Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai - Pdf 24

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết qủa nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích rõ nguồn
gốc.
Đồng Nai, ngày tháng năm
2012
Học viên
Lê Thị Đạo
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các đoàn thể và cá nhân
trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học
Lâm nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy PGS.
TS. Nguyễn Văn Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên Phòng Lao
động- phòng Dạy nghề - Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Đồng Nai,
Trung tâm dạy nghề Định Quán, trường Trung cấp nghề Khu vực Long Thành-
Nhơn trạch, Trường Cao đẳng nghề Cơ giới & Thủy Lợi và các huyện, xã có liên
quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người lao động, những học
viên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, ngày tháng năm 2012

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu 39
iv
2.3. Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 39
Chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn được đánh giá qua các chỉ tiêu sau
đây: 39
Chương 3: 40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1. Đặc điểm lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 40
3.2. Hệ thống dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 44
3.2.1. Số lượng cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 44
3.2.2. Đội ngũ giáo viên tại các cơ sở dạy nghề cho LĐNT tỉnh Đồng Nai 46
3.3. Kết quả thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng
Nai 48
3.3.1. Chương trình về đào tạo nghề cho lao động của tỉnh Đồng Nai 48
3.3.2. Các chính sách khuyến khích đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng
Nai 49
3.3.3. Kết quả thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh
Đồng Nai 54
3.3.4. Một số mô hình đào tạo nghề điển hình đã thực hiện trong tỉnh Đồng Nai 56
3.3.5. Tình hình việc làm và thu nhập của LĐNT sau khi được đào tạo nghề 62
3.4. Thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 63
3.4.1. Thực trạng đảm bảo chất lượng của các cơ sở đào tạo 64
3.4.2. Thực trạng chất lượng nghề của lao động được đào tạo 65
3.4.3. Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của cơ sở sử dụng lao động 67
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 71
3.5. Những thành công , tồn tại và nguyên nhân đảm bảo chất lượng đào tạo nghề
cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 72
3.5.1. Những thành công 72
3.5.2. Những tồn tại 73
3.5.3. Những nguyên nhân 74

Công nghiệp hóa
Chuyên môn kỹ thuật
Chương trình
Cơ sở vật chất
Dạy nghề
Đào tạo nghề
Giới thiệu việc làm
Giáo dục
Gíao dục chuyên nghiệp
Hợp tác xã
Hướng nghiệp –dạy nghề
Lao động nông thôn
Lao động thương binh & xã hội
Nông nghiệp & phát triển nông thôn
Sản xuất kinh doanh
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung tâm
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
S hiu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của tỉnh Đồng Nai 33
2.2 Tình hình dân số của tỉnh Đồng Nai năm 2011 34
3.1 Các ngành nghề lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai 49
3.2
Thống kê số cơ sở dạy nghề cho LĐNT tỉnh Đồng Nai
(năm 2011)

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, do tác động của quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc
độ nhanh trên một số vùng của đất nước dẫn đến tình trạng mất cân đối về cung,
cầu lao động giữa nông thôn và thành thị. Trường hợp xảy ra có tính chất phổ
biến: các doanh nghiệp nhất là mới ra đời không tuyển đủ số lao động cần thiết
(chủ yếu lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ) trong khi đó lao động
phổ thông không có việc làm lại dư thừa khá nhiều. Mỗi năm có hàng trăm nghìn
lao động phổ thông từ các vùng xung quanh các đô thị lớn đổ xô ra thành phố,
thị xã tìm việc làm. Các “chợ lao động” tự phát xuất hiện ở một số đường phố
ngày càng nhiều.
Sở dĩ có tình trạng như vậy vì nhiều năm liền chúng ta chưa chú ý đào tạo
nghề cho nông dân một cách có bài bản, chưa làm tốt vấn đề phân công lao động
trong nông nghiệp. Vì vậy, vấn đề cần làm ngay trong quá trình triển khai xây
dựng nông thôn mới là tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp.
Cả nước ta hiện nay có gần 16 triệu hộ ở nông thôn, chiếm 69,4% số hộ với gần
38 triệu lao động, chiếm 69% số lao động của cả nước, trong đó lao động làm
việc trực tiếp trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 57,9% số lao động cả
nước. Mục tiêu của chúng ta là đến năm 2020 giảm xuống còn 30% số lao động
làm nông nghiệp còn lại phải chuyển sang ngành nghề khác phi nông nghiệp.
Gần một phần tư thế kỷ (1986 – 2010) thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,
chúng ta chỉ giảm được 21% (từ 79% năm 1985 còn 51,9% hiện
nay). Đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa đất nước, vì
sự phát triển tiến lên giàu có của nông dân, chúng ra nhất định phải tiến hành đào
tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nâng cao trình độ cho nông
dân còn tiếp tục làm nông nghiệp. Hàng năm, chúng ta phải tập trung đào tạo
chuyển nghề cho lao động nông thôn từ 700 đến 800 nghìn người và 300 nghìn
2
nông dân tiếp tục làm nông nghiệp. Cơ sở, trường lớp đào tạo hiện còn chưa đáp
ứng, cái khó nhất là đào tạo lao động phi nông nghiệp có việc làm và thu nhập

2020. Theo quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Đồng Nai giai đoạn
2008-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Chính vì vậy vấn đề đào tạo nghề cho lao
động nông thôn của tỉnh Đồng Nai hết sức cần thiết nhằm cung cấp nguồn lao
động nông thôn cho toàn tỉnh.
Từ yêu cầu thực tiễn của Tỉnh, người nghiên cứu đã quyết định nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai
2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn.
+ Đánh giá được thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên đia bàn tỉnh Đồng Nai.
+ Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tỉnh Đồng Nai.
+ Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
cho lao động nông thôn tại Tỉnh Đồng Nai.
3. Đi tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đi tượng nghiên cứu
Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Về thời gian: giai đoạn 2009- 2011.
- Về nội dung: Nghiên cứu các hoạt động đào tạo nghề ngắn hạn cho lao
động nông thôn tại Tỉnh Đồng Nai.
4. Nội dung nghiên cứu

6
Như vậy, đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất
cho người lao động để họ nắm vững được nghề nghiệp, chuyên môn, bao gồm
đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề. Có thể nói, tay nghề là
chìa khóa then chốt giúp cho người lao động có nhiều cơ hội trong tìm kiếm
việc làm, đồng thời đây chính là yếu tố quyết định đến sự ổn định về việc làm
và thu nhập của người lao động. Do đó, đào tạo nghề cho người lao động
được xác định là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của một quốc gia.
1.1.1.2. Đặc thù đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nông thôn Việt nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi
cung cấp và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu
công nghiệp. Thế nhưng, tồn tại một thực tế đối với lao động nông thôn hiện
nay là thị trường lao động tại khu vực này chưa thực sự phát triển, nó còn
phân mảng, phân tán và sơ khai. Bản thân lao động nông thôn chưa có cơ hội
phát huy khả năng cống hiến của mình cho sự nghiệp phát triển nông thôn.
Trình độ văn hóa và CMKT của lao động nông thôn luôn thấp hơn so
với mức chung của cả nước. Có đến trên 83% lao động nông thôn chưa qua
trường lớp đào tạo CMKT nào và khoảng 18,9% lao động nông thôn chưa tốt
nghiệp Tiểu học trở xuống đang làm việc, vì thế khả năng chuyển đổi nghề
nghiệp, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm tốt hơn đối với nhóm lao động này là
rất khó. Thêm vào đó là lề lối làm ăn trong ngành nông nghiệp truyền thống
và tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế tính chủ
động, sáng tạo của người nông dân trong sản xuất, kinh doanh, cũng như khả
năng tiếp cận thị trường của người lao động.
1.1.1.3. Yêu cầu đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế thế giới. Hơn bao
giờ hết, Việt Nam cần phải khẳng định vị thế của mình trên thế giới, cũng như
7
hoàn thành sự nghiệp CNH – HĐH; do đó, Việt Nam cần phải có những chiến

những giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân của sự giảm sút đó là:
- Trang thiết bị hiện nay ở các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu.
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề chưa đồng đều. Trình độ ít được nâng cao
cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Trình
độ sư phạm và quản lý nhiều năm qua ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào
tạo lại.
- Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình
trạng lạc hậu, thiếu thống nhất, vì vậy chưa theo kịp sự tiến bộ của khoa học –
công nghệ mới.
- Đối với lao động nông thôn, mặc dù chiếm phần lớn tổng lực lượng
lao động trong cả nước nhưng năng suất lao động của lực lượng này thấp do
họ làm việc chỉ dựa vào kinh nghiệm chứ không qua trường lớp đào tạo nào
dẫn đến chất lượng sản phẩm làm ra thấp, ít có tính cạnh tranh trên thị trường
thế giới
Những nguyên nhân trên đã trực tiếp làm cho chất lượng đào tạo đặc
biệt là đào tạo kỹ năng nghề của người học nghề chưa đáp ứng được yêu cầu
của thị trường lao động, nên rất khó tìm việc làm; không đáp ứng được yêu
cầu của CNH – HĐH. Có thể nói rằng, lựa chọn sự nghiệp CNH – HĐH đất
nước là chúng ta bắt đầu quá trình phát triển theo chiều sâu, trong đó chất
lượng lao động có ý nghĩa quyết định. Cùng với việc mở rộng qui mô đào tạo,
nâng cao chất lượng dạy nghề là một đòi hỏi khách quan, cấp bách nhằm thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.1.1.4. Mục đích đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn
9
Đào tạo nghề và tạo việc làm có thu nhập ổn định cho người nông
dân là góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta không ngừng quan tâm đến việc triển khai thực hiện công tác đào tạo
nghề cho lực lượng lao động có chất lượng phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH
đất nước. Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp
và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa

100.000 lượt cán bộ, công chức xã; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần
chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH –
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
• Giai đoạn 2009 – 2010:
Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục
tiêu của Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia Giáo dục – Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy
nghề cho lao động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và
đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân
tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh
tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%.
• Giai đoạn 2011 – 2015:
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng
4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghề
nông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc làm
sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%.
• Giai đoạn 2016 – 2020:
11
Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó:
Khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học
nghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc
làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%.
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể; cùng
với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong quá trình triển khai thực hiện của
các cấp, các ngành, đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lại
những kết quả khả quan, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
chung của cả nước, đồng thời mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho
người lao động, đặc biệt là bộ phận lao động nông thôn – nguồn nhân lực

trả công bằng hiện vật. Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc
làm cần thoả mãn hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của
một hoạt động được thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng
quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân
vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm
của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm .
1.1.2.2. Sự cần thiết của việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế, xã hội. Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự
phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế xã hội. Lý luận và thực tiễn
13
đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của
ba yếu tố cơ bản, đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động,
là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra. Thực vậy, tư liệu sản
xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của
con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động.
C.Mac và P.Ăng Ghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các
yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải
vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất
trong tất cả các hoạt động của con người. Ngày nay, con người với trình độ
khoa học công nghệ cao là một thành tố quan trọng của lực lượng sản xuất
cũng như trong công cuộc xây dựng đổi mới đất nước, các chính sách của
Đảng và Nhà nước ta là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người
với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu chung của cách mạng. Đảng ta
coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của

việc của nền kinh tế luôn thấp hơn nhu cầu việc làm của lao động nông thôn.
Ở Việt Nam, số việc làm tăng hàng năm ở nông thôn chỉ đáp ứng được dưới
60% nhu cầu. Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm
truyền thống và thu hút nhiều lao động của cư dân nông thôn. Tuy nhiên bị
hạn chế bởi diện tích đất canh tác, vốn hạn hẹp và có xu hướng giảm dần do
quá trình đô thị hoá và CNH đang diễn ra mạnh ở các địa phương. Điều này
đã hạn chế khả năng giải quyết việc làm ở nông thôn, và hậu quả ngày càng
thiếu việc làm cho người lao động nông nghiệp, nếu lực lượng này không
chuyển dần sang khu vực sản xuất khác.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và chi phối mạnh mẽ của quy
luật sinh học và các điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng, tiểu vùng như:
15
Đất đai, khí hậu, thời tiết… Do đó mà tính thời vụ trong nông nghiệp rất cao,
thu hút lao động không đều, trong trồng trọt lao động chủ yếu tập trung chủ
yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là
thời gian lao động “nông nhàn” trong nông thôn. Trong thời gian nông nhàn,
một bộ phận lao động nông thôn chuyển sang làm các công việc phi nông
nghiệp hoặc đi sang các địa phương khác làm việc để tăng thu nhập. Tình
trạng thời gian nông nhàn cùng với thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp
là nguyên nhân đầu tiên gây nên hiện tượng di chuyển lao động nông thôn từ
vùng nay đến vùng khác, từ nông thôn ra thành thị, tạm thời hoặc lâu dài.
Trong nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp, và phi nông nghiệp
(tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) thường bắt nguồn từ lao động
của kinh tế hộ gia đình. Các thành viên trong gia đình có thể chuyển đổi, thay
thế để thực hiện công việc của nhau. Vì vậy, việc chú trọng thúc đẩy việc phát
triển các hoạt động khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một những biện pháp
tạo việc làm có hiệu quả.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là hoạt động phi nông nghiệp
với một số nghề thủ công mỹ nghệ được lưu truyền từ đời này qua đời khác
trong từng gia đình, từng dòng họ, từng làng xã, dần dần hình thành nên

Thái Lan áp dụng trung tâm gắn liền chính sách phát triển quốc gia với
chính sách phát triển nông thôn thông qua hình thái phát triển xí nghiệp ở
làng quê nghèo. Phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề
đặc biệt là ở nông thôn để giảm bớt quỹ thời gian lao động nhàn rỗi. Nhờ hoạt
động của Ban phát triển nông thôn (IBIRD) và tổ chức hiệp hội dân số và phát
triển cộng đồng (PDA) theo trung tâm trên, hàng năm Thái Lan giải quyết cho
gần 1 triệu lao động có việc làm [15].
17
*Nhật Bản
Để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn Nhật
Bản đã tiến hành:
- Cải cách ruộng đất và thực hiện chương trình đa dạng hoá sản phẩm
nông nghiệp. Chính cải cách ruộng đất đã khuyến khích người nông dân đầu
tư thêm nhiều lao động vào ruộng đất chính họ sở hữu. Để tăng sản lượng, số
ngày làm việc bình quân một vụ trên một diện tích gieo trồng được tăng lên.
Bên cạnh đó thâm canh tăng vụ, hợp lý hoá cơ cấu cây trồng đã hạn chế được
tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ.
Các chính sách và chương trình hỗ trợ nông thôn khác như chương trình
tưới tiêu, cung cấp tín dụng và trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học
vào trường phổ thông, hình thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng
thử nghiệm phục vụ nông dân. Những chương trình này đã tạo thêm việc làm
và thu nhập cho nông dân Nhật Bản. Sức mua ở các khu vực nông thôn tăng
lên, tạo điều kiện để phát triển kinh tế phi nông nghiệp và công nghiệp, từ đó
thu nhập của các hộ nông dân đã không ngừng tăng lên.
Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất
nghiệp là mở rộng các dịch vụ ngành nghề nông nghiệp,bán lẻ và phân phối
trong các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi áp lực của di dân và cạnh tranh
quốc tế [15].
*Trung Quốc
Trung quốc là nước đã dành được thành tích trong giải quyết việc làm.

được quá trình thuyên chuyển lực lượng lao động thặng dư đến các khu vực
phi nông nghiệp. Ngay từ khi mới thành lập các công ty dịch vụ lao động đã
chú trọng việc đào tạo lại nghề cho những người tìm việc, hàng năm các trung
tâm đào tạo của Trung Quốc đã đào tạo được khoảng 2,06 triệu người. Hầu
19
hết các chương trình dạy nghề đều do các công ty dịch vụ quản lý.
Giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư và phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ là 2 vấn đề lớn nhưng không phải mới, mà nước nào
cũng tính tới. Đã có những nước phát triển doanh nghiệp và và nhỏ, thu hút
được nhiều lao động nông nghiệp dôi dư rời bỏ nông thông ra thành thị
kiếm sống ngày một đông. Nhưng cái mới, cái đáng nói ở Trung Quốc là 2
vấn đề đó đã được giải quyết trong điều kiện "Bất ly hương". Dĩ nhiên, để
thực hiện "Ly nông bất ly hương" sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn
phức tạp khác [15].
1.2.2. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Vit Nam
Dưới thời Pháp thuộc, nước ta đã có hệ thống trường Cao đẳng để ngăn
cản phong trào xuất dương du học và hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp kĩ
nghệ để dạy các ngành nghề dưới sự bảo trợ của thực dân Pháp.
Khi cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ đã chú trọng đến
công tác xoá mù chữ và đào tạo nghề.
Tháng 3 năm 1951 thành lập vụ GDCN theo nghị định 346.
Tháng 8 năm 1952 chính phủ đã thông qua chính sách GD chuyên nghiệp
Năm 1969 thành lập Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật
Năm 1978 thành lập Cục dạy nghề.
Năm 1984 ban hành Quy chế trường nghề.
Theo danh mục đào tạo 1985 cả nước có 396 nghề, việc đào tạo nghề
trong các trường chính quy là đảm bảo chuẩn về lý thuyết và thực hành để
đáp ứng hành nghề trước mắt và có tiềm năng phát triển nghề trong tương lai.
Năm 1986 có quy chế TTDN quận, huyện và ban hành danh mục mới về
đào tạo nghề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status