BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------------------------
VÕ THỊ BÍCH HẠNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TTDN Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GI
ÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
tài liệu quí báu để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn.
- Phòng Dạy nghề - Sở Lao động – Thương binh & Xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh; Ban Giám hiệu, quí Thầy, Cô 10 Trung tâm Dạy nghề quận 1, 2, 3, 4,
6, Gò Vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức, Bình Chánh, Tân Bình đã nhiệt tình cung
cấp dữ liệu trung thực, khách quan để tác giả luận văn hoà
n thành công tác
khảo sát.
- Gia đình, bạn bè lớp Sau đại học khóa 14 đã chân tình động viên, hỗ trợ tác
giả mọi phương diện trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng do điều kiện nghiên cứu và năng lực còn hạn
chế nên luận văn chắc chắn gặp những thiếu sót nhất định. Kính m
ong Quí Thầy,
Cô trong hội đồng khoa học, và các bạn đồng nghiệp vui lòng góp ý thêm để luận
văn được hoàn thiện và giúp tác giả cải thiện những giải pháp trong công tác quản
lý thực tế.
Một lần nữa tác giả luận văn trân trọng cảm ơn Quí Thầy, Cô và bạn bè đồng
nghiệp. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các thay đổi gần đây trên toàn thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong
mọi hoạt động dịch vụ, khiến các tổ chức nhận thức được tầm quan trọng của chất
lượng.Chất lượng đã trở thành một từ phổ biến. Để thu hút khách hàng, các tổ chức
cần phải đưa chất lượng vào nội dung quản lý. Ngày nay, hầu hết các khách hàng,
đặc biệt là các tổ chức lớn đều m
ong mỏi được cung cấp những sản phẩm có chất
lượng thỏa mãn và vượt sự mong muốn của họ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay, mọi nguồn lực và sản phẩm
ngày càng dễ dàng vượt biên giới quốc gia. Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã và sẽ trở
Quảng Ninh vào tháng 6/ 2001 có 16 bài tham luận. Tựu trung nội dung các bài
tham luận chỉ đề cập đến hoặc nội dung chương trình đào tạo, tổ chức quản lý
trường hoặc đề cập đến việc quản lý chất lượng đào tạo nghề theo các loại mô hình
quản lý khác nhau trong đó đề nghị quản lý chất lượng theo ISO 9000.
Tại hội thảo “Hệ thống đào tạo và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật tại Việt Nam”
do Tổng cục dạy nghề và dự á
n BBPV (CHLB Đức) đồng tổ chức tại Đà Lạt tháng
2/2002 đề cập chủ yếu thực trạng và những giải pháp bồi dưỡng năng lực cho đội
ngũ giáo viên kỹ thuật tại Việt Nam.
Việc nâng cao quản lý chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề cũng
được sự quan tâm của các tổ chức nước
ngoài, đặc biệt là hai tổ chức SDC
(Thụy Sỹ) và tổ chức Unido (Thụy Điển). Tổ chức SDC – Cơ quan hợp tác
phát triển Thụy Sỹ thông qua Tổng cục dạy nghề thực hiện dự án “Tăng cường
năng lực cho các Trung tâm dạy nghề Việt Nam ở một số tỉnh/thành phố trọng
điểm. Dự án tập trung vào 4 lĩnh vực chính: xây dựng chương trình đào tạo nghề
theo module, đầu tư nâng cấp tra
ng thiết bị dạy nghề, bồi dưỡng tay nghề chuyên
môn và kỹ năng giảng dạy của giáo viên, và cuối cùng là phát triển tổ chức.
Tổ chức Unido (Thụy Điển) chỉ tập trung hỗ trợ các kỹ năng dịch vụ cho học
viên qua chương trình “Khởi sự doanh nghiệp và tăng cường khả năng kinh doanh”
nhằm tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho học viên sau đào tạo.
Xuất phát từ những lý do trên, đồng thời để tăng cường chất lượng “sản phẩm”
của các Trung tâm dạy nghề, chúng tôi đã chọn đề tài “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRUNG TÂM DẠY
NGHỀ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” với mong muốn có thể đóng góp một
phần nhỏ bé vào việc bảo đảm chất lượng và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề trong
thời gian tới.
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích tài liệu: đây là phương pháp tác giả sử dụng để thu
thập các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như sách, bá
o, tài liệu hội
thảo, báo cáo của các cơ quan chức năng như Tổng cục dạy nghề, Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội.
Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: đây là phương pháp được tác giả sử
dụng trong suốt quá trình làm đề tài. Tác giả tiến hành gặp gỡ, trao đổi,
phỏng vấn các chuyên gia dự án SVTC, tổ chức Unido, Trưởng phòng và
cán bộ chuyên trách phòng dạy nghề – Sở Lao động – Thương
binh và
Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám đốc và Trưởng phòng đào tạo/
trưởng phòng giáo vụ các Trung tâm dạy nghề nội thành Thành phố
Hồ Chí Minh về các vấn đề liên quan.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: đây là phương pháp mà tác giả sử dụng để
làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp.
Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò: nhằm mục đích làm rõ thực
trạng về quản lý chất lượng đào tạo tại các Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh với 272 mẫu đại diện được chọn theo phương pháp khách
quan ngẫu nhiên ở các đối tượng là cán bộ quản lý phòng Dạy nghề, cán bộ
lãnh đạo quản lý các Trung tâm dạy nghề, giáo viên các Trung tâm dạy
nghề.
Xuất phát từ đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi đã xây
dựng công cụ nghiên cứu là bộ câu hỏi điều tra bằng phiếu nhằm làm rõ thực trạng
quản lý của
các trung tâm dạy nghề các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh, cụ
thể như sau:
- Quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề.
giới.
Là một trong những tài liệu tham khảo cho các trung tâm dạy nghề có
dự định xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn VN
ISO 9001:2000 tại đơn vị.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3
phần:
Phần I: Mở đầu: giới thiệu khái quát đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối
tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Phần II: Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng đào tạo và thực trạng quản lý tại các Trung tâm
dạy nghề ở Thà
nh phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo tại
các Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Phần III: Kết luận và kiến nghị.
Phụ lục:
Một số qui trình quản lý áp dụng tại Trường Kỹ thuật công nghệ Hùng
Vương (trước là Trung tâm dạy nghề quận 5).
Thư mục sách tham khảo.
Công cụ nghiên cứu.
chức, có hướng đích của c
hủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục
tiêu đã đề ra.
Trong định nghĩa trên, ta thấy nổi bật một số điểm sau:
Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác
định.
Quản lý thể hiện mối qua
n hệ giữa hai bộ phận: đó là chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối
tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý). Đây là quan hệ ra lệnh –
phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
qui luật khách quan.
Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
1.1.
1.2. Bản chất của quản lý: quản lý là hoạt động chủ quan của chủ thể
quản lý vì mục tiêu, lợi ích của tổ chức, đảm bảo cho hệ thống tồn tại và phát
triển. Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý phản ánh chủ yếu lý tưởng, ý chí,
nhân cách của chủ thể quản lý trong mối quan hệ với hệ bị quản lý.
1.1.
1.3. Các qui luật của hoạt động quản lý: để quản lý thành công, nhà
quản lý phải nắm được các qui luật, mối quan hệ giữa các qui luật, phải hiểu biết
sâu sắc, tường tận về những qui luật quản lý cần thiết. Do đó, có thể nói rằng
quản lý là quá trình nắm vững các qui luật khách quan, tác động lên chúng và
hành động theo những qui luật đó. Người ta đã phát hiện những qui luật cơ bản
của quản lý như sau:
Các qui luật kinh tế trong quản lý.
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vậc chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
(Khoa học quản trị - Nguyễn Văn Lê, Tạ Văn Doa
nh – NXB TP.HCM, 1994).
d) Theo trường phái tâm lý “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học
và nghệ thuật tác động vào hệ thống, mà chủ yếu là vào những con người, nhằm
đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội xác định” (Khoa học quản trị - Nguyễn Văn Lê,
Tạ Văn Doanh – NXB TP.HCM, 1994).
e) “Quản lý là khoa học và nghệ thuật, tư cách thực hành thì cách quản lý
là một nghệ thuật, còn các kiến thức về quản lý là một khoa học” (Khoa học
quản trị - Nguyễn Văn Lê, Tạ Văn Doa
nh – NXB TP.HCM, 1994).
f) Công việc của đại nhân (người quản lý – cai trị) chỉ là ở chỗ tập trung
được xung quanh mình nhiều người hiền” (Mặc Tử - Vai trò con người trong
quản lý doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995).
g) “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau
đó hiểu được rằng họ đã hoàn t
hành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất (F.W
Tay lor,Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường,
Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
h) “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức và điều phối,
phối hợp và kiểm tra (H.Fayol,Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp –
Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
i) “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của mình được thực hiện
thông qua người khác (M.P.Pollet, Vai trò con người trong quản lý doa
nh
nghiệp – Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
nhiệm quản lý gọi là thủ trưởng đơn vị.
Bộ phận bị quản lý còn gọi là đối tượng quản lý. Giữa quản lý và lãnh đạo
có sự khác nha
u nhất định. Lãnh đạo chủ yếu vạch ra đường lối chính trị hay
phương hướng chỉ đạo. Còn quản lý chủ yếu là tác động vào đối tượng bị quản
lý để thực hiện đường lối chính trị đã đề ra.
Quản lý là một khoa học: khoa học quản lý là một khoa học ứng dụng. Nó dựa trên các phương pháp khoa học lấy từ các khoa học khác như: toán học,
kinh tế chính trị học, tin học, tâm lý học xã hội….
Quản lý là một nghệ thuật: một bộ phận công tác quản lý là sự tác động
trực tiếp giữa con người với con người. Trong trường hợp này năng suất lao
động phụ thuộc một phần vào mối quan hệ giữa người với người.
Rõ ràng, việc quản lý như thế đòi hỏi phải có nghệ thuật. Nghệ th
uật đó
thể hiện ở thái độ cư xử có văn hóa, khôn ngoan, và tế nhị trong việc vận dụng
các nguyên tắc vào con người nói chung và vào từng con người cụ thể. Nghệ
thuật quản lý con người chủ yếu là dựa vào các qui luật tâm lý học.
1.1.2. Khái niệm về quản lý giáo dục.
Cho đến nay cũng có nhiều định nghĩa về “quản lý giáo dục”, nhưng tr
ên
bình diện chung, những định nghĩa này đều thống nhất về mặt bản chất.
Theo M.Zade thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm bảo
đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm
sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng”
Theo P.V. Khudominxki thì “Quản lý giáo dục là việc xác định những đường
lối cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ qua
n trong hệ thống giáo dục”.
Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh và có kết quả tốt trong nhà
trường.
Bảo đảm các chương trình, kế hoạch được thực hiện về mọi mặt; các
điều lệ, chế độ, nội qui được chấp hành, làm
cho mọi hoạt động trong
nhà trường được thực hiện nhịp nhàng, cân đối và có chất lượng cao.
Bảo đảm sự đoàn kết nhất trí trong toàn trường, động viên mọi khả
năng tiềm tàng để đội ngũ giáo viên phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp
giáo dục – đào tạo.
1.1.2.2. Mục tiêu quản lý: mục tiêu quản lý giáo dục là yếu tố cơ bản của
hệ thống quản lý. Mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái của hệ thống m
à ta
muốn thu được. Trạng thái hay kết quả đó hiện chưa có hoặc đang có nhưng ta
muốn duy trì. Trạng thái hay kết quả chỉ đạt được thông qua các tác động quản
lý.
1.1.2.3. Chức năng quản lý: chức năng quản lý giáo dục là những loại
công việc được lặp đi lặp lại theo những chu kỳ nhất định nhằm thực hiện mục
tiêu quản l
ý. Các công việc thuộc chức năng quản lý giáo dục được phân loại
theo bước công việc của quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác.
Các bước công việc đó là:
Chức năng kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là căn cứ vào thực trạng của nhà
trường và căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của nhà
trường tr
ong từng thời kỳ, từng giai đoạn và từ đó tìm ra con đường, biện
pháp, cách thức đưa nhà trường đạt được mục tiêu đó.
Chức năng tổ chức: tổ chức là những nội dung và phương pháp hoạt động cơ bản trong việc thiết lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó
chất chung cho bất kỳ nhiệm vụ quản lý nào, và những nguyên tắc riêng cho
từng hệ thống quản lý (sản xuất, phân phối, lưu thông, các hoạt động văn hóa, xã
hội…). Trong nhà trường, tuỳ theo từng nước và tuỳ theo từng nhà nghiên cứu,
đã có những cách trình bày khác nhau về các nguyên tắc quản lý, và số lượng
các nguyên tắc nêu lên cũng không giống nhau, nhưng tựu trung lại đều bao
gồm những nội dung sau:
Nguyên tắc thống nhất quan điểm sư phạm v
à chính trị: nguyên tắc này đòi hỏi trong bất kỳ quyết định nào về sư phạm đều phải có nhân tố chính
trị, cụ thể là phải quán triệt đường lối, quan điểm, chính sách nói chung
và nói riêng về giáo dục – đào tạo của Đảng. Thực hiện nguyên tắc này
còn cần phải làm cho mỗi giờ lên lớp có sự thống nhất giữa giảng dạy và
giáo dục; luôn coi trọng công tác chính trị tư tưởng trong giáo viên, cán
bộ công nhân viên, học sinh; tôn trọng sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng trong nhà trường.
Nguyên tắc tập trung dân c
hủ: nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở
những yêu cầu sau:
Thực hiện chế độ thủ trưởng trong nhà trường. Chế độ thủ trưởng là
chế độ quản lý trong đó người thủ trưởng một mình quyết định và
chịu trách nhiệm về mọi việc hoạt động trong đơn vị mình.
Thực hiện sự phối hợp và cộng tác chặt chẽ với các đoàn t
hể trong
nhà trường.
Tổ chức các hoạt động của các tổ chức tư vấn trong nhà trường.
Thực hiện công khai hóa các chủ trương của trường có liên quan đến
đời sống của quần chúng.
Nguyên tắc tính khoa học: nguyên tắc này đòi hỏi tính khoa học trong qui
dung là tổ chức và hành chính.
Phương pháp tổ chức là tác động lên đối tượng quản lý thông qua các qui
định. Nội dung các qui định do các cơ quan quản lý cấp trên ban hành, bao gồm
các loại qui chế, chế độ, tiêu chuẩn, tuyển sinh, thi, kiểm tra, khen thưởng, kỷ
luật…
Tuy vậy, các qui định này mang tính chất chung không thể đề cập đến tất
cả các trường.
Vì vậy, từng trường phải có những văn bản cụ thể hóa các qui
định sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đơn vị. Việc đề ra các văn bản
cụ thể phải được tiến hành theo trình tự khoa học. Nghĩa là phải được điều tra,
nghiên cứu tình hình thực tiễn rồi mới xây dựng các qui định. Trong quá trình áp
dụng, phải theo dõi, tổng kết, rút kinh nghiệm để sửa chữa, bổ sung cho sát với
thực tế của trường.
Phương pháp hành c
hính là tác động lên đối tượng quản lý thông qua các
chỉ thị, mệnh lệnh, yêu cầu phải làm những công việc nhất định theo những điều
kiện do người lãnh đạo đề ra.
Điểm chung của hai phương pháp trên là tác động lên đối tượng quản lý
bằng cách bắt buộc và trực tiếp. Chính vì lẽ đó nên người ta ghé
p hai phương
pháp đi liền với nhau. Hơn nữa, hai phương pháp này còn có tác động qua lại:
nếu phương pháp tổ chức được tăng cường và tiến hành có chất lượng thì
phương pháp hành chính được giảm bớt và ngược lại.
Phương pháp giáo dục chính trị - tư tưởng: thông qua phương pháp
này, người lãnh đạo làm cho mọi người nâng cao trình độ nhận thức của mình về
đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, hiểu r
õ
chức trách, nhiệm vụ cá nhân và các mối quan hệ công tác, nâng cao nhiệt tình,
hiện các chức năng quản lý của mình.
1.1.3. Khái niệm về chất lượng.
Chất lượng là một vấn đề rất trừu tượng, không ai nhìn thấy được và cảm
nhận được nó một cách trực tiếp bằng các giác quan của mình, không thể đo
lường bằng những công cụ đo thông thường. Vì vậy, nhiều học giả đã cố gắng lý
giải chất lượng thông qua các điều kiện đảm bảo chất lượng đầu vào, quá trình và đầu ra.
Chất lượng là: “Tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự
việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác. (Từ
điển tiếng Việt phổ thông).
Chất lượng là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo
nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”. (Từ điển tiếng Việt
thông dụng – Nhà Xuất bản Giá
o dục – 1998).
Chất lượng là: “Mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối,
dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Poket Dictionnary).
Chất lượng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu người sử dụng” ( Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50 – 109).
Chất lượng là: “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho
thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu
cầu tiềm ẩn
. (TCVN – ISO 8402).
Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh sau: (theo Harvey & Green –
1993) đó là:
Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc.
Sự hoàn hảo.
Sự phù hợp, thích hợp.
sắc, là mức độ cao nhất của chất lượng. Cách hiểu này không thể hiện
đầy đủ ý nghĩa cũng như các mức độ khác nhau của chất lượng. Tuy
nhiên, đó cũng là đích để chúng ta hướng tới.
Chất lượng theo quan niệm tương đối là mức độ đáp ứng nhu cầu, mong
muốn của khách hàng và có thể đo được. Quan niệm cho rằng chất lượng
giáo dục được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn chỉ
phù hợp trong điều kiện mục tiêu được thiết kế chuẩn xác, đáp ứng được
nhu cầu của xã hội.
1.1.4. Quản lý chất lượng là gì?
Chất lượng không tự sinh ra. Chất lượng không phải là một kết quả tất nhiên,
nó là kết quả của sự tác động có chủ đích của hàng loạt các hoạt động có liên
quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý
một cách đúng đắn tất cả các hoạt động này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực
chất lượng gọi là quản lý chất lượng.
Định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO: “Quản lý chất lượng l
à một
hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm đề ra những chính sách, mục tiêu,
trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng,
kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, và cải tiến chất lượng trong khuôn
khổ của hệ thống c
hất lượng”.
Chính sách chất lượng là toàn bộ ý đồ và định hướng về chất lượng do
lãnh đạo cao nhất của tổ chức chính thức công bố.
Hoạch định chất lượng là các hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu và
các yêu cầu đối với chất lượng và để thực hiện các yếu tố của hệ thống chất lượng.
nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo
các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức – Viện Nghiên cứu phát triển giáo
dục).
Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê Đức Phúc – Viện Khoa học giáo dục).
Vấn đề quản lý chất lượng giáo dục và đào tạo luôn bao gồm hai vấn đề cần
giải quyết đó là:
Làm thế nào để nâng cao chất lượng.
Làm thế nào để đánh giá và bảo đảm chất lượng.
Để giải quyết hai vấn đề này cần phải có hiểu biết và các kinh nghiệm đúng
đắn về chất lượng và quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng trước hết được phát triển và áp dụng rộng rãi trong lĩnh
vực sản xuất và ki
nh doanh. Trước những thay đổi to lớn trong mục tiêu và yêu
cầu quá trình về xây dựng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, mà giáo dục và
đào tạo là khâu then chốt nhất, đòi hỏi phải gắn sự phát triển của các cơ sở giáo
dục đào tạo với sự phát triển về chất lượng giáo dục và đào tạo của cơ sở đó. Do
đó, nâng cao và đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo không còn là mục đích
tự thân của mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo mà đã trở thành một đòi hỏi cấp
thiết từ phía có liên quan đến c
hất lượng giáo dục và đào tạo: nhà trường –
học sinh – nhà nước (toàn dân).
1.1.7. Mối quan hệ giữa chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo n
ói
riêng là những thuật ngữ khái niệm cơ bản được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác
nhau. Theo từ điển tiếng Việt thông dụng thuật ngữ chất lượng được hiểu là “cái
làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm
cho sự vật này khác sự vật kia”. Như vậy, thuật ngữ “chất lượng” phản ánh
chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của
thị trường như quan hệ cung – cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và
bố trí công việc của nhà nước và người sử dụng lao động ..v..v. Do đó, khả năng
thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào
tạo ngoài xã hội và thị trường lao
động.
Chất lượng đào tạo nghề nghiệp còn là sự thỏa mãn mục tiêu và đáp ứng
yêu cầu của “khách hàng” đối với “sản phẩm”. Ở đây “sản phẩm” chính là
người đã được đào tạo và tốt nghiệp tr
ong các trường nghề, trung tâm dạy nghề,
còn “khách hàng” là những đơn vị, cá nhân có sử dụng người đã tốt nghiệp trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp như chủ doanh nghiệp, thủ trưởng đơn vị, nhà
nước, cơ quan, đoàn thể, phụ huynh học sinh….
Việc đo lường và đánh giá chất lượng đào tạo là hết sức khó khăn bởi vì
“sản phẩm” để đo là những con người phát triển qua đào tạo và chịu sự tác động
phức hợp của môi trường xã hội; vì các quan niệm còn khác nhau khi xây dựng
chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo; vì các phương pháp và tiêu chuẩn, tiêu chí
đánh giá chất lượng đào tạo chưa được xây dựng và ban hành trong toàn
ngành,..v…v…
1.1.8. Các vấn đề chung
về chất lượng giáo dục và đào tạo.
1.1.8.1. Các mối quan hệ có ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục và đào
tạo.
CHÍNH PHỦ, TOÀN DÂN
MỤC TIÊU CHẤT LƯỢNG
HỌC SINH, DOANH NGHIỆP NHÀ TRƯỜNG, GIÁO CHỨC Khác với trong sản xuất kinh doanh, trong hoạt động giáo dục và đào tạo
thái độ của học viên từ khi và
o trường cho đến khi ra trường.
Nhà trường phải đưa ra các chuẩn mực sản phẩm mà họ sẽ đào tạo để có thể đo đếm, xác định chất lượng.
c. Lý thuyết về chất lượng theo tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu.
“Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt
được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai”.
Các điểm mạnh:
S ự tôn trọng và khẳng định tính đa dạng của sứ mệnh (nhiệm vụ) của
từng trường, tôn trọng các đặc điểm về lịch sử và môi trường m
à trong
đó nhà trường hoạt động.
Theo cách hiểu chất lượng như vậy thì sứ mệnh và mục tiêu của từng
cơ sở đào tạo sẽ có tính hành động. Các mục tiêu phải cụ thể, có thể
đo lường được.
H ướng vào mục tiêu mà cơ sở đào tạo dự định đạt được chứ không
phải hướng vào những gì đang có. Điều nà
y dẫn tới ý nghĩa khuyến
khích các hành động để đạt đến mục tiêu đó.
Khuyến khích sự công khai các nhiệm vụ, chức năng, các mục tiêu và
kết quả mong đợi của cơ sở đào tạo với xã hội.
Theo quan điểm này, chất lượng và các yếu tố chất lượng bao trùm
lên mọi vấn đề, mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường có thể cụ thể
hóa bằng các tiêu chí và các chỉ số đá
nh giá cho từng lĩnh vực quản lý.
Điểm yếu:
Các chỉ tiêu và chỉ số đánh giá phụ thuộc vào khả năng xác định sứ
mạng, mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể đó là những công việc
180 điểm) gồm: phương hướng chiến lược (60 điểm), văn
hóa tổ chức (40 điểm), lãnh đạo thông qua tổ chức (40 điểm), sự tham
gia của môi trường và cộng đồng (40 điểm).
Chính sách và lập kế hoạch (100 điểm) gồm: hiểu biết môi trường
kinh doanh (40 điểm
), quá trình lập kế hoạch (30 điểm), phát triển và
vận dụng các nguồn lực (30 điểm).
Dữ liệu, thông tin, và kiến thức (100 điểm), gồm: thu thập và diễn tả
các dữ liệu, thông tin (30 điểm), tích hợp và sử dụng thông tin cho
việc ra quyết định (40 điểm), tạo ra và quản lý kiến thức (30 điểm).
Con người (160 điểm), gồm: sự tham gia và cam kết (60 điểm), sự
hiệu quả và
phát triển (50 điểm), sức khỏe, an toàn và sống lành mạnh
(50 điểm).
Chú trọng khách hàng và thị trường (150 điểm), gồm: kiến thức về
khách hàng và thị trường (60 điểm), quản lý mối quan hệ với khách
hàng (50 điểm), nhận thức của khách hàng về giá trị (40 điểm).
Chất lượng của quá trình, sản phẩm v
à dịch vụ (160 điểm), gồm: quá