Tiểu luận kinh tế chính trị
A.Lời nói đầu:
Theo xu thế chung, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động
hội nhập kinh tế Quốc tế. Vì vậy nhiệm vụ của nước ta trong những năm tới
là nhanh chóng vượt qua tình trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống
của người dân, đưa kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế Thế giới.
Để nhanh chóng cất cánh cần phải đảm bảo một tỷ lệ đầu tư cao nhưng nhu
cầu đầu tư lại nhiều hơn khả năng tiết kiệm hạn chế. Nếu chỉ đầu tư ở mức
tiết kiệm cho phép thì kinh tế tăng trưởng chậm,nên khoảng chênh lệch giữa
tiết kiệm và đầu tư phải được bù đắp bằng vốn nước ngoài.
Trong các hình thức vay vốn nước ngoài : Vay theo hình thức vốn ưu
đãi của Chính Phủ nước ngoài (ODA), vay thương mại hoặc đầu tư trực tiếp
từ doanh nghiệp nước ngoài (FDI) … thì FDI là hình thái du nhập nhiều ưu
điểm nhất đối với nước ta. Đây là nguồn vốn quan trọng không chỉ gắn với
ngoại tệ mạnh và độ lớn của nó m cà òn đi liền với sù chuyÓn giao vÒ kỹ thuật
, c«ng nghÖ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại-là những nhân tố quyết định
tiến trình phát triển kinh tế .Thực sự,những khu vực sử dụng nguồn vốn FDI
có tốc độ phát triển năng động nhất nền kinh tế, nhờ đó đã có tác động lan
toả đến các thành phần kinh tế khác, giúp VN hội nhập sâu rộng vào đời
sống kinh tế quốc tế cũng như đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và
đầu tư, tạo sự hợp tác và cạnh tranh ở quy mô toàn cầu.
Trong những năm gần đây, dòng vốn FDI trên toàn thế giới phát triển
rất nhanh ( khoảng 3000tỷ usd /1năm) được khởi nguồn chủ yếu từ các công
ty xuyên quốc gia của các nước phát triển, nhưng dòng vốn này càng ngày
càng có xu hướng chảy chủ yếu sang các nước đang phát triển. Vấn đề cấp
thiết đặt ra là làm thế nào để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI,
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững ở nước ta. Là một sinh
Lưu Thị Phương Thảo
Tiu lun kinh t chớnh tr
viờn kinh t, em tht s mun tỡm hiu k hn, sõu hn vn kinh t núng
hi ny. c bit l thụng qua phõn tớch c bn v ngnh cú vn FDI tỡm
quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó,
nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế
(nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại
một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều
ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó
Hội nghị Liên Hợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra
một doanh nghiệp về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung
cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực
tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cở
phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là
người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của
nước khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế
của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt
Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập
xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định
của luật này”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không
có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ
Về mặt nhận thức:nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện sự khác
biệt quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia
đầu tư trực tiếp nươc ngoài mà còn thể hiện sự di chuyển tư bản bắt buộc
phải vượt qua tầm kiểm soát quốc gia.
Một số nhà lí luận cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực chất là
hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất’, “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuât” và
“nội bộ hoá di chuyển kỹ thuật”…Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngaòi
là vấn đề nóng,thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứư kinh
tế.Tuy còn khác nhau về cơ sở nghiên cứu, phương pháp phân tích va đối
tượng xem xét,song gặp nhau ở chỗ là :trong nền kinh tế hiện đại có một số
yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất và kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản
xuất phải chọn phương pháp đầu tư trực tiếp nước ngoài như điều kiện để
tồn tại và phát triển.
2. Các hình thức FDI
2.1 Phân theo bản chất đầu tư
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
2.1.1Đầu tư phương tiện hoạt động
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu
tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư.
Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào
2.1.2 Mua lại và sáp nhập
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh
nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh
nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài)
mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này
không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào
2.2.Phân theo tính chất dòng vốn
2.2.1 Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp
khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn
nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các
nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các
thị trường khu vực và toàn cầu.
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
3.Những nét cơ bản của đầu tư trực tiếp FDI vào Việt Nam.
Với việc coi khu vực kinh tế có đầu tư FDI là một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, sau 20 năm thu hút đầu
tư (1988-2007), Việt Nam đã gặt hái được những thành công ngoài mong
đợi. Đặc biệt cùng với việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế,
VN đã chứng kiến một "làn sóng đầu tư thứ hai" hết sức mạnh mẽ kể từ năm
2006 đến nay, mà đỉnh cao là 20,3 tỉ USD thu hút trực tiếp FDI trong năm
2007. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), tính đến cuối năm 2007, cả nước
đã thu hút được hơn 9.500 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỉ USD
(gồm cả vốn cấp mới và vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt
động hoặc giải thể trước thời hạn, hiện còn khoảng 8.590 dự án còn hiệu lực,
với tổng vốn đăng ký 83,1 tỉ USD. Trong số này, đã có khoảng 50% số dự
án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỉ USD, chiếm 52,3% tổng vốn
đăng ký.
Các khu vực sử dụng FDI có tốc độ phát triển năng động nhất nền
kinh tế, nhờ đó đã có tác động lan toả đến các thành phần kinh tế khác, giúp
VN hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế như đẩy nhanh tiến trình
tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo ra sự hợp tác và cạnh tranh ở quy mô
toàn cầu...".
Tuy nhiên, Việt Nam với hành lang pháp lý rườm rà, tư duy kinh tế
chưa đổi mới đã phần nào đó làm cho tình hình đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài có phần chững lại “không tồi nhưng chưa tốt”
4 . FDI trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO
Lưu Thị Phương Thảo
1. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
1.1.Lợi ích của thu hút FDI
1.1.1 Bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn
được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn,
nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền
kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn
FDI. FDI giúp cân bằng cán cân thanh toán
1.1.2 Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động
được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công
nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút
FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công
nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát
triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ
biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ
thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. FDI làm năng động hoá
nền kinh tế tạo sức sống mới cho doanh nghiệp thông qua trao đổi công nghệ
. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng CNH- HDH , phá vỡ cơ
cấu sản xuất khep kín theo kiểu tự cung tự cấp trước đây
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
1.1.3 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu
tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có
quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao
động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng
lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
1.1.4 Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được
2.1.1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các
nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng
suất cận biên của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng
suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận
biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư
thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
2.1.2. Chu kỳ sản phẩm
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh và
sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản
phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước
ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước
bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tuợng này diễn ra theo chu kỳ
và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một phẩm đạt tới
giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường
sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được
cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá
và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các
nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí
sản xuất thấp hơn.
2.1.3. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981),
Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc
gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty
vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực
2.1.6. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích
này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
2.1.7. Phá vỡ hàng rào thuế quan ở các nước có xu hướng bảo hộ
2.1.8. Bành trướng sức mạnh về kinh tế, chính trị
2.2. Tác động không tích cực
a. Vốn đầu tư chảy ra nước ngoài sẽ làm giảm tăng trưởng GDP và việc
làm trong nước.
b. Khi công ty lớn đầu tư ra nước ngoài sản xuất các mặt hàng cùng loại
sẽ tạo nên khả năng cạnh tranh mới giữa các doanh nghiệp ngoài nước với
chính doanh nghiệp trong nước,thậm chí với chính doanh nghiệp đầu tư.
Chương II : Các vấn đề thực tiễn đặt ra trong thu hút và
sử dụng nguồn vốn FDI.
Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI 20 năm qua, đến nay có
thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, FDI thực sự trở
thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các nước đang
phát triển. Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết
định, vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng.
Trong nguồn vốn nước ngoài, FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với
nước ta. Vai trò của FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với nước ta.
Vai trò của FDI trong những năm qua đã được khẳng định, đóng góp tích
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Đầu tư nước ngoài hiện
chiếm khoảng trên 13% GDP cả nước.
Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ
sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000;
cùng với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một
đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế.
Pháp luật ĐTNN và các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN được ban
hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt động ĐTNN tại Việt
Nam. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, khung pháp lý song
phương và đa phương liên quan đến ĐTNN cũng không ngừng được mở
rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và
bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện
cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà ĐTNN vẫn có thể
tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác
biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự
thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình
đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu
tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu
tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà
nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư
có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn FDI, một bộ phận
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy
luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát
triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một
đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả
năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN. Thực tế đã chứng minh việc
ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những
Việt Nam nên kết quả thu hút vốn FDI còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng
ký cấp mới 1,6 tỷ USD), FDI chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất
nước.
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn FDI đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn
đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-
xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” FDI tại
Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng FDI” đầu tiên vào Việt Nam) với
1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và
tăng vốn) 28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh
tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh
thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân
công rẻ, thị trường mới, vì vậy, FDI tăng trưởng nhanh chóng, có tác động
lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện
các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu
hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký
hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm
1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ
yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều
dự án FDI được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển
khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc,
Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu
phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng
21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002
vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ
USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004
USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước.
Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm
2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD,
mỗi năm trung bình tăng 35%.
31.78
582.5
839
1322.3
2165
2900
3765.6
6530.8
8497.3
4649.1
3897
1568
2012.4
2535.5
1557.7
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
8000
9000
1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
vc 1997. Thi k 1988-1990 quy mụ vn u t ng ký bỡnh quõn t 7,5
triu USD/d ỏn/nm. T mc quy mụ vn ng ký bỡnh quõn ca mt d
ỏn t 11,6 triu USD trong giai on 1991-1995 ó tng lờn 12,3 triu
USD/d ỏn trong 5 nm 1996-2000. iu ny th hin s lng cỏc d ỏn
quy mụ ln c cp phộp trong giai on 1996-2000 nhiu hn trong 5
nm trc. Tuy nhiờn, quy mụ vn ng ký trờn gim xung 3,4 triu
USD/d ỏn trong thi k 2001-2005. iu ny cho thy a phn cỏc d ỏn
cp mi trong giai on 2001-2005 thuc d ỏn cú quy mụ va v nh.
Trong 2 nm 2006 v 2007, quy mụ vn u t trung bỡnh ca mt d ỏn
u mc 14,4 triu USD, cho thy s d ỏn cú quy mụ ln ó tng lờn so
vi thi k trc, th hin qua s quan tõm ca mt s tp on a quc gia
u t vo mt s d ỏn ln (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio....).
1.4. C cu vn FDI t 1988 n 2007
1.4.1 FDI phõn theo ngnh ngh:
CN; 38%
KS, du lịch; 13%
TC, N/hàng; 1%
Dvụ khác; 21%
N/L nghiệp; 4%
Xây dựng; 12%
GTVT, bưu điện; 9%
VH, Y tế, GD; 1%
T/sản; 1%
Lu Th Phng Tho
Tiểu luận kinh tế chính trị
Cơ cấu nguồn vốn FDI theo ngành kinh tế giai đoạn(1988-2001)
a. FDI trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng
thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh
23,976,819,3
32
7,049,365,8
65
Lưu Thị Phương Thảo
Tiểu luận kinh tế chính trị
4 CN thực phẩm 310
3,621,835,5
50
2,058,406,2
60
5 Xây dựng 451
5,301,060,9
27
2,146,923,0
27
Tổng số 5,745
50,029,948,5
32
20,042,587,
769
Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt
Nam có lợi thế so sánh khi thu hút FDI. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án
ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất
các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép,
sản xuất hàng dệt may...) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định
cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo
hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công
nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế