A. Đặt vấn đề
Nớc ta đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế nông nghiệp lạc
hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến năng suất lao động cha cao, hiệu quả kinh tế thấp. Bên
cạnh đó còn chịu ảnh hởng nặng nề của chiến tranh. Điều đó chính làm cho nguyên
nhân làm cho kinh tế nớc ta chậm phát triển hơn so với các nớc trong khu vực và trên
thế giới. Đứng trớc tình hình đó đòi hỏi đảng phải đề ra đờng lối chính sách đờng lối
đổi mới nhằm đa đất nớc ta phát triển về mọi mặt mà trọng tâm là chuyển nền kinh tế
Việt Nam sang kinh tế thị trờng, mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sẩn Việt Nam (tháng
12 năm 1986) đã khởi xớng công cuộc đổi mới mà một trong những định hớng quan
trọng là mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Quán triệt quan điểm đó đại hội lần thứ VII
(1992) và lần thứ VIII (1996) tiếp tục phát triển đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ đa
dạng hoá, đa phơng hoá các quan hệ quốc tế theo tinh thần:" Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển".
Sau hơn 15 năm đổi mới kết quả thực tế cho thấy đời sống nhân dân đợc nâng
cao, kinh tế phát triển về mọi mặt. Điều này đã khẳng định con đờng đúng đắn của
Đảng và Nhà nớc ta đã lựa chọn. Trớc ngỡng cửa của thế kỷ XXI khi loài ngời đang bị
cuốn hút vào một quá trình mang tính chất quốc tế thì chúng ta không thể phủ nhận đ-
ợc tầm quan trọng của tính hiệu quả của việc hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo thành tựu
to lớn về văn hoá, xã hội, kinh tế chính trị để đất nớc từ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Đây là một xu hớng khách quan tác động một cách toàn diện đến mọi dân tộc
không có ngoại lệ , nó đặt mỗi quốc gia trớc những thời cơ và cả những thách thức to
lớn. Do đó việc nghiên cứu tìm hiểu toàn cầu hoá một cách sâu sắc, toàn diện. Đặc biệt
là những tác động của nó đến đời sống kinh tế - chính trị để có đối sách thích hợp là
nhiệm vụ trọng đại của mọi quốc gia trong những thập kỷ đâù của thế kỷ XXI.
1
B. Giải quyết vấn đề
I. Một số vấn đề lý luận về toàn cầu hoá và hội nhâp kinh tế quốc tế
1. Khái niệm về toàn cầu hóa, khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hoá là một danh từ đầu tiên đợc Webster đa vào từ điển năm 1961 và
nó đợc sử dụng khá phổ biến trong hai thập kỷ gần đây. Nhng ngợc dòng lịch sử thì vào
bởi những nhân tố nh cuộc bùng nổ thông tin thế giới , làn sóng dân chủ thứ ba của Bồ
Đầu Nha vào năm 1974, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào đầu thập kỷ 90. Toàn
cầu hoá lần này nặng về phơng diện kinh tế và chính trị vì kinh tế toàn cầu hoá lấy toàn
cầu hoá thị trờng làm mục tiêu , lấy toàn cầu hoá thông tin làm động lực , bởi vậy nó
mang ý nghĩa sâu rộng hơn nhiều so với những lần trớc . Cũng vì vậy nội dung động
chạm đến nhiều nớc, lôi cuấn đông đảo dân số các nớc nhập cuộc.
Theo quan niệm của Cácmác và Ănghen thì xu hớng toàn cầu hoá kinh tế có từ
khi đại công nghiệp tu bản chủ nghĩa hình thành và tuy không dùng khái niệm toàn cầu
hoá nhng những nhận định của các ông thực chất là bàn về các vấn đề toàn cầu
hoá.Trong tác phẩm " Tuyên ngôn của Đảng cộng sản "các Ông viết " Vì luôn bị thúc
đẩy bởi những nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp t bản xâm lấn khắp
toàn cầu. Nó phải xâm nhập khắp nơi , trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ
ở khắp nơi . Do bóp nặn ở thị trờng thế giới, giai cấp t bản đã làm cho sản xuất và tiêu
dùng của tất cả các nớc mang tính chất thế giới " Nh vậy, quốc tế hoá là cơ sở, tiền đề
của toàn cầu hoá kinh tế và toàn cầu hóa là cấp độ của quốc tế hoá.
2. Các nhân tố thúc đẩy toàn cầu hoá kinh tế
2.1. Sự phát triển nhảy vọt của lực lợng sản xuất do phân công lao động ngày
càng diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Toàn cầu hoá lao động thúc đẩy rất nhanh, mạnh sự phát triển và xã hội hoá lực
lợng sản xuất, đa tốc độ tăng trởng kinh tế thế giới lên mức cao ( vào nửa đầu thế kỷ
XX GDP của thế giới tăng 2,7 lần, đến nửa cuối tăng 5,2 lần ). Toàn cầu hoá kinh tế
góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới đặc biệt làm tăng mạnh tỷ lệ hàng
chế tác (chiếm 21.4%) cà các dịch vụ (62.4%) trong cơ cầu kinh tế thế giới ( Quan hệ
hợp tác Nam - Nam và vấn đề toàn cầu hóa. Thông tấn xã Việt Nam số 3 năm 2000)
Lực lợng sản xuất vơn mạnh ra ngoài biên giới quốc gia cùng nhiều công nghệ
hiện đại nhất trong cuộc cách mạng thông tin liên hoàn cầu. Sự chuyển biến có tính
cách mạng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã diễn ra trong nửa đầu thế kỷ XX
mà biểu hiện có tính chất bớc ngoặt là sự xuất hiện của chiếc maý tính điện tử hiện đại
đầu tiên trên thế giới vào năm 1946 cùng với sự ra đời của điều khiển học , lý thuyết hệ
thống va lý thuyết thông tin. Tiếp theo đó là sự bùng nổ của cách mạng khoa học và
Những điều kiện vật chất có tính quyết định đó làm cho các hoạt động kinh tế lan toả
khắp toàn câù.
2.2 Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng.
2.2.1 Kinh tế thị trờng phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế
quốc tế hoá
4
Dới tác động của toàn cầu hoámà cụ thể là toàn cầu hoá kinh tế thị trờng thế giới
từng bớc đợc thống nhất và ngày càng phát triển.Với xu thế đó nó sẽ tạo nên một sự loại
bỏ các rào cản và có một sự điều chỉnh trong qui tắc vận hành
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu
thế quốc tế hoá thể hiện nên hai khía cạnh chính:
Một là, Kinh tế thị trờng mở ra cơ sở điều kiện cho sự sự phát triển của lực lợng
sản suất làm cho quy mô sản suất không bó hẹp trong phạm vi của từng quốc gia mà
mang tầm quốc tế thúc đẩy phân công lao động xã hội gắn các quốc gia trong sự giàng
buộc của sản xuất và tiêu dùng. Thật vậy, khi thị trờng thế giới thống nhất và phát
triển thì các rào cản thơng mại từng bớc bị loại bỏ, một trong ngững thành công của ph-
ơng diện này là sự ra đời của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) ngày 1/1/1995 và tiếp
theo là việc giảm thuế quan giữa các thành viên của WTO xuống mức bình quân là 3%
đối với các nớc phát triển và dới 15% đối với các nớc đang phát triển. Thơng mại phát
triển khiến thị tropừng thế giới thống nhất hơn xu thế thống nhất lại đòi hỏi loại bỏ các
hàng rào thơng mại.
Lĩnh vực sản xuất và thị trờng tiền tệ cũng ngày càng thống nhất, tỷ trọng dịch
vụ ở nớc ngoài trên dịch vụ các chủ thể kinh tế hữu quan cũng đang gia tăng nhanh
chóng, hệ thống phân công sản xuất cùng ngành nghề mang tính toàn cầu đang hình
thành.
Mạng lới sản xuất mạng tính toàn câù sẽ thực sự "kết nối" thế giới. Đây là xu thế
khách quan tác động đến tất cả các quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên đây là cái khách quan
trong xã hội nên nó phải đợc thể hiện ra thông qua hoạt động của con ngời có ý thức, vì
vậy nó là quá trình thống nhất của khách quan và chủ quan là thể hiện biện phép biện
chứng của khách quan và chủ quan. Do đó không nên quan niệm tính tất yếu khách
thơng mại, giám sát các chính sách thơng mại quốc gia và hợp tác với các thiết chế
quốc tế khác liên quan tới hoạch định chính sách toàn cầu . Những quy tắc, luật lệ của
WTO trở thành những định chế cơ bản của một nền kinh tế toàn cầu hoá mang tính chất
của t bản chủ nghĩa. Trong thực tế hoạt động của mình, WTO không dừng ở phạm vi th-
ơng mại mà can thiệp sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội vợt qua mọi biên giới
quốc gia, áp đặt lên toàn thế giới những luật lệ có lợi cho sự thống trị của chủ nghĩa.
Kinh tế thị trờng càng phát triển thì sự giao thoa, xâm nhập lẫn nhau giữa các
nền kinh tế càng gia tăng. Có thể nói ngày nay không có một nền kinh tế thị trờng dân
tộc thuần khiết. Chẳng hạn cho đến năm 1998 Nhật đã chiếm 35% tổng số vốn đầu t n-
ớc ngoài ở Mỹ, còn EU chiếm 19,3%. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng
không chỉ ở sự mở rộng quy mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn nhau
6
giữa các thị trờng còn thể hiện ở chiều sâu đó là sự bùng nổ phát triển của thị trờng tài
chính gắn liền với sự xuất hiện của một loại công cụ mới trong thanh toán giao dịch.
Các thị trờng tài chính đan xen vào nhau chặt chẽ đến mức lãi xuất cho vay và chứng
khoán cũng ràng buộc với nhau và lợng vốn cần luân chuyển trên thị trờng tài chính
lớn. Thị trờng sản phẩm cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện ở quy mô chất lợng của khối l-
ợng giao dịch thơng mại và ở sự phát triển của các giao dịch mới nh thơng mại dịch vụ
và điện tử.
Nh vậy có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng chính là cơ sở, là
điều kiện cho quá trình quốc tế hoá .Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nay
đều dựa trên cơ chế thị trờng,sử dụng các phơng tiện và công cụ của kinhb tế thị trờng
trong hoạt động kinh doanh , đa lại một không giân rộng lớn , không gian toàn cầu cho
các hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố cho các hoạt động sản xuất ấy.
2.2.2. Mức độ liên kết thống nhất của thị trờng thế giới đợc tăng cờng.
Toàn cầu hoá xã hội nhập quốc tế đã tạo nhiều sự liên kết giữa nhiều nền kinh tế
quốc tế đẩy tới là là không còn hiện tợng tách rời thị trờng xã hội chủ nghĩa (khu vực I)
với thị trờng TBCN (khu vực II), các cờng quốc công nghiệp không còn phân chia thị tr-
ờng thế giới thành những vùng ảnh hởng rõ rệt riêng của từng nớc, các công ty đa quốc
gia phát triển nhanh tróng trong cùng một lúc thâm nhập vào thị trờng nhiều nớc, quy
tới 1500 tỷ USD. Hiện nay các công ty xuyên quốc gia đang chi phối thống trị nền kinh
tế thế giới. Các công ty xuyên quốc gia có quy mô cực kỳ lớn, địa bàn hoạt động rất
rộng, kin doanh đa ngành, những chi nhánh của chúng nh những chiếc vòi bạch tuộc
giăng ra khắp hành tinh. Các công ty xuyên quốc gia bành trớng các hoạt động thơng
mại, tài chính, tín dụng, đầu t, chuyển giao công nghệ trên phạm vi toàn cầu, hình thành
hệ thống chi nhánh của mình ở nhiều quốc gia trên thế giới, lôi cuốn quốc gia vào
"vòng kim cô" vòng phong toả của nó, biến mỗi quốc gia thành những bọ phận trong
quy trình sản xuất của nó. Có thể nói các công ty xuyên quốc gia là đội quân xung kích
thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá.
Nh vậy, có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng chính là cơ sở, là
điều kiện cho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nay
đều dựa trên cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụ của kinh tế thị trờng
trong hoạt động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn không gia toàn cầu cho các
hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố của quá trình sản xuất ấy.
2.3. Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc chiến
tranh lạnh, bớc vào thời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển
Kinh tế là cơ sở tồn tại và phát triển của nhân loại kể tù khi khai sinh lập địa cho
đến giai đoạn phát triển cao hiện nay, vai trò quyết định của kinh tế đối với đời sỗng xã
8
hội không hề thay đổi. Lợi ích kinh tế là lợi ích căn bản nhất cuả lợi ích quốc gia. Việc
bảo vệ an ninh kinh tế giữ một vị trí trung tâm trong việc bảo vệ an ninh quốc gia.
Trong cộng đồng quốc tế, quan hệ kinh tế giữa các nớc là cơ sở của quan hệ quốc tế.
Trong quan hệ quốc tế cuộc cạnh tranh giữa các nớc chủ yếu là kinh tế, mỗi quốc gia
đều coi lợi ích kinh tế là con bài chủ yếu để mặc cả với nhau, thậm trí là mục tiêu chủ
yếu để công kích lẫn nhau, chiến tranh kinh tế bùng phát ngay cả giữa những nớc đồng
minh chính trị quân sự với nhau. Chính sách ngoại giao bá quyền của Mỹ chủ yếu là
cấm vận kinh tế đối với những quốc gia mà Mỹ cho là cơ sở nguy hại đến lợi ích an
ninh Mỹ. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II cho đến 1996, Mỹ đã tiến hành 115 cuộc
cấm vận kinh tế. Ngay cả chue nghĩa khủng bố quốc tế cũng dựa vào vũ khí kinh tế. Sự
cách trở này là nhân tố ảnh hởng lớn đến xu thế toàn cầu hoá. trong bối cảnh chiến
nghệ sinh học phát triển nhảy vọt ngày càng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Điều
đó đã tác động trực tiếp đến quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để
phát triển vừa đấu tranh hết sức phúc tạp đặc biệt là đấu tranh của các nớc phát triển
bảo vệ lợi ích của mình. Bức tranh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cực kỳ đa dạng và
phức tạp. Một mặt toàn cầu hoá hội nhập kinh tế giúp cho các nớc đang phát triển có
cơ hội mở rộng thị trờng tăng thu hút đầu t và công nghệ, tham gia một cách bình đẳng
vào xây dựng nhng luật "luật chơi" chung công bằng và bình đẳng hơn để bảo vệ lợi ích
của mình. Mặt khác quá trình này đặt các nớc đó vào vị thế dễ bị thua thiệt nếu không
tích cực và chủ động tham gia.
Nhận thức rõ những cơ hội và thách thức đó, xuất phát từ mục tiêu hội nhập kinh
tế quốc tế là để phát triển đất nớc, đẩy mạnh công nghiệp hoá theo định hớng XHCN
thực hiện dân giàu, nớc mạnh xã hội công bằng văn minh. Đảng và Nhà nớc ta ngay từ
đầu năm 1990 đã chủ trơng tích cực tham gia hội nhập khu vực và thế giới với phơng
châm: hội nhập kinh tế quốc tế là luôn giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia,
không ngừng phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và giữ vững định hớng XHCN. Bên cạnh
đó chúng ta cũng khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế phải tiến hành từng bớc với lộ
trình hợp lý, phù hợp với điều kiện của một nớc đang phát triển có nền kinh tế đang
trong quá trình chuyển đổi nh nớc ta. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi chỉ
trên cơ sở những bớc đi phù hợp , chúng ta mới có thể vợt qua đợc những thách thức to
lớn và tận dụng đợc những cơ hội thuận lơị mà tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế có thể
đem lại. Thực tế cho thấy tuy chỉ ở giai đoạn đầu nhng tiến trình đa dạng hóa, đa phơng
hoá quan hệ hội nhập kinh tế của cùng với những cải cách và đổi mới trong nớc, đã đa
đất nớc ta lên một tầm cao mới, gặt hái đợc những thành quả đáng khích lệ trên nhiều
lĩnh vực.
II. Thực trạng hội nhập kinh tế ở Việt nam
10
1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.1. Thuận lợi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1.Thuận lợi rất cơ bản đầu tiên của Việt Nam trong quá trình hội nhập
11
với bờ biển rộng trải dài từ Bắc tới Nam với nhiều hải cảng, đặc biệt là cảng Cam Ranh
có độ sâu thuận lợi cho phát triển giao thông hàng hải cũng nh phát triển kinh tế hàng
hoá. Ngoài một số khoáng sản nh Bôsit có chữ lợng lớn 5 tỷ tấn đứng thứ ba trên thế
giới , quặng đất hiếm có trữ lợng lớn đứng thứ 2 trên thế giới, sau Trung Quốc thì các
loại khoáng sản ở Việt Nam tuy trữ lợng không lớn nhng rất đa dạng và phong phú. Với
nguồn tài nguyên hiện có chúng ta cần tập trung phát triển ngành vật liệu xây nghiệp:
gốm, sứ, du lịch, kết hợp phát triển từ các sản phẩm công nghiệp để tạo ta sản phẩm
xuất khẩu. Đồng thời chú ý phát triển các loại hình xí nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở liên
doanh để tận dụng nguồn phóng sản phong phú, đa dạng phục vụ nhu cầu CNH, HĐH.
Đến nay, sau gần 17 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những kết
quả quan trọng để chủ động hội nhập kinh tê quốc tế. Thuận lợi này có tác dụng thúc
đẩy quá trình đổi mới ở Việt Nam.
1.1.3. Những thời cơ mới để Việt Nam phát triển trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế đó là:
Mở rộng thị trờng ra nớc ngoài, tìm hiểu thị trờng mới cho hàng hoá Việt Nam
trên cơ sở các hiệp đinh thơng mại song phơng đã ký kết.
Việc mở rộng thị trờng ra nớc ngoài sẽ đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của nền
kinh tế Việt Nam. Nếu chúng ta thực hiện đầy đủ cam kết của AFTA vào năm 2006
thì các hàng công nghiệp chế biến mang thơng hiệu Việt Nam có thể tiêu thụ ở tất cả
các nớc ASEAN - thị trờng có số dân hơn nửa tỷ ngời và GDP trên 700 tỷ USD. Trong
tơng lai gần, khi gia nhập WTO thì Việt Nam sẽ đợc hởng quyền u đãi tối huệ quốc
(MFN) và hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu 148 nớc thành viên của các tổ chức này đ-
ợc thuận lợi hơn. Nhìn về tơng lai xa hơn, nếu nh nhìn vào năm 2020 hàng rào thuế
quan các nớc APEC đợc rỡ bỏ thì hàng hoá "Made in Vietnam" sẽ có một thị trờng tiêu
thụ rất rộng lớn. Thực tế cho thấy nếu trớc khi hiệp định thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ
có hiệu lực, thuế xuất của hàng hoá Việt Nam vào thị trờng Mỹ ở mức từ 40% đến 50%
thì sau khi hiệp định đó có hiệu lực thuế suất chỉ còn từ 3% đến 4%. Nhờ đó hàng thuỷ
sản của Việt Nam xuất sang thị trờng Mỹ tăng từ 6% (năm 1998) lên 27.8% (năm 2000) và
năm 2002 còn tăng cao hơn.
nhiều phơng diện.
Sự phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế mới nh hoạt động thơng mại, dịch
vụ, công nghiệp bảo quản nông phẩm chế biến,sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ sẽ tạo
ra nhiều việc làm mới do vậy sẽ giảm tỉ lệ thất nghiệp. Mặt khác để thích ứng với quá
trình xã hội hoá lao động, chất lợng nguồn nhân lực sẽ đợc nâng cao, ngời lao động sẽ
chuyển dần từ lao động giản đơn sang lao động phức tạp, từ lĩnh vực có năng suất thấp
sang lĩnh vực có năng suất cao.
13