hệ thống, có hiệu lực và hiệu quả của chỉnh thể
quản lý đến quá trình dạy và học.
- Quản lý chất lượng đào tạo đại học là một quá trình được xây dựng thực hiện
theo các bước sau:
12
Quản lý đào tạo
(xét theo quá trình)
Quản lý chất
lượng đào tạo
Đảm bảo
chất lượng
Các nhân tố
và điều kiện
đảm bảo
chất lượng
Cải tiến
liên lục:
Giáo trình,
chương
trình,
phương tiện,
phương
pháp
Kiểm soát
chất lượng:
Kiểm định,
Thực hiện tốt chức năng, đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn. Đối với
đào tạo: tổ chức quản lý tốt quá trình dạy và học để đảm bảo và nâng cao chất
lượng đi đôi với tăng quy mô và đảm bảo hiệu quả.
Nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường. 2. Nội dung cơ bản của quản lý chất lượng đào tạo đại học.
* Xây dựng chiến lược, mục tiêu đào tạo đại học: Chiến lược, mục tiêu đào tạo đại
học cần được xây dựng thống nhất, rõ ràng và phù hợp, giúp cho các trường có
phương hướng trong công tác giảng và dạy hoc, mỗi người hiểu rõ họ được và
phải làm gì để thực hiện được chiến lược và mục tiêu do trường đề ra.
* Hoàn thiện chương trình, giáo trình, học liệu: là phần quan trọng trong việc
giảng dạy ở các trường đại học hiện nay. Nhờ có chương trình, giáo trình thống
nhất mà có dễ dàng trong việc quản lý chất lượng đào tạo. Nó cũng góp phần trong
việc giúp sinh viên có sự say mê trong học tập và nghiên cứu, sinh viên và giáo
viên có thể có những cách dạy khoa học, tìm ra những cách giảng dạy có hiệu quả
và dễ tiếp thu nhất, nâng cao chất lượng đào tạo.
* Hoàn thiện cơ cấu đào tạo và hình thức đào tạo.
* Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý đào tạo đại học: đó
là việc quan trọng không thể thiếu trong việc góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo đại học và quản lý chất lượng đào tạo đại học,.
* Xây dựng và quản lý cơ sở vật chất: trường lớp khang trang, các trang thiết bị
đầy đủ được trang bị hiện đại, nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên.
* Đổi mới phương tiện và phương pháp đào tạo đại học.
3. Công tác tổ chức quản lý chất lượng đào tạo đại học.
Việc xây dựng tiêu chuẩn:
Bộ GD-ĐT đã xây dựng các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng đào tạo đại học. Các
tiêu chuẩn được xây dựng đưa ra các tiêu chí rõ ràng và cụ thể hơn. Các tiêu chuẩn
về tổ chức quản lý, chương trình giáo dục, hoạt động đào tạo, đội ngũ cán bộ và
nhân viên, người học, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và triển khai
I.Thực trạng chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay.
1.1. Chất lượng đào tạo đại học.
Theo Bộ GD- ĐT thì “Chất lượng đào tạo đại học là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của
trường Đại học”
Chất lượng giáo dục đại học là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp
ứng nhu cầu xã hội. Các đặc tính vốn có đó là: Phẩm chất đạo đức, sức khỏe, kiến
thức, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên ra trường
Để đánh giá chất lượng đào tạo đại học thường căn cứ vào nhiều chỉ tiêu như kết
quả học tập,khả năng của sinh viên sau khi ra trường có thể đáp ứng nhu cầu công
việc, có kiến thức kỹ năng, phẩm chất, kiến thức sức khỏe đảm bảo các kỹ năng
nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của đội ngũ lao động chất lượng cao của đất nước.
Chất lượng trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường đại học, nhưng
mục tiêu này phải đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế-xã hội đất nước. Người hưởng
lợi chất lượng đại học ở đây chính là người học (học sinh, sinh viên), phụ huynh
và người tài trợ học phí cho việc học của sinh viên, và người sử dụng lao động.
Tuy nhiên chất lượng đó còn tùy thuộc vào chất lượng của người hưởng lợi như đã
nêu.
Trong giáo dục đại học (GD ĐH), đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ
thống, chính sách, thủ tục quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước
nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng. Nói cách khác, đảm bảo
chất lượng GD ĐH là toàn bộ các chủ trương, chính sách, mục tiêu, cơ chế quản lí,
các hoạt động, điều kiện nguồn lực, cùng những biện pháp khác để duy trì, nâng
cao chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra.
1.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam như:
+ Nhân tố bên ngoài:
- Kinh tế thế giới :sự phát triển của kinh tế thế giới có tác động mạnh mẽ tới sự
phát triển của các thành phần trong nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của các
doanh nghiệp và cơ hội cũng như nhu cầu việc làm. Do đó cũng tác động mạnh mẽ
trường cần phải thống nhất, có chương trình phù hợp tạo thuận tiện cho sinh viên
theo học các trường khác nhau trong cùng một khối ngành. - Tổ chức đào tạo: Mạng lưới các trường, sắp xếp các trường theo một trình tự
phù hợp, đảm bảo cho việc học va quản lý dễ dàng, việc ra quyết định và thực hiện
quyết định có hiệu quả hơn.
- Phương pháp đào tạo: các trường có những phương pháp đào tại tiên tiến, tạo
được sự thu hút, hứng thú trong học tập với sinh viên sẽ tạo động lực cho sinh viên
trong việc hăng say học tập, ham học hỏi và nghiên cứu khoa học, khả năng tự
nghiên cứu để nâng cao trình độ,kỹ năng và tư duy. Từ đó mà góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo đại học.
- Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo: cơ sở vật chất góp phần quan trọng trong việc
giảng dạy hiện nay ở các trường, đặc biệt là các trường đại học, giúp cho giáo viên
và sinh viên áp dụng những phương pháp học mới có hiệu quả trong học tập, giúp
sinh viên tiếp thu bài giảng nhanh hơn, nâng cao chất lượng học.
- Trình độ, năng lực đội ngũ thầy giáo:ảnh hưởng lớn tới chất lượng học của sinh
viên trong kinh nghiệm giảng dạy, việc áp dụng những phương pháp dạy mới hay
khả năng cung cấp cho sinh viên những kiến thức mới có tính toàn diện.
- Cơ chế quản lý giáo dục (quản lý nhà nước tự chủ, tự chịu trách nhiệm các
trường): cơ chế quản lý giáo dục có ảnh hưởng tới phương hướng hoạt động của
các trường, ngày càng cho phép các trường hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm,
và họa động có hiệu quả và giúp các trường nâng cao chất lượng giảng dạy và đào
tạo sinh viên ngày một đáp ứng nhu cầu xã hội.
II.Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay.
2.1.Những điểm đã đạt được trong công tác quản lý chất lượng đào tạo đại
học ở Việt Nam hiện nay.
Khi nhìn lại những hoạt ðộng ðã ðýợc triển khai trong những nãm vừa qua, có
thể nói hệ thống ðảm bảo chất lýợng giáo dục ðại học còn rất non trẻ của Việt
Nam ðã ðạt ðýợc khá nhiều thành tựu.
trường.Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ và đối với từng
cơ sở giáo dục” (Điều 17, Luật Giáo dục 2005).
Ngoài ra Bộ GD- ÐT còn xây dựng và býớc ðầu triển khai kế hoạch kiểm ðịnh
chất lýợng trýờng ðại học cho toàn hệ thống giáo dục ðại học của Việt Nam ðến
nãm 2010, phát triển nãng lực cho ðội ngũ chuyên gia và các nhân sự chủ chốt của
hệ thống ðảm bảo chất lýợng quốc gia, tham gia vào các mạng lýới ðảm bảo chất
lýợng khu vực: AUN (Mạng ðại học Ðông Nam Á), APQN (Mạng ðảm bảo chất lýợng châu Á-Thái Bình Dýõng), và INQAAHE (Hiệp hội các cõ quan ðảm bảo
chất lýợng quốc tế).
Trong hơn 20 năm đổi mới, quản lý GDÐH nước ta đang trong quá trình đổi
mới cơ bản và toàn diện giai đoạn 2006 - 2020. Trong việc quản lý chất lượng đào
tạo đại học, ngành GD và ÐT đang triển khai cuộc vận động "Hai không" với nội
dung là "Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã
hội".Và việc quản lý chất lượng đào tạo đại học đã và đang được đặt ra thành tiêu
chuẩn với các trường để thực hiện việc quản lý tốt hơn với các trường và nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học ở đại học Việt Nam hiện nay, đặc biệt là đào tạo
đại học đang hướng tới việc lấy phương châm đào tạo theo nhu cầu xã hội, đào tạo
cái mà xã hội cần chứ không phải nhà trường có, để đánh giá chất lượng đào
tạo,nhà nước đang áp dụng cho các trường đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
việc giảng dạy, tự xác định nhu cầu để đề ra biện pháp và việc tuyển sinh đáp ứng
nhu cầu xã hội.
Từ năm 2007 đến nay, Bộ GD - ÐT đã cùng các bộ, ngành và các doanh nghiệp
tổ chức nhiều hội thảo quốc gia về đào tạo theo nhu cầu xã hội. Mỗi hội thảo
ngành GD và ÐT phối hợp cùng một bộ chuyên ngành tổ chức và mời các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực đó để cùng các trường ÐH, CÐ ngồi lại với nhau xem doanh
nghiệp cần gì, nhà trường đáp ứng được gì, để đổi mới chương trình, phương pháp
và tăng cường lực lượng giảng viên cho đào tạo.
Việc đầu tư ngân sách cho giáo dục và quản lý chất lượng đào tạo đại học hiện
dục đại học", theo Phó thủ tướng, Bộ trưởng GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân .
Việc thành lập trường, triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới trường ĐH, CĐ
còn bộc lộ nhiều hạn chế. Khoảng 20% trường được thành lập mới hoặc nâng cấp
lên đại học từ năm 2005 chưa thực hiện đầy đủ cam kết trong đề án khả thi thành
lập trường và mở ngành, chưa chuẩn bị đồng bộ về đất đai, giảng viên, vốn đầu tư
và điều kiện đảm bảo chất lượng khác. nhất. Chưa trường nào công bố chuẩn năng
lực sinh viên tốt nghiệp nên hiện chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng giáo dục
của các trường một cách khách quan, toàn diện.
Hiện nay, chúng ta vẫn thực hiện quản lý tập trung, chưa phân cấp đáng kể cho
chính quyền địa phương cũng như chưa có quy chế phối hợp các bộ, ngành. Khả
năng kiểm soát, đánh giá chất lượng đào tạo, việc chấp hành luật pháp của các
trường và hiệu quả đầu tư của Nhà nước ngày càng khó khăn hơn. Với 376 trường
trong cả nước, nếu mỗi tuần Bộ GD - ÐT tổ chức kiểm tra hai trường thì phải mất hơn ba năm rưỡi mới kiểm tra hết một lượt. Và như vậy, bộ không thể theo sát
hoạt động cụ thể trong từng trường. Trong khi đó, ý thức chấp hành kỷ luật của
nhiều trường ÐH, CÐ còn chưa tốt. Được biết, hằng năm, gần một nửa số trường
ÐH, CÐ không gửi báo cáo tổng kết về hoạt động của nhà trường cho Bộ GD - ÐT
dù được bộ yêu cầu và nhắc nhở.
Ngoài ra, hiện chưa có quy định bắt buộc về kiểm tra thực tế điều kiện cần thiết
khi cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh; chế tài xử lý các trường không thực
hiện đúng cam kết chưa đủ mạnh; chưa có quy định các trường phải xây dựng
chuẩn năng lực người tốt nghiệp (chuẩn đầu ra) nên chưa có cơ sở đánh giá đúng
chất lượng đào tạo. Các trường ĐH, CĐ vẫn tập trung chủ yếu ở 5 thành phố lớn.
Cho đến nay Bộ GD- ĐT chưa ban hành được quy chế về giáo trình đại học, cao
đẳng và hàng năm cũng chưa có đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo đại học trên
cơ sở khoa học và thực tiễn. Chúng ta chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng
giáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện và cũng chưa có trường
nào công bố chuẩn năng lực sinh viên tốt nghiệp trường mình.
phạm pháp luật về quản lý giáo dục cấp bộ, thì việc kiểm tra chấp hành các văn
bản đó ở 30,8% tổng số cơ sở đào tạo do các bộ khác là cơ quan chủ quản, 33,2%
cơ sở thuộc UBND các tỉnh quản lý còn hạn chế. Thậm chí có bộ còn ban hành các
văn bản chồng chéo lên chức năng quản lý nhà nước của Bộ GD-ĐT.
Thêm nữa, có rất nhiều quy định Bộ GD-ĐT muốn đặt ra để tạo thuận lợi cho các
nhà trường nhưng phải chịu sự chi phối của các quy định của các ngành khác, nhất
là về tài chính và nội vụ. Trong khi đó, khi có những vụ việc xảy ra thì trách
nhiệm đều quy về ngành giáo dục. Và thực tiễn đó dường như đã tác động không
nhỏ đến việc xây dựng các quy định, quy chế liên quan đến các hoạt động của cơ
sở đào tạo theo hướng "trói chặt", thậm chí trong nhiều việc Bộ đã đóng vai trò
như một trường ĐH, để dễ quản hơn. Lo lắng cho quyền lợi của người học, trách
nhiệm với chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, cho nên thay vì xây dựng hành
lang pháp lý thì Bộ lại cầm tay chỉ việc; hệ thống quản lý nặng chiều chỉ đạo từ
trên xuống, xin từ dưới lên và cần được điều chỉnh, xây dựng hợp lý đảm bảo hoạt
động có hiệu quả, và nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay.
2.4. Những nhân tố tác động tới công tác quản lý chất lượng đào tạo đại học ở
Việt Nam hiện nay.
Có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay,
tuy nhiên em xin nêu ra một vài nhân tố sau: - Cung cách quản lý của Bộ GD-ĐT đã hạn chế quyền tự chủ và tự chịu trách
nhiệm của các trường. Cho đến nay, trong nhiều hoạt động tác nghiệp, các trường
ĐH không được tự điều hành quản lý mọi công việc của mình và vẫn đang chịu sự
chi phối của Bộ GD-ĐT. Do bộ thực hiện các hoạt động tác nghiệp của các trường
ĐH nên các trường trở nên thiếu chủ động. Các quy định, quy chế này chưa đầy đủ
nên việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở còn hạn chế. Các quy định về
tài chính chậm đổi mới, còn nhiều bất hợp lý, hạn chế sự năng động, sáng tạo của
nhà trường. Việc quy hoạch, đánh giá đội ngũ hiệu trưởng chưa bảo đảm cho việc
có đội ngũ giảng viên giỏi, có năng lực quản lý, sẵn sàng tham gia lãnh đạo nhà
ấn quản lý tập trung bao cấp vẫn còn in đậm trong cách nghĩ, cách làm của nhiều
cán bộ quản lý ĐH
- Việc kiểm định chất lượng đào tạo đại học hiện nay đã được đặt ra với các
trương nhằm kiểm định việc đào tạo tại các trường và có biện pháp nâng cao việc
đào tạo. Tuy nhiên việc thực hiện chưa được quán triệt, còn lỏng lẻo trong nhiều
khâu, và chưa đem lại kết quả như mong muốn. CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
3.1. Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam.
Việc hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay
đang trở nên quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Các quy
chế của Bộ GD – ĐT và của nhà nước cần được cụ thể, ban hành rõ ràng từng với
từng cơ quan, tổ chức, các trường cụ thể. Việc chấp hành các quy chế cần được
kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ. Và để thực hiện việc kiểm soát tới từng đối tượng thì
cần thiết thực hiện phân cấp trong quản lý. Nhờ việc phân cấp mà có thể giảm
gánh nặng cho Bộ và giúp việc tổ chức thực hiện quản lý được dễ dàng, việc kiểm
tra, kiểm soát được thực hiện thường xuyên hơn.
3.2. Các biện pháp khác.
3.2.1. Thực hiện việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý của các trường.
Một số giải pháp chủ yếu để cải cách GDĐH hiện nay là phải cải cách thể chế
quản lý theo hướng xác định tư cách tự chủ của trường ĐH trong việc giảng dạy,
nghiên cứu khoa học, tài chính, nhân sự , xác định cơ chế điều tiết thị trường để
trường ĐH liên hệ trực tiếp với xã hội, thị trường lao động. Ngoài ra, còn cần phải
kiểm định chất lượng đào tạo đại học và sắp xếp lại mạng lưới các trường.
Về phía các trường ĐH, CĐ thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phát triển
phải rà soát và hoàn thiện các quy định, quy chế của nhà trường, thực hiện 3 công
khai, thực hiện trả lương gắn với hiệu quả đóng góp Và Bộ nên ban hành chính
sách, văn bản đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thể hiện sự quản lý vĩ mô có
Cần phân cấp cho chính quyền địa phương một số nhiệm vụ quản lý giáo dục
đại học có thể xem là phù hợp với xu hướng cải cách hành chính giáo dục ĐH và
phù hợp với một trong các quy luật quản lý giáo dục.
Chính quyền địa phương chỉ thực hiện một số việc về quản lý giáo dục đại học
phù hợp với năng lực, thẩm quyền và cơ chế mệp hơn trong quản lý giáo dục ĐH
trên địa bàn và khi đó việc thực hiện quyền tự chủ, chịu trách nhiệm giải trình của
trường ĐH mới hiện thực hóa và bền vững.
3.2.3. Sắp xếp lại mạng lưới các trường.
Bộ GD- ĐT cùng các ngành liên quan và các địa phương cần sắp xếp lại hệ thống
mạng lưới trường đại học trên cả nước sao cho phù hợp với ngành nghề đào tạo,
nâng cao chất lượng giảng dạy. Việc sắp xếp mạng lưới các trường đại học không
nhằm thu hẹp sự phát triển, mà phải tạo được điều kiện để tiếp tục mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục đại học trong cả nước,
phục vụ tốt hơn cho việc đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật, bồi dưỡng nhân tài,
đào tạo cho đất nước một đội ngũ lao đông chất lượng cao. Xoá bỏ những bất hợp
lý đang tồn tại trong mạng lưới trường học: chuyên ngành đào tạo quá hẹp, tình
trạng khép kín, cục bộ trong hoạt động đào tạo giữa các trường, phân tán, trùng lặp
nhiệm vụ đào tạo trên một địa bàn. Tạo sự liên thông trong hệ thống, xây dựng
mối liên kết giữa các trường và các ngành để sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo
viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Bộ GD- ĐT cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức đào tạo chính quy và không
chính quy, các loại hình trường công lập, dân lập, bán công, gắn chặt quá trình đào
tạo với yêu cầu sử dụng lực lượng lao động xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo
và nghiên cứu khoa học với thực nghiệm trong sản xuất.
Thực hiện phân bố hợp lý mạng lưới trường theo ngành và lãnh thổ, trường đại
học và cao đẳng bố trí ở các thành phố và các vùng kinh tế lớn. Xây dựng các
trường đại học lớn đa ngành có trình độ cao về nghiên cứu khoa học và đào
tạo.Tiến hành khẩn trương, kiên quyết việc thực hiện tổ chức, sắp xếp lại mạng
kiểm việc mở trường, nâng cao chất lượng đào tạo, quy định rõ cơ quan chịu trách
nhiệm quản lý ngành Các quy trình, quy định về thành lập trường phải được thực
hiện nghiêm túc, cương quyết đình chỉ hoạt động, sáp nhập, giải thể đối với các
trường thành lập không thực hiện đúng cam kết.
Việc kiểm định và kiểm tra chất lượng đào tạo đại học đóng vai trò quan trọng
trong việc soát xét lai các quá trình đã thực hiện. Kiểm định chất lượng không
những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất lượng đào tạo đại học mà còn
mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất lượng cho các trường đại học đã qua
kiểm định. Một trường đại học chỉ được công nhận đáp ứng được các yêu cầu và
tiêu chí của Hội đồng sau khi nhà trường chịu sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá
giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục đại học. Quá trình
kiểm định cũng mang lại cho các trường đã qua kiểm định cơ hội tự phân tích
đánh giá để có những cải tiến về chất lượng. KẾT LUẬN
Việc đào tạo đại học theo nhu cầu đã trở thành một xu hướng trong nền kinh tế thị
trường. Và ở nước ta hiện nay, việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc dạy học
tại các trường đào tạo đại học hiện nay đang được Bộ GD-ĐT cho phép các trường
tự hoạch định để nâng cao tính chủ động và nâng cao chất lượng đào tạo đại học
nhằm cung cấp cho sinh viên kiến thức, kỹ năng trở thành đội ngũ lao động có
chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người sử dụng lao động.
Có thể nói việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo đại học góp phần nâng cao