CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚCTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Duy Nghĩa – Dương Kim Thế Nguyên
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TẠI DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM 2014
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Duy Nghĩa – Dương Kim Thế Nguyên
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TẠI DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM 2014
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014
i
MỤC LỤC
Trang
1 Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước
2 Thực trạng chế độ pháp lý về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp
3 Kinh nghiệm của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) về
quản trị doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước
4 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về giám sát vốn đầu tư của
nhà nước tại doanh nghiệp qua nghiên cứu tình huống tại Tập đoàn
công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin)
5 Một số kiến nghị chính sách nhằm góp phần giám sát hiệu quả vốn
đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Về mặt khoa học pháp lý, sau khi Luật DNNN 2003 hết hiệu lực vào ngày
30/06/2010, thì ở Việt Nam DNNN không còn tồn tại một loại hình doanh nghiệp
có chế độ pháp lý riêng biệt mà phải hoạt động như các công ty TNHH hoặc công ty
cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy không còn khái niệm doanh nghiệp nhà
nước, song nền kinh tế với các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc
chiếm một phần vốn đủ để kiểm soát công ty vẫn được duy trì.
Mặc dù, doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành các công ty TNHH hoặc
CTCP hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005, song đạo luật này lại thiếu vắng các
quy định về giám sát hoặc thực hiện quyền chủ sở hữu của cổ đông nhà nước. Một
khoảng trống pháp lý đã xuất hiện đối với việc giám sát thực hiện quyền chủ sở hữu
của cổ đông nhà nước trong các công ty, cho đến nay vẫn chưa được khỏa lấp. Vào
thời điểm hiện tại, cơ quan và cá nhân nào có quyền thực hiện quyền sở hữu (QSH)
đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là vấn đề chưa thật rõ ràng
về lý thuyết và quy định pháp lý.
Trong thực tiễn, đã xuất hiện hai cơ chế quản lý và thực hiện vốn chủ sở hữu
tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước, thứ nhất theo cơ chế bộ chủ quản,
tức là doanh nghiệp nhà nước do một cơ quan nhà nước thành lập, tổ chức và quản
lý như người chủ sở hữu, thứ hai, chuyển dần một số quyền chủ sở hữu, đặc biệt là
quyền kiểm soát vốn và tài sản về cho một đơn vị chuyên kinh doanh vốn nhà nước
có tên gọi TCT đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Về thực hiện quyền chủ sở hữu tại doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước
theo cơ chế chủ quản, có thể chỉ ra một số điểm còn tồn tại như sau :
- Thứ nhất, nhiều cơ quan quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước (KTNN) và
TCT 91, nhưng thực tế không biết đơn vị nào thực hiện chức năng đại diện CSH
vốn nhà nước
- Thứ hai, cơ chế giám sát vốn nhà nước tại các tập đoàn KTNN bị buông
lỏng
iv
- Thứ ba, trách nhiệm giải trình không rõ ràng

trường hợp mở rộng đầu tư sang những lĩnh vực rủi ro mà doanh nghiệp mình không
có thế mạnh, như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, công ty tài chính, gây ra
những “cơn sốt” và thua lỗ. Trong khi đó, nhiều hạng mục cần thiết cho nền kinh tế,
đúng thế mạnh của kinh tế nhà nước lại thiếu được chú trọng vì lý do “thiếu vốn”.
Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có vốn
đầu tư của nhà nước vẫn đóng các vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt
Nam. Sự tồn tại của chúng đặt ra ba thách thức với nhà nước, thứ nhất, làm sao xử
lý hay cân đối được vai trò của Chính phủ giữa hai tư cách vừa là chủ sở hữu
DNNN vừa là nhà lập chính sách và điều hành kinh tế vĩ mô, thứ hai, làm sao bảo
đảm sự tham gia của DNNN vào thị trường không gây bất bình đẳng và bóp méo
các quy luật cạnh tranh, và thứ ba, làm sao giải quyết bài toán hiệu quả kinh doanh
của DNNN?
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp nhà nước của tổ
chức hợp tác kinh tế phát triển, nội dung nghiên cứu của đề tài đã đề xuất bước đầu,
góp phần quản lý tốt hơn phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm :
- Tách bạch quản lý hành chính nhà nước và quản lý của CSH , trong đó cần
áp dụng giải pháp tách bạch phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp chủ yếu như
(1)nhóm các doanh nghiệp độc quyền nhà nước mà hiện tại hoặc theo lộ trình sắp
xếp chưa cho phép tư nhân tham gia đầu tư khác với (2)nhóm các doanh nghiệp
hoạt động vì mục đích kinh doanh theo đuổi lợi nhuận, trong các ngành, nghề, lĩnh
vực có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước:
- Lựa chọn mô hình quản lý vốn nhà nước tại DNNN: Mô hình quản lý vốn
nhà nước tại DNNN phù hợp cho Việt Nam hiện nay nên có hai cấp.
Ở cấp doanh nghiệp, việc quản lý vốn nhà nước được thực hiện chủ yếu
thông qua các TCT đầu tư tài chính nhà nước tương tự như SCIC và các TĐKTNN,
thực hiện chủ yếu thông qua phương thức đầu tư vốn; các công ty mẹ của Tập
đoàn/TCT đầu tư vốn vào các công ty con, và quản lý các công ty con với tư cách là
đại diện CSH vốn nhà nước đã đầu tư vào công ty con đó.
vi
Ở cấp quản lý nhà nước, chức năng CSH vốn nhà nước tại doanh nghiệp

khoa học cấp Bộ, Bộ KH&ĐT;
(3) Trần Tiến Cường (2008), Đổi mới nội dung và phương thức quản lý,
giám sát của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước phù hợp với thể chế kinh tế
thị trường và cam kết gia nhập WTO, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ KH&ĐT;
(4) Nguyễn Thiềng Đức (2004), Cơ chế quản lý vốn tại doanh nghiệp, Đề tài
nghiên cứu khoa học;
(5) Gao, S.Q và Yang, Q.X (2001), Cải cách DNNN ở Trung Quốc, NXB
Nhân dân Tế Nam, Trung Quốc (bản dịch tiếng Việt);
2
(6) Lin, Y. F và Cai, F (1997), Thông tin đầy đủ và Cải cách DNNN, NXB
Sơn Liên, Thượng Hải (bản dịch tiếng Việt).
(7) Vũ Thị Hồng Loan (2003), “Cơ chế quản lý và giám sát tài sản nhà nước
tại doanh nghiệp Trung Quốc”, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, 12, tr.36.
(8) Phạm Phan Dũng (2004), Hội nghị quốc tế quản trị doanh nghiệp, Bộ Tài
chính, Đổi mới phương thức quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, Việc quản lý vốn đầu tư của nhà nước tại các DN, nhất là DNNN
và DN có vốn đầu tư liên doanh giữa VN và nước ngoài vẫn đang là đề tài bỏ ngỏ.
Ở ngoài nước, OECD có một số hướng dẫn về quản trị DNNN, song ít nghiên cứu
về mô hình nhà nước nên quản lý phần vốn của mình ra sao. Chính vì vậy, trong bồi
cảnh hiện tại, việc nghiên cứu đề tài “chế độ pháp lý về quản lý vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp nhà nước” là rất thời sự, có ý nghĩa cho việc hoàn thiện hệ thống
lý luận về khoa học kinh tế ở Việt Nam và thực tiễn đóng góp cho thực tiễn hoàn
thiện hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đến các mục tiêu sau đây :
• Làm rõ nhà nước hiện đang quản lý vốn đầu tư vào DN bằng những
công cụ pháp lý nào;
• Đánh giá các công cụ đó
• Kiến nghị đề xuất các phương án tăng cường quản lý vốn đầu tư của

huống tại Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam
(Vinashin)
5. Một số kiến nghị chính sách nhằm góp phần giám sát hiệu
quả vốn đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NHÀ NƯỚC VÀ NHU CẦU GIÁM SÁT VỐN ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước
Kể từ thời điểm Luật DNNN 2003 hết hiệu lực vào ngày 30/06/2010, khác
với quan niệm của khoa học kinh tế, về mặt pháp lý ở Việt Nam không còn tồn tại
một loại hình doanh nghiệp có chế độ pháp lý riêng là doanh nghiệp nhà nước,
chúng không còn được đối xử riêng biệt mà từng bước phải hoạt động như các công
ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005.
Thay đổi tên gọi không có nghĩa là các đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước
ngay lập tức đã chấm dứt. Trên thực tế, cũng như từ năm 2006 không còn một Luật
đầu tư nước ngoài riêng rẽ, song trên thực tế ba khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư
bản tư nhân trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn cần có thêm thời
gian để được điều chỉnh đồng nhất bởi cùng một chế độ pháp lý bình đẳng.
Vào thời điểm hiện nay, tuy không còn khái niệm doanh nghiệp nhà nước,
song nền kinh tế với các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc chiếm
một phần vốn đủ để kiểm soát công ty vẫn được duy trì. Khoác những tấm áo pháp
lý mới như công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn, trên thực tế nhà nước
đang nắm giữ vốn trong các công ty mẹ của 12 tập đoàn kinh tế nhà nước, 88 TCT
với 420 doanh nghiệp thành viên 100% vốn của tập đoàn và TCT, và gần 1.000
công ty nhà nước độc lập.
Nếu nhìn lại con số 12.000 xí nghiệp quốc doanh từ thời điểm bắt đầu
cải cách với Quyết định 217-HĐBT ngày 14/11/1987, giảm xuống
gần 6000 doanh nghiệp nhà nước sau đó 10 năm. Vào thời điểm cuối
năm 2010, xét về số lượng, tổng số doanh nghiệp có phần vốn nhà
nước nắm giữ 100% đã được tái sắp xếp chỉ bao gồm trên dưới 1500

đầu tư đã xuất hiện.
- Thứ hai, việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà
nước phải tuân thủ các quy định tương tự như đối với CTCP hoặc công ty
TNHH, tức là cùng một chế độ góp vốn, đăng ký kinh doanh, các quy tắc
quản trị nội bộ và báo cáo với chủ sở hữu.
- Thứ ba, vì doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước sử dụng tài nguyên và
ngân sách quốc gia, tức là từ khối tài sản toàn dân, nên khác với các công ty
thông thường, chế độ báo cáo và kiểm soát các công ty này phải chặt chẽ hơn
để giám sát đầu tư công cộng. Như vậy, thay vì được ưu ái, có thể các doanh
nghiệp nhà nước có thể chịu trách nhiệm báo cáo và giám sát chặt chẽ hơn
nhiều so với công ty của các nhà đầu tư tư nhân.
- Thứ tư, thay đổi này có thể góp phần xóa dần sự phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế, tiến tới một môi trường cạnh tranh bình đẳng cho nửa
triệu doanh nghiệp có nguồn gốc vốn từ các nhà đầu tư đa dạng khác nhau.
1.2. Cơ sở pháp lý quy định về giám sát vốn đầu tư trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư của nhà nước
Trong thời gian Luật DNNN 2003 còn hiệu lực, các quyền chủ sở hữu (sau
đây viết tắt là CSH) vốn nhà nước được chia thành các nhóm vấn đề sau sau:
(1) Các quyền về tổ chức và nhân sự, bao gồm: quyết định thành lập, giải
thể, chuyển đổi sở hữu; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý; quyết định tuyển chọn,
bổ nhiệm, miễm nhiệm, chế độ lương, thưởng các chức danh quản lý chủ chốt của
7
doanh nghiệp (thành viên HĐQT, TGĐ, Phó TGĐ); phê duyệt điều lệ tổ chức và
hoạt động của công ty.
(2) Các quyền quyết định về phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh,
bao gồm: quyết định mục tiêu, chiến lược, định hướng phát triển; quyết định các dự
án đầu tư theo thẩm quyền của CSH; quy định nhiệm vụ, kế hoạch đối với phần sản
xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích của doanh nghiệp.
(3) Các quyền về lĩnh vực quản lý vốn và tài sản nhà nước: quyết định mức
vốn đầu tư ban đầu và mức vốn bổ sung; quy định về chế độ tài chính; quyết định

có vốn đầu tư của nhà nước.
Khi Vinashin thua lỗ, như trong phân tích tình huống trong chương dưới đây
sẽ chỉ rõ, nghĩa vụ báo cáo của doanh nghiệp không được tuân thủ, sự giám sát của
các cơ quan được phân công không có hiệu quả, chính bản thân Quốc hội cũng
không có đủ thông tin chính xác và cuộc truy tìm trách nhiệm giải trình trở nên hết
sức khó khăn.
1.3. Thực hiện quyền chủ sở hữu đối với vốn đầu tư của nhà nước tại doanh
nghiệp: Những vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn
Giám sát vốn đầu tư trước hết liên quan đến thực hiện và giám sát thực hiện
quyền chủ sở hữu của cổ đông nhà nước hay thành viên công ty là nhà nước. Khi
Luật DNNN 2003 hết hiệu lực, cơ chế giám sát cũ thông qua quản lý hành chính và
quản lý của cơ quan chủ quản hết dần hiệu lực, chủ đầu tư nhà nước phải sử dụng
các quyền cổ đông hoặc quyền của thành viên công ty TNHH.
Vào thời điểm hiện tại, cơ quan và cá nhân nào có quyền thực hiện quyền sở
hữu (QSH) đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là vấn đề chưa
thật rõ ràng về lý thuyết và quy định pháp lý. Quyền sở hữu bao gồm quyền định
đoạt, chiếm hữu và sử dụng, áp dụng vào phần vốn nhà nước đầu tư trong các doanh
nghiệp các phân tích dưới đây về chủ thể thực hiện QSH, về đối tượng các quyền sở
9
hữu nhất là quyển sử dụng và hưởng dụng sẽ cho thấy rõ những điều chưa chắc
chắn về lý thuyết và pháp lý:
Thứ nhất, vốn đầu tư của nhà nước thuộc sở hữu toàn dân
Điều 17 của Hiến pháp 1992 quy định “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu
tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế đều thuộc sở
hữu toàn dân”. Tuy nhiên, có vẻ cụ thể hóa quy định của Hiến pháp Điều 39 Nghị
định 101/2009/NĐ-CP lại quy định chi tiết sở hữu toàn dân đó được phân cấp thực
hiện như sau:
1. Chính phủ thống nhất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu
nhà nước đối với công ty mẹ (trong tập đoàn).
2. Người đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại công ty mẹ của

chung trên thế giới, trong đó, “tài sản công” được phân biệt với tài sản tư, ngoài yếu
tố mục đích sử dụng, còn ở chỗ nó không có chủ sở hữu cụ thể (ví dụ “toàn dân”
hay “Chính phủ”) mà chỉ có người đại diện cho chủ sở hữu (ví dụ các thành viên
Hội đồng quản trị Công ty Mẹ).
Nếu doanh nghiệp chỉ có một phần vốn sở hữu của Nhà nước, (không phụ
thuộc vào tỷ lệ phần vốn đó có đạt mức chi phối hay không), để bảo đảm sự bình
đẳng giữa các đồng chủ sở hữu, bao gồm cả tư nhân và nhà nước, các tài sản cụ thể
của doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc v.v tất cả được coi là tài sản của
doanh nghiệp (hay thuộc sở hữu của pháp nhân theo luật dân sự). Chủ sở hữu Nhà
nước trong trường hợp như vậy, không sở hữu tài sản mà sở hữu cổ phần, phần vốn
góp hay các quyền và lợi ích trong doanh nghiệp. Sự quan tâm đối với các chủ sở
hữu doanh nghiệp trong trường hợp này sẽ là giá trị thị trường của các “cổ phần”
chứ không phải các tài sản hữu hình cụ thể.
Thứ ba, phân cấp thực hiện các quyền của chủ sở hữu và hưởng dụng
11
Chủ sở hữu DNNN là “toàn dân” (theo quy định của Hiến pháp) chứ không
phải là Nhà nước hay Chính phủ và càng không phải là Hội đồng quản trị (của Công
ty Mẹ của TĐKTNN) với các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm (theo
quy định của Điều 21.4 của Nghị định 101). Như vậy, nói tới quyền của chủ sở hữu
tức là nói tới các quyền của toàn thể nhân dân trong việc hưởng thụ các lợi ích thu
được từ việc Chính phủ sử dụng tài sản, tiền vốn công để làm kinh tế thông qua các
DNNN. Từ góc độ pháp lý, đây là vấn đề phức tạp, do đó, cần phân tích trong các
tình huống cụ thể trên cơ sở nhận thức có tính nguyên lý chung rằng giữa “toàn
dân” và Chính phủ có quan hệ “uỷ thác”, (như đã trình bày ở trên), trong đó “người
uỷ thác” là nhân dân có quyền hưởng thụ, phân phối và định đoạt các khoản lợi thu
được từ việc khai thác “tài sản uỷ thác”.
- Tình huống thứ nhất: DNNN (ví dụ Công ty Mẹ của TĐKTNN) thuộc sở
hữu 100% của Nhà nước. Câu hỏi đặt ra là Nhà nước thu gì từ các DNNN loại này ?
Trong nền kinh tế kế họach hoá tập trung trước đây (chấm dứt vào năm 1990 với
việc ban hành các Luật Thuế Doanh thu và Thuế lợi tức doanh nghiệp), DNNN có

Nam sẽ khó khăn hơn do không có sự nhất quán một cách xuyên suốt trong chiều
dài của quá trình cải cách DNNN giữa lý luận và thực tiễn, thậm chí nhiều cơ chế,
chính sách được ban hành dẫn đến các thay đổi về pháp luật mà chưa có sự soi sáng
và/hoặc lý giải thấu đáo của khoa học pháp lý. Trên cơ sở xem xét vấn đề một cách
hệ thống, vẫn phải khẳng định nguyên lý Hiến pháp về chế độ sở hữu toàn dân đối
với DNNN, và chỉ từ xuất phát điểm này mới có thể đi tiếp để nghiên cứu, giúp
phân định rành mạch các khía cạnh không chỉ phức tạp mà còn chưa minh bạch
trong vấn đề sở hữu, thành lập và quản trị DNNN nói chung và TĐKTNN nói riêng.
13
2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Trên thực tế, đã xuất hiện hai cơ chế quản lý và thực hiện vốn chủ sở hữu tại
các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước, thứ nhất theo cơ chế bộ chủ quản,
tức là doanh nghiệp nhà nước do một cơ quan nhà nước thành lập, tổ chức và quản
lý như người chủ sở hữu, thứ hai, chuyển dần một số quyền chủ sở hữu, đặc biệt là
quyền kiểm soát vốn và tài sản về cho một đơn vị chuyên kinh doanh vốn nhà nước
có tên gọi TCT đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Đối với các tập đoàn, TCT và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn, cơ
chế bộ chủ quản cũ vẫn được áp dụng. SCIC mới kiểm soát khoảng 1,8% vốn đầu
tư của nhà nước vào những công ty độc lập, không trực thuộc các tập đoàn và TCT,
với quy mô vốn tương đối nhỏ so với các tập đoàn.
2.1. Cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các tập đoàn kinh tế nhà nước và các
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của nhà nước theo cơ chế chủ quản
2.1.1 Mô tả và phân tích cơ chế quản lý vốn chủ sở hữu qua cơ chế
chủ quản
Từ vụ việc Vinashin, lỗ hổng trong giám sát vốn nhà nước tại 12 tập
đoàn kinh tế nhà nước đã hiện rõ. Do thiếu vắng một đạo luật về giám
sát vốn đầu tư của nhà nước vào tập đoàn, do chế độ báo cáo và độ tin
cậy của các báo cáo từ phía các tập đoàn thiếu độ tin cậy, vào thời
điểm hiện nay có thể nhận thấy nhiều cơ quan tham gia thực hiện

- Ban hành quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với
TĐKTNN; ban hành cơ chế quản lý, giám sát đối với các TĐKTNN.
- Giám sát, đánh giá việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ CSH nhà nước đối với
công ty mẹ và vốn nhà nước đầu tư tại TĐKTNN đã ủy quyền hoặc phân công cho
các cơ quan theo quy định tại Nghị định này.
- Yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân được ủy quyền hoặc phân công thực
hiện các quyền và nghĩa vụ CSH nhà nước đối với công ty mẹ và vốn nhà nước
đầu tư tại TĐKTNN báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền hoặc
phân công; về tình hình hoạt động của TĐKTNN.
Bộ Tài chính
- Có ý kiến để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành lập, tổ chức lại,
giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ; phê duyệt Điều lệ công ty mẹ; phê duyệt
sửa đổi và bổ sung Điều lệ công ty mẹ; đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và
điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động đối với công ty mẹ;
- Thực hiện việc đầu tư đủ vốn điều lệ cho công ty mẹ theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ;
- Phê duyệt Quy chế quản lý tài chính công ty mẹ theo đề nghị của Hội đồng quản
trị công ty mẹ, trừ trường hợp Chính phủ có quy định khác.
Bộ Kế hoạch
và Đầu tư
- Có ý kiến để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành lập, tổ chức lại, giải
thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ; mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn và ngành,
nghề kinh doanh của công ty mẹ; phê duyệt Điều lệ công ty mẹ và phê duyệt sửa
đổi, bổ sung Điều lệ công ty mẹ; đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh
vốn điều lệ trong quá trình hoạt động đối với công ty mẹ.
Bộ Nội vụ
- Thẩm định việc thực hiện quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật thành viên HĐQT do
Bộ quản lý ngành trình Thủ tướng Chính phủ;
- Hướng dẫn trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức, khen

DNNN trực thuộc
Thực hiện quyền CSH đối với DNNN không trực thuộc
Tổ chức, nhân sự
Phương hướng PT
Vốn và tài sản
Kiểm tra, giám sát
Tổ chức, nhân sự
Phương hướng PT
Vốn và tài sản
Kiểm tra, giám sát
Tổ chức, nhân sự
Phương hướng PT
Vốn và tài sản
Kiểm tra, giám sát
Công ty NN độc lập Tổng công ty 90 Tập đoàn, TCT 91
CP
Bộ TC
VPCP
TTCP
Bộ NV
Bộ KH&ĐT
Bộ TP
Bộ (ngành)
17
Bảng này cho thấy, ngoài việc phải chịu sự quản lý của Bộ chủ quản, các
DNNN phải chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau. Như vậy, để thực hiện
quyết định như việc sắp xếp, đổi mới DNNN sẽ phải thông qua các cơ quan có liên
quan, gây phiền phức trong quá trình hoạt động và rất khó thực hiện khi các bên có
lợi ích khác nhau. Một trong những nguyên nhân làm chậm tiến trình cổ phần hóa
DNNN là do sự xung đột lợi ích giữa các cơ quan đầu mối quản lý doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status