Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước - Pdf 12

Lời mở đầu
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, Đảng ta đã xác định
phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm
đó đã đợc thể hiện rất rõ qua nhiều kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam. Tại
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục "khẳng định" thực hiện nhất quán
chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một nền
kinh tế vận hành theo định hớng kinh tế nhà nớc thực hiện tốt vai trò chủ đạo và
cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nớc và thành phần kinh tế nhà nớc là hai phạm trù khác nhau.
Khi nói tới kinh tế nhà nớc là nối đến những của cải tài sản thuộc sở hữu nhà nớc,
còn khi nói tới thành phần kinh tế nhà nớc là muốn nói đến quan hệ sản xuất tiêu
biểu cho chế độ đơng thời. Trong điều kiện hiện nay thì đó là hệ thống doanh
nghiệp nhà nớc. Thành phần kinh tế nhà nớc, thực chất là hệ thống các doanh
nghiệp nhà nớc với quy mô, cấu trúc sức mạnh riêng.
Trong hơn mời năm qua, Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng,
biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế, còn nhiều khó
khăn gay gắt, doanh nghiệp Nhà nớc đã vợt qua nhiều thử thách, đứng vững,
không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp
đổi mới và phát triển đất nớc, đa đất nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, chuyển
sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hớng XHCN.
Nhng bên cạnh đó, DNNN cũng còn những mặt hạn chế yếu kém, có mặt
rất nghiêm trọng nh: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý cha tập trung
vào những ngành, lĩnh vực then chốt, nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu,
quản lý còn yếu kém, kết quả sản xuất kinh doanh cha tơng xứng với các nguồn
lực: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động cũng nh cha tơng xứng với sự hỗ trợ
của nhà nớc.
Những hạn chế yếu kém của doanh nghiệp Nhà nớc có những nguyên nhân
khách quan. Nhng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan; cha có sự thống
nhất trong nhận thức về vai trò vị trí của kinh tế nhà nớc và DNNN, về cơ chế

đều giữa các xí nghiệp, giữa các ngành, vùng, trình độ lao động, năng suất cũng
khác nhau. Do đó tất yếu tồn tại nhiều cách thức kết hợp lực lợng sản xuất với sức
lao động, nhng quy mô, trình độ sản xuất khác nhau, nhiều quan hệ sản xuất khác
nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn đợc bắt nguồn từ yêu cầu
của các quy luật kinh tế của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Để thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển, trớc hết phải khôi phục cơ sở tồn tại của nó. Đó là các hình
3
thức sở hữu khác nhau về TLSX. Điều đó có nghĩa là phải khuyến khích, duy trì,
phát triển các thành phần kinh tế
*Cơ sở thực tiễn
Khi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nớc ta có
thêm những thành phần kinh tế mới nh kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Các
thành phần kinh tế cũ và mới tồn tại đan xen nhau, tạo nên đặc điểm của nền kinh
tế trong thời kỳ quá độ ở nớc ta. Thực tiễn lịch sử cho thấy, hầu nh không một nớc
nào có một nền kinh tế thuần nhất, tức chỉ tồn tại duy nhất một kiểu quan hệ sản
xuất về t liệu sản xuất và do đó có một thành phần kinh tế.
ở nớc ta trong thời gian qua việc khuyến khích phát triển các thành phần
kinh tế đã đem lại những kết quả đáng kể nó góp phần khai thác đợc mọi tiềm
năng của từng thành phần kinh tế. Đó là những tiềm năng về vốn, kỹ thuật, sức lao
động, kinh nghiệm tổ chức, quản lý.... Ngoài ra nó còn góp phần tận dụng đợc sức
mạnh kinh tế quốc tế, khắc phục tình trạng biệt lập của nền kinh tế nớc ta với nền
kinh tế thế giới bằng cách thông qua đầu t nớc ta với nền kinh tế thế giới bằng
cách thông qua đầu t và hợp tác quốc tế. Đó là một trong những yếu tố quan trọng
để nớc ta có thể tiếp cận đợc kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thế giới.
Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nớc ta tồn tại nhiều thành phần là
tất yếu khách quan xét cả mặt lý luận và thực tiễn chính vì vậy. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đã chỉ ra phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hớng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế nhà nớc với sự điều tiết và quản lý của Nhà nớc là đờng lối chiến lợc

phẩm công nghiệp cho nông dân,chuyển vận các thứ ấy đến tận nơi bằng các ph-
ơng tiện giao thông. Đó chính là chủ nghĩa xã hội"
1
từ đó, thành phần kinh tế nhà
nớc chỉ bao hàm các nguồn lực do Nhà nớc sở hữu, đa vào và biến thành tài sản đ-
ợc dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế có t cách pháp
nhân. Cũng giống nh các thành phần kinh tế khác chúng chỉ phản ánh quan hệ sản
xuất, lực lợng sản xuất ở các chủ thể sản xuất chứ không phải toàn bộ nguồn lực
của chúng. Nh vậy, thành phần kinh tế nhà nớc về thực chất là không phải toàn bộ
nguồn nhân lực của chúng. Nh vậy, thành phần kinh tế nhà nớc về thực chất là
phản ánh quy mô, cấu trúc sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp nhà nớc.
1
I.V Lênin toàn tập. NXB Tiến Bộ Matxcơva - 1978 trang 188 - Tập 43
5
Kinh tế nhà nớc rộng và mạnh hơn bộ phận doanh nghiệp nhà nớc. Phân
biệt đợc hai phạm trù này và nhận thức đầy đủ hơn về vai trò kinh tế nhà nớc là
một bớc phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nớc ta trong quá trình đổi
mới.
I.2.2. Quan niệm mới về doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nh ta đã biết, thành phần kinh tế nhà nớc thực chất là phản ánh quy mô, cấu
trúc, sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc đã đạt đợc những kết quả khả
quan. Tuy nhiên cho đến nay, trong sự phát triển phong phú và đa dạng của kinh tế
thị trờng, xung quanh khái niệm DNNN, xác định phạm vi DNNN vẫn còn những
ý kiến khác nhau. Hiểu đợc quan niệm mới về DNNN sẽ góp phần vào nhận thức
thực tiễn, đa ra những giải pháp để ngày càng nâng cao vai trò chủ đạo của hệ
thống DNNN.
Tại điều 1, luận Doanh nghiệp Nhà nớc (ký ngày - 20 - 4 - 1995) quy định:
"DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý
hoạt động kinh doanh hoặc hoật động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh

số tài sản của doanh nghiệp.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế nớc ta và xu hớng phát
triển của kinh tế thế giới, về lâu dài, khái niệm này cũng cần tiếp tục nghiên cứu
hoàn thiện.
I.3. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc và tính tất yếu
khách quan nâng cao vai trò chủ đạo đó trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
I.3.1. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc
Qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, thành phần kinh tế Nhà nớc
(DNNN) đã chi phối đợc các ngành lĩnh vực then chốt là sản phẩm thiết yếu của
nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nớc thực hiện đợc vai trò chủ đạo,
ổn định và phát triển kinh tế -xã hội tăng thế và lực của đất nớc. Kinh tế Nhà nớc
mà chủ yếu là các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thể hiện
chủ yếu trên các mặt: đi đầu và nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả, nhờ đó
mà thúc đẩy tăng trởng nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc dân. Bằng nhiều
hình thức hỗ trợ các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển theo định hớng
XHCN tăng cờng sức mạnh vật chất tinh thần làm chỗ dựa để Nhà nớc thực hiện
có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lỹ vĩ mô nền kinh tế theo định hớng XHCN,
cùng với kinh tế tập thể (mà lòng cốt là các hợp tác xã) dẫn trở thành nền tảng của
nền kinh tế quốc dân và chế độ xã hội mới.
7
Tuy nhiên hiện nay, DNNN vẫn cha phát huy đầy đủ tính u việt và sự chỉ
đạo của nó đối với nền kinh tế quốc dân. Cùng với việc đổi mới các nền kinh tế
ngoài quốc doanh, việc cải tạo đổi mới DNNN phải hết sức coi trọng đầu t và th-
ờng xuyên tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ sung những chi thức
"cập nhất" nhằm thực hiện cho kỳ đợc vai trò chủ đạo và mục tiêu định hớng
XHCN của thành phần kinh tế này.
I.3.2. Tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo thành phần kinh tế
Nhà nớc (DNNN) trong nền kinh tế thị trờng
Đại hội Đảng lần IX tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nhiều thành

hiệu quả, nâng cao vai trò chủ đạo, DNNN không có con đờng nào khác là phải
đổi mới một cách triệt để và toàn diện. Tuy nhiên, đổi mới DNNN không đơn
thuần tích nhật doanh nghiệp hoặc tăng giảm số lợng các doanh nghiệp mà là đổi
mới cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nớc kết hợp với điều
chỉnh cơ cấu hợp với trong quan hệ ngành, vùng, lãnh thổ và các thành phần kinh
tế. Vì vậy đối với DNNN phải nhằm tăng cờng hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc
làm cho DNNN thực sự lớn mạnh về quy mô, hiệu quả và phát huy đợc vai trò
nòng cốt góp phần dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định
hớng XHCN là trách nhiệm lịch sử của DNNN ở nớc ta.
II- Thực trạng thành phần kinh tế nhà nớc và quá trình
nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nớc ở
nớc ta hiện nay
II.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhà nớc (thành phần kinh
tế Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng,
biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó
khăn gay gắt, DNNN đã vợt nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát
triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển
đất nớc, đa nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đinh hớng XHCN.
Mặc dầu đạt đợc những kết quả nhất định nhng hiện nay DNNN đang đứng
trức thực trạng yếu kém về nhiều mặt, sức cạnh tranh còn quá yếu kém, quy mô
quá nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơn lãi vay
ngân hàng, hiệu quả sút kém.
* Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Những năm 1991 - 1995, tốc độ tăng trởng bình quân của DNNN là 11,7%
gấp 1,5 lần tốc độ tăng trởng bình quân của nền kinh tế. Năm 1997 tốc độ tăng tr-
ởng của DNNN là 9,67% (nền kinh tế: 8,15%). Tuy nhiên đến năm 1998 tì ngợc
2

* Vốn kinh doanh
Tuy chiếm tới hơn 80% tổng nguồn vốn của nền kinh tế song sẽ là khập
khiễng nếu đem quy mô lớn bình quân của DNNN so với mức vốn của một doanh
nghiệp quốc tế có khả năng cạnh tranh trung bình. Nếu so sánh quy mô của
DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì thấy DNNN có lợi thế, song phép
10
tính này sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi coi vốn nh một chỉ tiêu tiêu đề cho khả năng
cạnh tranh trong hội nhập kinh tế thế giới.
Tính đến cuối 1999, tổng số DNNN là 5.450 với 1.733 doanh nghiệp trung -
ơng, 3717 doanh nghiệp địa phơng, trong đó có gần 100 tổng công ty (17 tổng
công ty 91và gần 80 tổng công ty 90) tổng số vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp mới
là 112.000 tỷ đồng. Năm 1998 vẫn còn 72,5% số DNNN có vốn dới 5 tỷ đồng,
trong đó có gần 26% số DNNN có số vốn trên 10 tỷ đồng, qua đó đủ thấy số vốn
của DNNN nớc ta nhỏ đến mức nào.
Số vốn của DNNN Việt Nam lại càng trở nên nhỏ bé và mỏng manh hơn khi
đối chiếu giữa vốn chủ sở hữu về tình hình công nợ của doanh nghiệp. Vốn đủ ít
công nợ lại nhiều, số nợ phải trả của DNNN thờng cao hơn rất nhiều số vốn của
doanh nghiệp. Liệu có bình thờng không khi vốn thực có không bù đắp nổi số vốn
gấp 6 lần vốn thực có, tổng công ty gốm sứ thuỷ tinh: 3,5 lần,tổng công ty dệt may
2,5 lần... tính riêng ở các DNNN thuộc bộ giao thông vận tải, tổng công nợ phải
thu toàn ngành lên tới 6.067 tỷ đồng (xấp xỉ bằng nguồn vốn chủ sở hữu) trong đó
nợ khó đòi là 92,8 tỷ đồng, riêng các đơn vị khối xây dựng cơ bản số phải thu
chiếm tới 2.932 tỷ đồng, chủ yếu là nợ khối lợng các dự án đã hoàn thành nhng
chịu đợc các chủ đầu t thanh toán. Tổng nợ phải trả là 12.155 tỷ đồng (gần gấp đôi
vốn chủ sở hữu). Xin đơn cử vài trờng hợp cụ thể: Tổng công ty Hàng Hải nợ đến
hạ và quá hạn là 94,3 tỷ đồng, công ty Traximexco 19,4 tỷ đồng, Cục Đờng Bộ 7,7
tỷ đồng.....
Mặt khác tình trạng thiếu vốn của các DNNN là phổ biến và nghiêm trọng.
Có tới hơn 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo quy định tại Nghị định số
50/CP. Vốn thực tế hoạt động chỉ đạt 80% riêng vốn lu động chỉ có 50% đợc huy

quá cứng nhắc, sửa đổi chấp vá một cách bị động, thiếu quan điểm hệ thống.
Quyền và trách nhiệm đại diện sở hữu cha đợc xác lập cụ thể. Chính sách đối với
kết quả tự tích lỹ của DNNN quá bất hợp lý đã hạn chế khả năng tự mở rộng quy
mô phát triển của DNNN vai trò của giám đốc có ý nghĩa quyết định sự thành bại
của doanh nghiệp nhng cơ chế tuyển chọn chậm đợc đổi mới. Nếu không vi phạm
kỷ luật thì dù doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả vẫn phải chờ khi giám đốc
về hu mới thay thế ngời khác đợc. Mặt khác cơ chế hớng dẫn, giám sát, kiểm tra,
kiểm soát của các cơ quan nhà nớc đối với DNNN vẫn còn nhiều mặt cha hợp lý.
Hoặc là buông lỏng dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, làm thất thoát tài sản Nhà nớc.
Hoặc là can thiệp tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra quan
liêu và trách nhiệm không rõ ràng.
12
Hai là: Nhà nớc cần tập trung vốn cho yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và xã hội, còn DNNN cần rất nhiều vốn cho yêu cầu đổi mới công nghệ và
mở rộng sản xuất nhng các kênh huy động vốn đều trắc trở.
- Nguồn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc còn quá hạn hẹp. Nguồn tín
dụng thơng mại qua nhiều năm chỉ cho vay ngắn hạn gần đây mới bắt đầu mở
rộng tỷ lệ tín dụng hạn, cha có khả năng cho vay dài hạn. Do đó không ít DNNN
đứng trớc tình thế có hạn chế bớt rủi ro nhng không đổi mới triệt để công nghệ quá
lạc hậu và bị đối sức trong cạnh tranh, hoặc liều lĩnh vay ngắn hạn để đầu t dài hạn
dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
- Phơng thức liên doanh tuy giải quyết thêm đợc việc làm nhng do thiếu vốn
và thiếu kinh nghiệm trong quá trình hình thành dự án và tham gia quản lý nên
trong thực tế rất ít DNNN chia đợc lợi nhuận từ nguồn này sang nguồn khác bổ
sung quỹ phát triển sản xuất.
- Cổ phần hoá là phơng thức huy động vốn xã hội vì tạo động lực cho
DNNN hoạt động có hiệu quả nhng hiểu khái quá chậm.
II.2. Kết quả và những mặt hạn chế của quá trình nâng cao vai trò
chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc (thành phần kinh tế nhà nớc)
sau hơn mời năm đổi mới.

của DNNN khi nó phá sản theo trình tự pháp luật.
Kết quả là đã giảm khoảng 50% số lợng DNNN, loại bỏ đợc các doanh
nghiệp quá yếu kém, thiếu điều kiện tối thiểu để tồn tại, và hoạt động nh một pháp
nhân kinh tế đủ t cách, mà điều quan trọng đã làm cho các DNNN còn lại, đợc
đăng ký kinh doanh, có quy mô vốn liếng khá lớn, có thị trờng tiêu thụ ổn định
hơn sơ với trớc. Đặc biệt chính sách đối với lao động dôi d do sắp xếp lại DNNN
đợc sử lý tơng đối ổn thoả một phần do nguồn tài chính của ngân sách nhà nớc bảo
đảm khá tốt, mặt khác đã áp dụng phơng thức sắp xếp bằng cách nhập nhiều hơn
là giải thể nên gánh nặng trợ cấp lao động giảm.
II.2.2. Những đổi mới về mô hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo hớng
thúc đẩy tập trung hoá, tích tụ hoá trong các DNNN
Trong giai đoạn sau Đại hội VI một lần nữa có chủ trơng tổ chức lại loại
DNNN lớn trong các ngành. Điều lệ mới về liên hiệp xí nghiệp quốc doanh chủ tr-
ơng áp dụng đồng thời hai hình thức đợc goị tắt là " liên hiệp mềm" và "liên hiệp
cứng" loại "mềm" đợc hình thành theo nguyên tắc tự nguyện của doanh nghiệp và
toàn bộ loại cắt phần lĩnh vực xuất phát sự quan điểm cho rằng liên hiệp lại sẽ có
hiệu quả hơn. Loại "cứng" đợc tổ chức ở một số ngành kinh tế kỹ thuật cao về
14
trình độ tập trung hoá (điện lực, hàng không).... có đỏi hỏi điều hành tập trung từ
một trung tâm.
Đến đầu năm 1994 khi việc xắp xếpvà củng cố các DNNN theo từng đơn vị
cơ sở đã cơ bản kết thúc, đạt yêu cầu đặt ra trong thời kỳ đó chính phủ chủ trơng
củng cố, tổ chức lại các hình thức tổ chức liên hiệp tổng công ty theo hớng hình
thành và tập đoàn kinh doanh mạnh thuộc sở hữu " Nhà nớc". Những nội dung
chính sách chủ yếu về tổng công ty Nhà nớc là tăng thực lực, khả năng tích tụ, khả
năng cạnh tranh của DNNN trên các lĩnh vực quan trọng.
- Tổng công ty trong các ngành quan trọng nhất, điều kiện chín muồi nhất
do chính phủ quyết định thành lập chỉ định các doanh nghiệp thành viên và nhân
sự, hoạt động trên phạm vi cả nớc (Tổng công ty 91).
+ Tổng công ty thành lập ở cấp bộ, địa phơng gồm các thành viên tự nguyên

gấp 2 lần so với 46 tỷ đồng trớc cổ phần hoá. Số lợng lao động chẳng những không
giảm mà còn tăng 20%. Ví dụ công ty chế biến hàng xuất khẩu long an từ 900 đến
1200 lao động, công ty cơ điện lạnh từ 244 lao động đến 806 lao động. Thu nhập
của ngời lao động tăng bình quân 20% /năm điển hình là công ty cổ phần đại lý
liên hiệp vận chuyển bộ giao thông vận tải có thu nhập lợi nhuận tằng từ 2- 3 lần,
nộp Ngân sách tăng 2 - 25 lần, vốn điều lệ tăng 2,5 lần. Lãi cổ tức đã cao hơn lãi
tiết kiệm, bình quân từ 1 - 2% tháng, có một số công ty đạt 2,5%. Tuy nhiên số
DNNN đợc cổ phần hoá trong thời gian qua là quá ít so với kế hoạch đề ra. Năm
1998 đạt 55% năm 1999 đạt 63% năm 2000 đạt 36%.
II.2.4. Ban hành và thực hiện hệ thống luật liên quan đến DNNN.
Cùng với nhiều chính sách vĩ mô đã thay đổi, nhà nớc cũng đã từng bớc ban
hành hệ thống luật liên quan đến DNNN. Trong đó có hai bộ luật đợc hình thành t-
ơng đối sớm là luật phá sản doanh nghiệp và luật doanh nghiệp Nhà nớc (năm
1995).
- Đối với luật phá sản, đây là bớc đi mạnh dạn đồng thời đáp ứng tình hình
thực tế đã và đang xuất hiện rõ lợng không ít DNNN lâm vào tình trạng mất khả
năng thanh toán, nhng nếu dựa vào các văn bản pháp quy trớc đó thì không thể xử
lý đợc.
Luật doanh nghiệp Nhà nớc, là một bớc ngoặt về chất lợng quan trọng trong
tiến trình xây dựng, củng cố và quản lý Nhà nớc đối với hệ thống DNNN - hệ
thống quan trọng vào bậc nhất trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta.
Luật doanh nghiệp ra đời 4/1999 là tín hiệu mới cho các doanh nghiệp nói
chung, DNNN nói riêng. Nó thay đổi cách t duy xây dựng luật pháp của chúng ta
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status