LỜI MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kì cho sự
phát triển của thế giới. Toàn cầu hoá kinh tế đã dẫn đến quốc tế hoá,cạnh tranh
và hợp tác toàn cầu trong giáo dục đại học. Giáo dục đào tạo đại học được công
nhận là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
và phát triển xã hội trên nhiều phương diện.
Sau nhiều năm đổi mới, nền kinh tế có nhiều khởi sắc,đòi hỏi các công ty
không ngừng cải tiến và phát triển để tăng cường sức mạnh và nâng cao vị thế
cạnh tranh.Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ngày càng mở rộng và
phát triển mạnh mẽ,nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng tăng cao. Và trong môi
trường đó,đội ngũ lao động phải không ngừng được đào tạo và đào tạo lại một
cách sâu rộng.Vì vậy,nhu cầu về đội ngũ lao động có chất lượng cao ngày càng
đặt ra bức thiết và cần có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của đội
ngũ lao động đó. Khi hoạt động của các doanh nghiệp trở nên toàn cầu hóa hơn
thì các doanh nghiệp phải có một lực lượng lao động có trình đọ tay nghề và tiến
hành cuộc chiến tranh mang tính toàn cầu. Điều đó đòi hỏi người tôt nghiệp đại
học phải có những phẩm chất nhất định,có khả năng cạnh tranh thành công trên
thị trường lao động đang ngày một gay gắt. Việc nâng cao chất lượng đào tạo
hiện nay là việc cần làm nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ lao động
chất lượng cao nước ta.
Trước thực trạng quản lý đào tạo của nước ta hiện nay cón nhiều khuyết điểm
và bộc lộ nhiều yếu kém,xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang đòi hỏi
giáo dục đại học Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới cách quản lý để đảm bảo
và ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo.
2. Mục tiêu của bài nghiên cứu.
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập với kinh tế thế giới, cơ hội việc làm
và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường, những vấn đề cấp thiết đã và
đang được đặt ra với đội ngũ lao động nước ta. Trước tình hình đó,việc nâng cao
chất lượng dạy và học tại các trường đại học hiện nay được đặt ra với cả người
1
và thông tin, chất lượng sản phẩm hay thông tin trong cơ cấu đó.
Nhà trường thực hiện nhiều hoạt động như thiết kế chương trình, giảng
dạy, đảm bảo chất lượng. Nhà trường cần tổ chức, duy trì mạng lưới quá trình và
những chỗ tương giao, cải tiến và cung cấp chất lượng cho người học.
Phát triển giáo dục đào tạo đại học là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài của nhà nước. Phát triển chất lượng
giáo dục đào tạo đại học giúp đào tạo sinh viên có những kỹ năng, kiến thức, tư
duy có khả năng làm việc, đáp ứng nhu cầu củn người sử dụng lao động. Phát
triển giáo dục đào tạo đại học gắn với việc phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa
học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,
đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề,mở rộng quy mô trên cơ
sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.
Đào tạo đại học có ý nghĩa về mặt giá trị và giá trị sử dụng. Về mặt giá trị,
dịch vụ đào tạo đại học có ích đối với xã hội trong việc tạo ra và duy trì đội ngũ
lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu việc làm đang ngày càng tăng. Giá
trị sử dụng của dịch vụ đào tạo đại học là lợi ích, sự thiết thực của nó và điều
này được quyết định một cách khách quan,đem lại cho những người liên quan sự
thụ hưởng lợi ích, những người có nhu cầu cần đáp ứng từ việc đào tạo đại học,
nó thỏa mãn nhu cầu cần được đào tạo của học sinh, sinh viên và những vị phụ
huynh, và thêm nữa là thỏa mãn nhu cầu của xã hội trong việc cung cấp đội ngũ
lao động đã qua đào tạo cũng như nhu cầu mong muốn của người sử dụng.
Đào tạo đại học hiện nay là hình thức dịch vụ có tác động đến nhiều đối
tượng trong xã hội như: Người học như sinh viên là người trực tiếp đóng học phí
và tiếp nhận những kiến thức,kỹ năng mà nhà trường cung cấp. Người hỗ trợ
3
sinh viên trong việc đi học và đóng học phí, chi trả các khoản trong cuộc sống
hàng ngày chịu ảnh hưởng bởi việc tăng hay giảm học phí. Đối tượng thứ ba là
người sử dụng lao động, là người có nhu cầu về lao động có chất lượng cao từ
các trường đại học. Vì vậy, chất lượng của các trường đại học có ảnh hưởng lớn
tới các đối tượng trên.
không còn trực tiếp điều chỉnh, quản lý các trường đại học mà để cho các trường
tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự hoạch định sự phát triển, quy mô đào tạo và các
ngành nghề mà khách hàng cần.
Đào tạo đại học là dịch vụ và người học cần phải đóng học phí để có được
những kiến thức cần thiết do nhà trường cung cấp, và những kiến thức đó được
giảng dạy là do nhu cầu của người học. Vì vậy, đào tạo đại học đã và đang trở
thành ngành dịch vụ thương mại.
Các trường đại học cần có nâng cao chất lượng đào tạo đại học để đáp ứng
nhu cầu và thỏa mãn khách hàng là 3 đối tượng đã nêu trên. Và với chất lượng
đào tạo tốt, tạo được uy tín, thương hiệu, trường đại học đó có thể thu hút nhiều
khách hàng, và ngày càng phát triển cùng với thương hiệu của mình.
2. Tiêu chí của dịch vụ đào tạo đại học.
-Độ tin cậy: Là khả năng thực hiện chất lượng đào tạo đã hứa hẹn một cách
tin cậy và chính xác, nâng cao uy tín, chất lượng cam kết với khách hàng.
- Sự đảm bảo: Thể hiện qua kiến thức và tác phong làm việc, tinh thần trách
nhiệm của độ ngũ giáo viên, khả năng gây lòng tin cậy và sự tín nhiệm của họ,
luôn có trách nhiệm trong việc giảng dạy và nhiệm vụ được giao, đảm bảo cung
cấp cho người học kiến thức, kỹ năng phù hợp với công việc và nhu cầu của xã
hội.
- Tính hữu hình: Dịch vụ đào tạo đại học các trường phải đảm bảo điều kiện
vật chất, có đầy đủ giảng đường, phòng học cho việc học tập,trang thiết bị và đồ
dùng, hình thức bề ngoài của nhân viên phục vụ, nhân viên trực giảng đường.
- Sự thấu cảm: Đó là sự quan tâm, lưu ý đối với từng khách hàng của nhà
trườn, hiểu được tâm lý, nhu cầu từng đối tượng để có cách thức phục vụ tốt
hơn.
- Trách nhiệm: Là sự sẵn lòng giúp đỡ từng đối tượng khách hàng như sinh
viên, bậc phụ huynh , các doanh nghiệp,… và cung cấp dịch vụ mau lẹ, đúng
thời điểm.
II. Quản lý chất lượng đào tạo đại học .
1. Thực chất của quản lý chất lượng đào tạo đại học
kiểm tra
Hoạch định
chất lượng
- Xác định
mục tiêu
- Xây dựng
tiêu chuẩn
- Chương
trình, giáo
trình, kế
hoạch.
Tổ chức
- Tổ chức hệ
thống
- Tổ chức bộ
máy
- Tổ chức
thực hiện
Quá trình dạy và học
(Tuyển sinh, tổ chức dạy và học)
Đổi mới quản lý Nhà nước về giáo dục:
Chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục.
Tiêu chuẩn (Nhà giáo, thành lập trường, trường…)
Quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ.
Phân công phân cấp đào tạo theo hướng tăng cường quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
Đổi mới quản lý đào tạo đại học của các trường
Thực hiện tốt chức năng, đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn. Đối với
đào tạo: tổ chức quản lý tốt quá trình dạy và học để đảm bảo và nâng cao
chất lượng đi đôi với tăng quy mô và đảm bảo hiệu quả.
dựng các tiêu chuẩn cho các trường để thực hiện nhất quán chủ trương đề ra và
có phương hướng cho các trường phát triển. Một số biện pháp như:
* Nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học. Nhà
nước nên để các trường tự hoạch định về tài chính, tự chủ về các mặt và có thể
nâng cao tính hiệu quả, chất lượng trong giáo dục đào tạo đại học ở các trường.
7
* Đào tạo theo nhu cầu: Các trường đại học cần xác định nhu cầu đào tạo, và
công bố đầu ra, đưa ra những tiêu chuẩn của một sinh viên sau khi ra trường có
được kỹ năng, kiến thức cần thiết cho nhu cầu tuyển dụng như thế nào.
* Gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận vói những
kiến thức khoa học mới,phù hợp với sự phát triển toàn cầu hóa hiện nay.
* Kiểm định chất lượng đào tạo đại học là việc không thể thiếu và ngày càng
trở nên quan trọng trong quản lý chất lượng đào tạo đại học hiện nay. Nhờ kiểm
định chất lượn mà nhà nước có thể đánh giá chất lượng các trườn và có biện
pháp với các thiếu sót.
* Đào tạo theo tín chỉ thay cho đào tạo theo niên chế nhờ đó mà sinh viên có
thể chủ động về thời gian và phưỡng pháp học, lấy người học là trung tâm, nâng
cao tinh thần tự học tự rèn luyện cho sinh viên, từ đó khác sâu thêm hiểu biết và
khả năng tự tu duy.
* Sắp xếp lại mạng lưới các trường.
8
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
I.Thực trạng chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay.
1.1. Chất lượng đào tạo đại học.
Theo Bộ GD- ĐT thì “Chất lượng đào tạo đại học là sự đáp ứng mục tiêu đề
ra của trường Đại học”
Chất lượng giáo dục đại học là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có
đáp ứng nhu cầu xã hội. Các đặc tính vốn có đó là: Phẩm chất đạo đức, sức
khỏe, kiến thức, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên ra trường
nghệ khoa học nhanh chóng, xây dựng một đội ngũ lao động có trình độ cao.
- Toàn cầu hóa : do sự toàn cầu hóa, sự hòa nhập của nền kinh tế thế giới, chất
lượng của các trường đại học trên thế giới ngày càng được nâng cao, do đó các
trường đại học ở Việt Nam cần được quản lý và nâng cao, phấn đấu đạt chuẩn
quốc tế và không bị lạc hậu so với các trường trên thế giới.
- Văn hóa xã hội : Ảnh hưởng tới việc ra quyết định quản lý của Bộ GD và
việc thực hiện các quy định đó tại các trường. Nó còn ảnh hưởng tới cách làm
việc của các cán bộ quản lý đào tạo đại học, cách học và dạy trong các trường
đại học hiện nay. Ví như truyền thống hiếu học và coi việc học là con đường duy
nhất để thoát khỏi đói nghèo, để làm giàu cho bản thân và cho đất nước. Với tư
tưởng đó, cả sinh viên và giáo viên sẽ dạy và học say mê, nhiệt tình, chất lượng
đào tạo đại học cũng được nâng cao.
- Cơ chế chính sách : buộc các trường phải tuân theo và tác động mạnh mẽ tới
phương hướng phát triển của các trường, các trường đại học cần theo dõi cơ chế
chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra để có hướng phát triển phù hợp.
+ Nhân tố bên trong:
- Chiến lược đào tạo: Mục tiêu, mô hình đào tạo: các trường đại học cần đề ra
cho mìnhchiến lược mục tiêu đào tạo cụ thể để từ đó có thể có con đường phát
triển cho riêng mình, không bị đi vào những mục tiêu chung chung, khó xác
định.
- Nội dung, chương trình giáo trình: chương trình, giáo trình của trường có
ảnh hưởng tới chất lượng học của sinh viên. Nội dung, chương trình, giáo trình
cần phải được bố trí, giảng dạy phù hợp với việc dạy và học, phù hợp với nhu
cầu mà sinh viên đang cần được giảng dạy. Đặc biệt, chương trình, giáo trình
của nhà trường cần phải thống nhất, có chương trình phù hợp tạo thuận tiện cho
sinh viên theo học các trường khác nhau trong cùng một khối ngành.
10