trang 1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN.
1.1- Khái niệm cổ phần hóa – đặc điểm của công ty cổ phần :
1.1.1 – Khái niệm cổ phần hóa.
1.1.2 – Đặc điểm của công ty cổ phần.
1.1.2.1- Cổ phần phổ thông.
1.1.2.2- Cổ phần ưu đãi.
1.1.3- Khái niệm DNNN độc quyền.
1.1.3.1- Độc quyền bán
1.1.3.2- Song độc quyền
1.1.3.3- Độc quyền mua
1.1.4.4- Độc quyền tự nhiên
1.4.1.5- Khái niệm DNNN độc quyền
1.2 – Sự cần thiết phải CPH DNNN ở Việt Nam :
1.2.1- Sự cần thiết phải CPH DNNN
1.2.2- Mục tiêu CPH DNNN
1.2.2.1- Nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động
của DNNN
1.2.2.2- Làm lành mạnh hoá tình hình tài chính, phát triển thò
trường vốn, thò trường chứng khoán.
1.2.2.3- Phát huy quyền làm chủ của người lao động trong DN
1.3- Mục tiêu cổ phần hóa DNNN độc quyền :
1.4- Các phương pháp đònh giá doanh nghiệp :
1.4.1- Phương pháp đònh giá theo giá trò tài sản thuần
1.4.2- Phương pháp đònh giá theo mô hình chiết khấu dòng tiền (DCF)
1.5.4- Bài học kinh nghiệm được rút ra cho việc thúc đẩy cổ phần hoá.
Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA TẠI CÁC DNNN ĐỘC QUYỀN Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1 – Cơ sở pháp lý của cổ phần hoá.
2.2- Thực trạng cổ phần hóa DNNN độc quyền ở nước ta trong thời gian
qua:
2.2.1- Giai đoạn thí điểm từ năm 1992 đến tháng 1996.
2.2.2- Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 06/1998.
2.2.3- Giai đoạn mở rộng tiến trình cổ phần hoá (từ tháng 06/1998 đến
nay).
2.2.3.1- Công tác CPH tại Tổng công ty Bưu chính – viễn thông
(VNPT).
2.2.3.2- Công tác CPH tại Tổng công ty Điện lực Việt Nam
(EVN).
2.2.3.3- Công tác CPH tại Tổng công ty Hàng Không Việt Nam
(Vietnam Airlines).
2.3- Những thành tựu và hạn chế, vướng mắc của tiến trình cổ phần hoá
ở nước ta trong thời gian qua:
2.3.1 – Những thành tựu:
2.3.1.1- Tăng cường vai trò chủ đạo của DNNN.
2.3.1.2- Khả năng huy động vốn, bảo tồn vốn nhà nước và hiệu
quả KD.
2.3.1.3- Việc làm và thu nhập của người lao động trong các công
13
14
16
17
trong công tác chỉ đạo thực hiện.
2.3.2.3-Vướng mắc trong khâu đònh giá DNNN độc quyền.
2.3.2.4-Vướng mắc trong quá trình xử lý nợ tồn đọng.
2.3.2.5-CPH khép kín làm cho chủ trương CPH DNNN độc quyền
khó đạt được mục tiêu ban đầu.
2.3.2.6-Cơ chế đối với người lao động chưa được giải quyết triệt
để.
2.3.2.7 - Thời gian để tiến hành CPH một DNNN quá dài.
2.3.2.8- Cơ sở pháp lý cho CPH chưa vững chắc.
2.3.2.9- Thò trường chứng khoán non trẻ, yếu kém
Kết luận chương 2
CHƯƠNG III :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CỔ
PHẦN HÓA TẠI CÁC DNNN ĐỘC QUYỀN Ở VIỆT NAM
3.1- Mạnh dạn thay đổi tư duy về CPH DNNN độc quyền trong các cấp
quản lý, thông qua đó thay đổi cơ chế CPH DNNN độc quyền.
3.2- Nhóm giải pháp giải quyết vướng mắc trong xử lý tài chính và xác
đònh giá trò DNNN độc quyền trước khi CPH:
3.2.1- Một số giải pháp giải quyết vướng mắc trong khâu đònh giá
DNNN độc quyền.
3.2.2- Một số giải pháp giải quyết vướng mắc khâu xử lý nợ tồn đọng.
3.3- CPH DNNN độc quyền kết hợp xoá bỏ độc quyền bán và song độc
quyền để nâng cao sức cạnh tranh chung cho cả nền kinh tế.
40
41
42
42
42
3.6- Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho CPH.
3.7- Nhóm giải pháp giải quyết vướng mắc trong cơ chế đối với người lao
động trong DNNN độc quyền :
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
64
65
68
66
68
trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
1- Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHỌN ĐỀ TÀI :
một doanh nghiệp nào trực thuộc, điển hình là Tổng công ty công nghiệp tàu thủy.
Tỷ trọng vốn của các DNNN đã CPH chỉ bằng 8,2% tổng số vốn toàn bộ khối
DNNN (khoảng 17.700 tỷ đồng). Qua đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát
triển doanh nghiệp, từ năm 1992 đến nay chưa có năm nào chúng ta hoàn thành kế
hoạch cổ phần hoá theo lộ trình do Chính phủ đề ra. Sở dó tiến trình cổ phần hoá
diễn chậm chạp một mặt là do các Bộ, ngành, đòa phương chưa quyết liệt trong việc
tổ chức thực hiện. Mặt khác, cũng còn rất nhiều vướng mắc về chính sách chưa
được tháo gỡ trong suốt quá trình cổ phần hoá, đặc biệt là chính sách đònh giá. Đó
cũng là nguyên nhân chính làm cho chậm tiến trình cổ phần hoá tại các DNNN độc
quyền.
Để góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá của nước ta được nhanh hơn,
đem lại nhiều hiệu quả thiết thực hơn, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu : "Cổ phần
hoá doanh nghiệp Nhà nước độc quyền ở Việt Nam” với mong muốn góp phần
hoàn thành chủ trương cổ phần hoá mà Đảng đề ra và tạo cho TTCK Việt Nam
nhiều hàng hoá có chất lượng cao.
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
DNNN độc quyền hiện đang nắm giữ tỷ lệ vốn Nhà nước rất lớn, hoạt động trong các lónh
vực thiết yếu trong nền kinh tế . Mặc dù, được hoạt động trong môi trường độc quyền, ít cạnh tranh
nhưng hiệu quả của chúng đem lại rất thấp, chưa phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
trang 7
quốc dân. Vì thế, vấn đề cổ phần hoá nhằm đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động
và đặc biệt nâng cao chất lượng hàng hoá dòch vụ phục vụ cho công chúng, xóa bỏ độc quyền, tự do
hoá thong mại hướng đến hội nhập kinh tế thế giới là rất cần thiết và cần được sự quan tâm ủng hộ
của toàn thể nhân dân. Mục đích của đề tài cũng xuất phát từ mối quan tâm đó.
3- ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU– PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
3.1- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Để thực hiện mục đích trên, luận án nghiên cứu tiến trình cổ phần hoá ở Việt
Nam. trong đó nghiên cứu sâu về tiến trình CPH tại các DNNN độc quyền. Tuy nhiên,
chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề còn hạn chế, vướng mắc trong quá trình
cổ phần hoá DNNN độc quyền ở Việt nam hiện nay như : công tác tạo nhận thức và chỉ
Chương 2 : Thực trạng cổ phần hóa tại các DNNN và DNNN độc quyền ở Việt
Nam trong thời gian qua .
Chương 3 : Một số giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa tại các
DNNN độc quyền ở Việt Nam.
trang 9
DANH MỤC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 1 Lộ trình sắp xếp, đổi mới DNNN từ năm 2003-2005 Trang 29
Bảng 2 Số lượng DNNN CPH trong cả nước từ 1992-tháng 6/2005 Trang 31
Bảng 3 Tổng số khách nội đòa Vietnam Airlines vận chuyển từ 1991-
2002
Trang 37
Bảng4 Tổng số khách quốc tế Vietnam Airlines vận chuyển từ
1991-2002
Trang 37
Bảng 5 Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế và ngành kinh
tế
Trang 41
Bảng 6 Tình hình niêm yết chứng khoán trên TTCK từ 07/2002-
04/2005
Trang 54
DANH MỤC BIỂU
BIỂU NỘI DUNG TRANG
Biểu 1 Tỷ lệ sở hữu bình quân trong DNNN cổ phần hoá Trang 30
Biểu 2 Cơ cấu DNNN CPH trong các Bộ, ngành, đòa phương Trang 30
Biểu 3 Tiến độ cổ phần hoá DNNN từ 1992 đến nay Trang 31
Biểu 4 Số liệu thuê bao điện thoại từ 2000-04/2005 (ĐT cố đònh và
DĐ)
lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; mỗi cổ đông chỉ chòu trách
nhiệm về nợ và các nghóa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
trang 11
đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết); cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số
lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Các công ty cổ
phần đều có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy đònh của pháp
luật về chứng khoán. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty được thể hiện dưới
hình thức cổ phiếu. Giá trò mỗi cổ phần (mệnh giá cổ phần) do công ty quyết đònh
và ghi vào cổ phiếu. Mệnh giá cổ phần có thể khác với giá chào bán cổ phần. Giá
chào bán cổ phần do Hội đồng quản trò của công ty quyết đònh, nhưng không được
thấp hơn giá thò trường tại thời điểm chào bán, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi
tên hoặc không ghi tên. Luật công ty một số nước có quy đònh mệnh giá tối thiểu
của một cổ phiếu và nguyên tắc làm tròn số. Luật doanh nghiệp của Việt Nam
không có quy đònh này, nhưng các công ty cổ phần thường phát hành cổ phiếu có
mệnh giá tương đương để dễ dàng so sánh trên thò trường chứng khoán. Cổ phiếu có
thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trò quyền
sử dụng đất, giá trò sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy
đònh tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần.
Luật DNNN năm 1999 của Việt Nam quy đònh các loại cổ phần như sau :
1.1.2.1- Cổ phần phổ thông : công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông và
cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ
phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông.
trang 12
1.1.2.2- Cổ phần ưu đãi : công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi và người nắm
giữ cổ phần ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau:
1.1.3.2- Song độc quyền : các DN độc quyền có thể có thò phần sấp xỉ tương
đương và cạnh tranh mạnh mẽ các dòch vụ mới nhưng vẫn kiếm được lợi nhuận cao.
Không nhất thiết phải có sự cấu kết giữa 02 DN này để đạt được lợi nhuận cao mà
đối thủ cạnh tranh ý thức được có thể tăng gia lợi nhuận bằng cách hạn chế cung
trong lúc đối thủ cạnh tranh cũng có khả năng như nhau.
1.1.3.3- Độc quyền mua : các DN phải đối mặt với cạnh tranh trong thò trường sản phẩm
của mình khi mua thiết bò được chuyên môn hoá đến mức không có những người mua khác.
1.1.3.4- Độc quyền tự nhiên : độc quyền tự nhiên là khái niệm trên thò trường có nhà cung
cấp duy nhất có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng với giá thấp hơn các nhà cung cấp khác
mà không bò mất hiệu quả kinh tế nhờ quy mô và hiệu quả kinh tế .
1.1.3.5- Khái niệm DNNN độc quyền :
Doanh nghiệp nhà nước độc quyền là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu
Nhà nước, được Chính phủ ấn đònh kinh doanh độc quyền trong các lónh vực công
ích, lónh vực có sức ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế – chính trò – xã hội và an
ninh quốc phòng như : điện, nước , bưu chính viễn, hàng không, đường sắt...Do hoạt
động trong môi trường độc quyền, hầu như không có cạnh tranh nên họ được quyền
ấn đònh giá bán ra và mọi người trong xã hội đều chấp nhận giá đó. Vì vậy, DNNN
độc quyền có vò trí quan trọng trong nền kinh tế và có khả năng chi phối, điều tiết
tình hình kinh tế – chính trò – xã hội theo đònh hướng của Nhà nước.
trang 14
1.2- Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam :
1.2.1- Sự cần thiết phải CPH DNNN :
Xuất phát từ yêu cầu bức xúc thực tế để cải cách, đổi mới DNNN và chuyển
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, hơn là việc ứng dụng từ một mô hình lý thuyết sao
chép của nước ngoài, do đó cổ phần hoá ở Việt Nam có yêu cầu riêng :
Thứ nhất, cổ phần hoá không nhằm mục đích tư nhân hoá càng nhanh càng tốt
các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước để làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà
nước, cổ phần hoá ở Việt Nam trước hết nhằm huy động vốn cho doanh nghiệp, bởi vì
bản thân tiền thu về do bán cổ phần vẫn được nhà nước tiếp tục đầu tư vào DNNN.
Thứ hai, cổ phần hoá DNNN nhằm cơ cấu lại hệ thống DNNN bằng cách du
cung cách quản lý, đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng đang rất phổ biến tại các
DNNN ... góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, phát huy vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
¾ DNNN sau CPH không còn thụ động trông chờ vào việc trợ cấp vốn hay
bảo lãnh vay nợ của Nhà nước như trước đây, mà họ có điều kiện tiếp cận nhiều
nguồn vốn khác thông qua TTCK, từ đó chủ động trong phát triển các chiến lược
kinh doanh và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
1.2.2.2- Làm lành mạnh hoá tình hình tài chính, phát triển thò trường vốn, thò
trường chứng khoán:
trang 16
¾ Tiến trình cổ phần hoá làm cho số lượng DNNN giảm, cũng có nghóa là gián
tiếp làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng của Nhà nước. Đặc biệt là giảm bớt
áp lực vay vốn tín chấp lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và các quỹ tín dụng
nhà nước làm cho tình hình tài chính của các ngân hàng này được lành mạnh hoá và tạo
cơ hội cho các thành phần kinh tế khác tiếp cận các nguồn vốn vay, thò trường tài chính
sẽ bình đẳng và phù hợp với quy luật cung cầu của thò trường hơn.
¾ Tiến trình cổ phần hoá sẽ làm xuất hiện nhiều công ty cổ phần, thông qua
việc phát hành và niên yết cổ phiếu tạo "hàng hoá" cho thò trường sơ cấp về cổ
phiếu. Thò trường sơ cấp phát triển tốt thì thò trường thứ cấp mới có khả năng phát
triển nhanh được. Đặc biệt là CPH tại các Tổng công ty lớn và DNNN độc quyền sẽ
tạo ra những "sản phẩm chất lượng cao" cho TTCK Việt Nam, kích thích các nhà
đầu tư quan tâm hơn đến chứng khoán, góp phần thúc đẩy thò trường chứng khoán
non trẻ của nước ta ngày càng phát triển.
1.2.2.3- Phát huy quyền làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp :
Cổ phần hoá tạo điều kiện cho tất cả người lao động trong doanh nghiệp có cơ
hội làm chủ doanh nghiệp nếu họ muốn nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp và họ
có điều kiện tham gia vào việc quyết đònh các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
thông qua Đại hội cổ đông. Quyền lợi của người lao động sẽ hòa quyện với lợi ích
của doanh nghiệp từ đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của họ góp phần làm cho
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Singapore đã mang lại thành công ngoài sức tưởng tượng. Singapore có lúc là một
trang 18
trong những quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh cao nhất thế giới, hơn cả Mỹ, do hầu
như tất cả người dân ở đảo quốc này đều có khả năng đọc và giải thích được các
thông tin tài chính quốc tế. Chính điều này đã làm cho hầu hết các nhà đầu tư nước
ngoài đều cảm thấy làm ăn rất dễ dàng với công chúng tại đây.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn trên, phần nào cũng phù hợp với hoàn cảnh
Việt Nam hiện nay, để chủ trương CPH DNNN độc quyền thành công, tránh đi
những khẩu hiệu giống những kết quả không mong đợi trong các chủ trương CPH
DNNN hơn 10 năm qua, Chính phủ cần mạnh dạn đưa vào trong Nghò đònh về CPH
mục tiêu riêng đối với CPH DNNN độc quyền là "Nhằm mang lại phúc lợi và tiện
ích cho đa số mọi người, nhất là người nghèo, với chi phí thấp nhằm tăng sức cạnh
tranh chung của cả nền kinh tế trong lộ trình hội nhập".
Ngoài ra, CPH DNNN độc quyền góp phần xoá bỏ tình trạng độc quyền nhà
nước. Nếu chính phủ tiếp tục duy trì hình thái DNNN độc quyền thì thò trường cạnh
tranh ở Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành thò trường cạnh tranh hoàn hảo. Cạnh
tranh không hoàn hảo dẫn đến xu hướng thôn tính hoặc tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù đã mở cửa cho các thành phần kinh tế tham gia
vào các dòch vụ cung ứng điện, viễn thông nhưng hầu như ai cũng thấy tình trạng
chèn ép của các Tổng công ty độc quyền đối với thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh. Chính điều này làm cho tiến trình tự do hoá thương mại, tự do hoá giá cả của
Chính phủ không đem lại hiệu quả cao, làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu
tư của Việt Nam. Vì vậy, nếu tiến trình CPH DNNN độc quyền kết hợp với tiến
trình tự do hoá thương mại mà cụ thể là tự do hoá giá cả một mặt sẽ nâng cao hiệu
quả hoạt động của các DNNN độc quyền, nâng cao chất lượng dòch vụ, nâng cao
sức cạnh tranh chung cho nền kinh tế. Mặt khác, sẽ cải thiện tốt môi trường cạnh
trang 19
tranh, tạo nên một sân chơi bình đẳng và khuyến khích hơn nữa sự phát triển của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và thu hút đầu tư nước ngoài.
Như vậy, những mục tiêu mang tính dài hạn này sẽ làm tăng thêm niềm tin của
- V
D
Với : - V
E
: Giá trò thò trường của vốn cổ phần.
- V
A
: Giá trò thò trường của toàn bộ tài sản.
- V
D
: Giá trò thò trường của các khoản nợ.
Phương pháp này có một số nhược điểm sau :
- Giá trò sổ sách kế toán thường rất khác với giá trò thò trường. Việc xác đònh giá
trò thò trường của các loại tài sản và nợ của DN là việc làm khó khăn, đòi hỏi người
thực hiện phải am tường nhiều lónh vực và có đầy đủ thông tin. Phí tổn cho việc
đònh giá theo phương pháp này lớn và mất nhiều thời gian. Đònh giá doanh nghiệp
theo phương pháp này thường vấp phải những bất cập trong xác đònh giá trò thò
trường đối với lợi thế vô hình của DN.
- Phương pháp này chứa đựng nhiều tính chủ quan trong đònh giá.
- Phương pháp này có thể áp dụng đối với các loại DN, trừ những công ty cổ
phần đã tham gia niêm yết.
1.4.2- Đònh giá DN theo mô hình chiết khấu dòng tiền (DCF) :
Đònh giá theo mô hình DCF dựa trên nguyên tắc giá trò ngày hôm nay của
doanh nghiệp luôn bằng với dòng tiền tương lai sau khi chiết khấu theo chi phí sử
dụng vốn.
PV (công ty) = PV (dòng tiền tự do)
= PV (Thu nhập – giá trò đầu tư thuần)
∑
=
+
43421444444344444421
H
H
H
H
r
PV
r
FCF
r
FCF
r
FCF
PV
)1()1(
........
)1(1
2
21
+
+
+
++
+
+
+
=
PV(dòng tiền tự do) PV (giá trò DN tại thời điểm H)
học kinh nghiệm cho Việt Nam :
Trước tình trạng hoạt động kém hiệu quả của hầu hết DNNN trên thế giới,
thậm chí ngay cả khi DNNN được hoạt động trong môi trường độc quyền, không có
cạnh tranh vẫn không thể đem lại lợi nhuận đã buộc Chính phủ các nước phải nhìn
nhận, đánh giá lại vai trò chủ đạo của nó. Từ thực tiễn đó, chương trình chuyển đổi
sở hữu, đa dạng hoá hình thức sở hữu trong DNNN hình thành và phát triển rộng
rãi, mạnh mẽ trên thế giới từ những năm đầu thập niên 1980. Anh là quốc gia tiến
hành nhân hóa đầu tiên tiến hành tư nhân hoá, sau đó lan rộng ra các nước trên thế
giới và hiện nay vẫn còn đang tiếp diễn khá sôi động. Tuy đặc thù kinh tế của từng
quốc gia khác nhau, tiến trình thực hiện cải cách DNNN và hiệu quả đem lại ở các
nước trên thế giới cũng khác nhau, nhưng qua nghiên cứu kinh nghiệm tư nhân hoá,
cổ phần hóa của một số nước trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc chúng ta có thể
rút ra một số bài học cho việc thực hiện cổ phần hóa DNNN ở nước ta.
1.5.1- Cổ phần hóa ở Trung quốc :
Trung Quốc thực hiện chủ trương cổ phần hoá DNNN từ đầu những năm 1980.
Họ khẳng đònh đây chính là con đường tìm kiếm cơ chế kinh doanh có hiệu quả
trong điều kiện xác đònh kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Quan điểm của
Chính phủ Trung Quốc là “tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không
chậm và luôn tỉnh táo, thận trọng”. Xuất phát từ quan điểm đó, tiến trình cổ phần
hoá diễn ra khá chậm, giai đoạn thí điểm kéo dài. Tuy vậy tính đến nay cổ phần
hoá ở Trung Quốc đã thực hiện khá rộng rãi và đạt được nhiều thành công.
trang 23
Cải cách DNNN ở Trung Quốc trãi qua 4 giai đoạn :
• Giai đoạn thứ nhất từ năm 1978 đến năm 1984 : cổ phần hoá mới chỉ trên giấy tờ.
• Giai đoạn 2 từ năm 1984 đến năm 1986 : đây là giai đoạn thí điểm, việc cổ phần
hoá chủ yếu được tiến hành dưới hình thức thành lập công ty cổ phần mới và hầu như là
Nhà nước đều nắm giữ số cổ phần khống chế. Việc cổ phần hoá DNNN đang hoạt động
trong giai đoạn này rất hạn chế. trong khi đó các xí nghiệp tập thể, tư nhân nông thôn lại
phát triển rất nhanh làm cho tiến trình cổ phần hoá càng khó khăn.
• Giai đoạn 3 từ năm 1987 đến năm 1993 : mặc dù hoạt động của xí nghiệp
Cách nay 5 năm chỉ với 1/10 dân số Trung quốc có điện thoại, hiện nay con số đó là
1/3 và hơn 1,25 triệu thuê bao điện thoại di động ký kết mỗi tuần.
Tuy nhiên, trong quá trình đẩy mạnh cổ phần hoá Trung Quốc cũng gặp nhiều
sức ép từ phía người lao động do chưa có chính sách giải quyết số lao động dôi dư.
1.5.2- Tư nhân hoá ở Anh :
Cải cách DNNN dưới hình thức tư nhân hoá khá phổ biến ở các nước Tư bản
chủ nghóa do sự phát triển hoàn hảo của nền kinh tế thò trường buộc các doanh
nghiệp phải tự lột xác để tồn tại hoặc phá sản. Anh quốc là quốc gia Tư bản chủ
nghóa nhưng có thành phần kinh tế nhà nước tương đối lớn, chiếm tỷ lệ 20% nền
kinh tế quốc gia (CPH DNNN – kinh nghiệm thế giới, NXB thống kê Hà Nội), việc
hoạt động kém hiệu quả của DNNN là một cản trở lớn trong phát triển kinh tế của
Anh. Chính vì lẽ đó Chính phủ Anh đã đề cập đến tiến trình cải cách DNNN sớm
nhất. Tiến trình tư nhân hóa ở Anh trãi qua 3 giai đoạn đặc trưng sau :
- Giai đoạn thứ nhất từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX đến
khoảng giữa năm 1984 : Trong giai đoạn này Chính phủ Anh tiến hành tư nhân hoá
trang 25
những doanh nghiệp quy mô nhỏ, hoạt động trong những lónh vực ít nhạy cảm,
không mang yếu tố độc quyền.
- Giai đoạn II là từ giữa năm 1984 đến 1987 : thực hiện tư nhân hóa từng phần
các doanh nghiệp nhà nước có yếu tố độc quyền hoặc lónh vực công ích.
- Giai đoạn III là từ năm 1987 đến nay : thực hiện bán rộng rãi cho tư nhân các
DNNN độc quyền hoặc lónh vực công cộng nhằm phát huy hơn hiệu quả hoạt động
của các doanh nghiệp này.
Chính phủ Anh ban hành Đạo luật 1984 loại bỏ độc quyền trong các lónh vực cung
cấp hàng hoá, dòch vụ công cộng (điện lực, bưu chính...), đồng thời cổ phần hoá các
công ty độc quyền Nhà nước. Đến năm 1991, Chính phủ Anh chính thức xoá bỏ hoàn
toàn độc quyền và song độc quyền trong một số lónh vực công cộng, đặc biệt là ngành
viễn thông, mở cửa cho các nhà đầu tư tham gia hoạt động trong các lónh vực này. Chủ
trương này đã góp phần thúc đẩy kinh tế Anh phát triển mạnh.
Khi thực hiện tư nhân hoá, Chính phủ Anh gặp nhiều phản ứng gay gắt của