541 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Pdf 25

Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
MỞ ĐẦU
Ta biết rằng trong phần lớn thế kỷ 20, sức mạnh kinh tế của một quốc
gia dựa trên đầu tư vào tư liệu sản xuất và cải tiến quá trình sản xuất.
Nhưng ngày nay cải tiến kỹ thuật không còn bị giới hạn trong những máy
móc nhập khẩu vốn dĩ có thể mua được dễ dàng trên thị trường, mà còn gắn
với việc tiêu thụ hàng hóa. Những ngành xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhất
trên thế giới như sản xuất chất bán dẫn, máy tính, thiết bị truyền thông,
dược phẩm có chi phí sản xuất không đáng kể so với chi phí và thời gian
nghiên cứu để làm ra sản phẩm đó. Việc sản xuất những sản phẩm này trên
thực tế có thể được đặt ở Việt nam, nhưng công nghệ điện tử, sinh - hóa, và
việc nghiên cứu lý thuyết để làm ra những sản phẩm đó, kể cả việc làm gia
tăng giá trị thặng dư, thì được sáng tạo ở các trường đại học của các nước
phát triển. Trường đại học là cỗ máy quan trọng nhất trong cuộc cách mạng
tri thức.
Vì lý do đó mà giáo dục đại học luôn được xã hội quan tâm. Trong
những năm gần đây, đổi mới giáo dục luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội
quan tâm. Một trong những nội dung trọng tâm nhất của đổi mới giáo dục
là đưa học chế TC áp dụng vào các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt nam.
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hướng tới mục tiêu nâng cao
chất lượng đào tạo, nhiều trường ĐH ở Việt nam đã áp dụng học chế TC
trong đó có Trường ĐH KTQD. Việc áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ là
một tiền đề để chất lượng đào tạo của chúng ta bát kịp với nền giáo dục thế
giới. Trong ba năm qua, việc áp dụng học chế tín chỉ đã cho thấy nhiều ưu
điểm nhưng cũng xuất hiện không ít những khó khăn, bất cập đòi hỏi chúng
ta phải giải quyết. Để làm sáng rõ thực trạng áp dụng học chế TC vào việc
đào tạo của Trường ĐH KTQD chúng tôi xin chọn đề tài: "Thực trạng
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế TC của Trường
ĐH KTQD "làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình. Hy vọng qua đề tài

Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của
một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm; thời gian
lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc
khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và thời gian dành cho đọc sách,
nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài...; đối với các môn học
lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một
tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay
phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối
với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần. (Bản dịch của
Bộ giáo dục và Đào tạo).
Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác
về tín chỉ và thực tế đào tạo của đơn vị, tín chỉ theo cách hiểu của
ĐHQGHN được cụ thể hóa như sau:
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một
môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất
định thông qua các hình thức: học tập trên lớp; học tập trong phòng thí
nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo
viên
1
); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề
hoặc chuẩn bị bài v.v. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của
người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học
tập tiêu chuẩn. (ĐHQGHN 2006)
Trong thực tế ở một số Trương ĐH Việt nam hay cụ thể hơn là ở
Trường chúng ta, theo nhóm nghiên cứu của chúng em TC lại được hiểu gần
giốn như một đơn vị học trình và một môn học được đo bằng nhiều TC. Mỗi
một môn học hoàn thành thì sinh viên coi như đã tích l số TC theo quy định.
1.1.2. Đặc điểm của đào tạo theo hoc chế TC

trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo
khác nhau.
Học chế TC cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích
luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều
nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi. Về
phương diện này có thể nói học chế TC là một trong những công cụ quan
trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang
tính đại chúng.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
+ Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Với học chế TC, SV có thể chủ động ghi tên học các học phần khác
nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh
vực kiến thức. Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong
tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu.
Với học chế TC, các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới
một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao
động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên.
Học chế TC cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung,
tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài
nước.
+ Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
Với học chế TC, kết quả học tập của SV được tính theo từng học
phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó
không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ
đầu. Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế TC thấp hơn so với đào
tạo theo niên chế.
Nếu triển khai học chế TC các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể
tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các
môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học những môn học lựa

có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại
học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực
tiễn cuộc sống, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế
hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi SV có thể lựa
chọn một cách rộng rãi. Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học
chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống TC được áp dụng rộng rãi hầu như trong
mọi trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ
thống TC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các
nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan,
Malaisia, Indonesia, ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, ... Tại
Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống TC cũng lần lượt được
áp dụng ở nhiều trường đại học. Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách
giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn
Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European
Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung
quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế TC (European
Credit Transfer System -ECTS) trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi
cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực
châu Âu và trên thế giới.
Có thể nói hiện nay, học chế tín chỉ là một hình thức giáo dục được
nhiều nước áp dụng một cách toàn diện vào nền giáo dục của nước mình.
Đặc biệt là Mỹ - nơi khai sinh ra học chế tín chỉ.
1.3. Chủ trương chính sách của Đảng trong đổi mới Giáo Dục.
Đào tạo theo học chế tín chỉ là 1 trong 7 bước đi quan trọng trong lộ
trình đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020. Theo chủ trương của
Bộ GD-ĐT, ngay trong năm học 2006-2007, các trường phải tập trung triển

Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
1.4. Đôi nét về tình hình áp dụng học chế TC vào giáo dục ĐH ở Việt
nam trong những năm vừa qua.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiện nay ở
Việt nam đã có hơn 10 trường áp dụng học chế TC vào đào tạo ĐH và CĐ
trong đó điển hình là Trường ĐH Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh,
Trường ĐH Quốc gia Hà nội, ĐHXây Dựng, ĐH Dân lập Phương Đông …
Và Trường ĐH KTQD của chúng ta cũng tiến hành áp dụng hình thức đào
tạo này từ năm học 2006-2007, thí điểm với SV khoá 48.
Việc áp dụng học chế tín chỉ tuy đã đạt được những thành tựu bước
đầu đáng ghi nhận như: Đặt những tiền đề quan trọnh cho việc nâng cao
chất lượng đào tạo, mở rông quy mô đào tạo, tạo cơ hội cho SV phát huy
tính chủ động trong việc chọn môn học và thực hiện quá trình học tập, Giúp
Giáo viên và sinh viên có cơ hội tiếp cận với một nền giáo dục tiên tiến hơn.
Nhưng bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận rằng việc áp dụng học chế
tín chỉ và Việt nam cũng bộc lộ rõ nhiều bất cập đáng chú ý. Tiêu biểu như:
+ Mỗi trường một kiểu
+ Nhiều trường cảm thấy hụt hơi và có ý định quay lại với học chế
liên chế vì cơ sở vật chất còn thấp chưa phù hợp.
+ Chấp nhận đào tạo tín chỉ theo kiểu giao thoa.
+ Học tín chỉ nhưng chua quen.
Với thực trạng trên, một câu hỏi được nhiều người đặt ra trên các
phương tiện thông tin đại chúng là liệu mục “ tiêu đến năm 2010, các
trường ĐH cơ bản chuyển sang ĐTTC” có phải là một mục tiêu quá tham
vọng?
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Chương 2: Thực trạng áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ
ở Trường ĐH KTQD
2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành phát triển và cơ sở vật chất hiện có

1. Khoa Bất động sản và kinh tế tài nguyên.
2. Khoa Du lịch và khách sạn.
3. Khoa Đầu tư.
4. Khoa Giáo dục quốc phòng.
5. Khoa Kế hoạch và phát triển.
6. Khoa Kế toán - Kiểm toán.
7. Khoa Khoa học quản lý.
8. Khoa Kinh tế bảo hiểm.
9. Khoa Kinh tế học.
10. Khoa Kinh tế môi trường và đô thị.
11. Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực.
12. Khoa Lý luận chính trị.
13. Khoa Luật.
14. Khoa Marketing.
15. Khoa Ngân hàng - Tài chính.
16. Khoa Ngoại ngữ kinh tế.
17. Khoa Quản lý đào tạo quốc tế.
18. Khoa Quản trị kinh doanh.
19. Khoa Tại chức.
20. Khoa Thống kê.
21. Khoa Thương mại và kinh tế quốc tế.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
22. Khoa Tin học kinh tế.
23. Khoa Toán kinh tế.
Các viện
1. Viện dân số và các vấn đề xã hội
2. Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển
3. Viện quản trị kinh doanh
4. Viện sau đại học.

à xuất bản
Nhà văn hóa,
giảng đường A
Giảng đường B
Giảng đường CDE
Một đội bóng của trường
Sân bóng
Các sinh viên đang
giải lao
Khu nhà giáo vụ 5, 6, 7,
10, 14
viện quản trị kinh doanh Khu KTX
Khu giảng đường
D2 đang XD
Nhóm nghiên cứu CFE

Trích đoạn DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status