Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang sống
trong khu vực nông thôn, lao động nông thôn chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả
nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (Phương Lan, 2009).
Tuy nhiên lao động nông thôn phần lớn làm việc bằng kinh nghiệm không qua đào tạo
bài bản, thiếu tổ chức, thiếu quy hoạch; việc tiếp cận và làm chủ khoa học, công nghệ
tiên tiến của nông dân còn nhiều hạn chế dẫn đến năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất thấp. Theo số liệu thống kê năm 2009, lao động nông thôn có việc làm và kỹ năng
chuyên môn chỉ chiếm 16,8%, còn lại 83,2% là chưa qua đào tạo, chưa có trình độ kỹ
thuật chuyên môn (Phương Lan, 2009). Trong khi đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn của nước ta ngày càng đòi hỏi cần phải có một lực
lượng lao động đông đảo, có chất lượng, có tay nghề, chuyên môn và tính kỷ luật cao
nhằm nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân, góp phần thực hiện hiệu quả
chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần đảm bảo an
sinh xã hội. Do đó, đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
thôn là một yêu cầu cấp thiết trong quản lý nhà nước về lao động hiện nay. Theo
PGS.TS Cao Văn Sâm – Phó Tổng cục trưởng – Tổng cục Dạy nghề cho biết: số lao
động nông thôn được học nghề ngắn hạn và nghề sơ cấp bằng chính sách hỗ trợ theo
Quyết định 81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000 người và sẽ còn tiếp tục
tăng trong những năm tới. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tổng 3 năm từ 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó
quy mô tuyển sinh đến năm 2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên
85% (Phương Lan, 2009).
Thanh Liêm là một huyện nằm phía Nam của tỉnh Hà Nam, có đường Quốc lộ
1A chạy qua, có nguồn nhân lực khá dồi dào, có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất
• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề lao
động nông thôn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận về đào tạo nghề, các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông
thôn và các vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
thôn.
2
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
Đề tài đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thanh Liêm,
tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây.
Thời gian thực hiện đề tài từ 22/01/2010 – 22/05/2010
3
Khóa luận tốt nghiệp
4
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
Có thể nói trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nguồn lao động luôn là nhân tố
trung tâm giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của sản xuất. Thực tế cho thấy, sự
hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia, một lãnh thổ phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng nguồn nhân lực. Như vậy nguồn lao động và nguồn nhân lực có vai trò quyết
định trong sự phát triển kinh tế xã hội ở mọi thời đại. Nhận thức đúng đắn vấn đề trên
đây không chỉ giúp chúng ta thấy rõ ý nghĩa tầm quan trọng của nó mà còn có cơ sở lý
luận để xem xét việc phát triển nguồn nhân lực sao cho hiệu quả nhất.
2.1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực
Như trên đã khẳng định, một quốc gia, một lãnh thổ muốn phát triển kinh tế xã
hội thì không thể thiếu đi nguồn nhân lực, do đó việc phát triển nguồn nhân lực là một
việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, đặc biệt là với một quốc gia đang trong quá
trình CNH – HĐH như Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng. Nguồn nhân
lực biểu hiện qua các mặt cơ cấu, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc. Nhờ
vậy mà phát triển được năng lực, ổn định được công ăn việc làm và đóng góp cho sự
phát triển của xã hội (Bùi Sỹ Lợi, 2002).
Hiện nay, nói đến phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam chủ yếu là nói đến nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm phẩm chất đạo đức
và năng lực hoạt động (năng lực tác nghiệp). Trong hai tiêu chí trên, tiêu chí thứ hai
(năng lực hoạt động) dù vất vả mới đạt được nhưng dễ đánh giá và dễ hiệu chỉnh hơn.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã đề ra các quan điểm lớn về chính
sách phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào những điểm cơ bản sau:
2.1.2.1 Khái niệm
Giáo dục – đào tạo và dạy nghề là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phát
triển tiềm năng con người, là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh
tế xã hội của một quốc gia. Kết quả của giáo dục đào tạo là làm tăng lực lượng lao
động có trình độ, làm tăng năng suất lao động; đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội,
thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ…, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có những khái niệm cơ
bản cần tập trung quan tâm:
• Mục tiêu dạy nghề: Nghị định 139/2006/NĐ – CP ngày 20/11/2006 ban hành
ghi rõ mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch
vụ, có năng lực thực hành nghề xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức nghề nghiệp, ý
6
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề
có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp
ứng yêu cầu của thị trường lao động.
• Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực hiện, tạo ra năng lực để thực hiện
thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết.
“ Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ
năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” (Phạm
Xuân Điều, 2000).
Như vậy, đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
người lao động để họ nắm vững được nghề nghiệp, chuyên môn, bao gồm đào tạo mới,
Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có tầm quan trọng
góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội
nhập của đất nước.
Vai trò của dạy nghề được thể hiện ở những mặt sau :
Một là, dạy nghề góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực về kiến thức và kỹ năng, đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động trong
nước, khu vực và trên thế giới.
Hai là, dạy nghề đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH – HĐH đất nước.
Ba là, dạy nghề góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và phát triển
ngành nghề mới ở nông thôn. Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong
những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong điều
kiện hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao
động hiện nay có kiến thức và chuyên môn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm.
Để tháo gỡ vấn đề này, phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu
nhằm đào tạo đội ngũ lao động giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với bộ
phận lao động nông thôn, thông qua các lớp đào tạo nghề sẽ có thể bằng những nghề
mình học mà tạo lập nghề nghiệp ngay trên quê hương mình. Đây không chỉ là vấn đề
giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để phát triển ngành nghề mới ở
nông thôn.
Bốn là, dạy nghề đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động. Ngoài việc nâng cao chất
lượng tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đào tạo nghề còn góp phần nâng cao
8
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
9
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của
cả hệ thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo
không gian dưới tác động của các yếu tố.
Khi xã hội ngày càng phát triển, cùng với những yêu cầu ngày càng khắt khe về
chất lượng các sản phẩm của người tiêu dùng thì chất lượng đào tạo nghề cho nguồn
nhân lực nói chung và chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng cũng
cần được quan tâm một cách kịp thời và cần được đầu tư một cách hiệu quả nhằm khai
thác triệt để năng lực của bộ phận lao động quan trọng này.
2.1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Khi nói đến chất lượng là chúng ta nói đến bản chất bên trong của một sự vật, sự
việc nào đó. Chất lượng đào tạo nghề là một khái niệm trừu tượng, do đó việc đo lường
chất lượng đào tạo nghề cũng chỉ mang tính chất tương đối. Để đánh giá chất lượng sau
một quá trình đào tạo, chúng ta thường tập trung vào hai khối đối tượng chính: bản
thân người học và cơ sở đào tạo nghề (chất lượng cơ sở đào tạo).
Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáo
dục đại học. Đó là quá trính đào tạo trên cơ sở tiếp thu kết quả giáo dục phổ thông để
đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề. Việc đào tạo để hình thành năng lực
nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo. Quá trình đào tạo chú trọng đến một hệ
thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập. Đó chính là những yêu cầu, vị trí
công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân kỹ thuật.
Muốn đào tạo nghề thực sự mang lại hiệu quả và chất lượng tốt nhất phụ thuộc
vào các yếu tố:
• Chất lượng đầu vào (bản thân người học nghề): Trình độ văn hóa, sở trường
- Tài chính (kinh phí định mức đào tạo, vật tư thực hành, chi phí quản lý, thù lao
giáo viên …): Tài chính cho các cơ sở dạy nghề có vị trí hết sức quan trọng, có tính
chất quyết định sự tồn tại phát triển của các cơ sở dạy nghề. Tài chính bao gồm các
khoản chi cho việc đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, chi phí công tác quản
lý, tiền lương và các hoạt động khác của trường. Có thể nói đào tạo nghề là hình thức
đào tạo tốn kém nên rất cần sự đầu tư đúng mức của chính phủ và được sự hỗ trợ kinh
phí từ các nguồn khác.
- Dịch vụ đào tạo (cư xá, tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động …): Đây
là những dịch vụ cần thiết và hữu ích đối với học sinh, là cơ sở giúp cho học sinh sau
khi tốt nghiệp các lớp đào tạo nghề có thể tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề
11
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
được đào tạo, tạo điều kiện cho họ có thể phát huy được khả năng của mình trong quá
trình làm việc, từ đó giúp cho thu nhập của họ tăng lên và ổn định hơn.
• Học sinh tốt nghiệp: Năng lực và phẩm chất đạt được sau khi đào tạo theo mục
tiêu đào tạo; Sức khỏe đáp ứng nghề nghiệp; Kỹ năng sống (giao tiếp, hoạt động xã
hội). Đây là kết quả của quá trình đào tạo, thể hiện chất lượng của việc đào tạo nghề
cho mỗi học viên.
• Tham gia thị trường lao động (từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra trường): Trình độ
chuyên môn đáp ứng yêu cầu làm việc (năng suất, tổ chức hoạt động); Mức độ hoàn
thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích nghi trong công việc.
Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất lượng nhân cách có phù
hợp hay không với yêu cầu đề ra. Cần phải xem xét chất lượng đầu vào (tuyển sinh học
sinh học nghề), chất lượng của quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra (tốt nghiệp và
quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho
bản thân gia đình người lao động, mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện
đại của các nước có nền công nghiệp phát triển.
Lựa chọn con đường CNH - HĐH nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn nhận định
Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, do đó
chất lượng lao động nông thôn cũng được các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm. Trong
những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Đảng và Nhà nước ta
triển khai một cách tích cực và thường xuyên, tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhờ đó
làm tăng thu nhập cho họ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn gặp phải những hạn
chế nhất định mà chúng ta cần phải tìm cách giải quyết một cách nhanh chóng, hợp lý.
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số
công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với chất lượng
cao. Muốn vậy phải nâng cao chất lượng dạy nghề, bởi những năm qua cùng với sự suy
giảm về số lượng, chất lượng dạy nghề cũng đã có những giảm sút nghiêm trọng.
Nguyên nhân của sự giảm sút đó là:
- Trang thiết bị hiện nay ở các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu.
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề chưa đồng đều. Trình độ ít được nâng cao cho phù
hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Trình độ sư phạm và
quản lý nhiều năm qua ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo lại.
- Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình trạng lạc
hậu, thiếu thống nhất, vì vậy chưa theo kịp sự tiến bộ của khoa học – công nghệ mới.
13
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
- Đối với lao động nông thôn, mặc dù chiếm phần lớn tổng lực lượng lao động
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
nghề nông - lâm - ngư nghiệp chỉ chiếm 5% số học sinh”. Số lao động nông thôn được
học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề bằng chính sách hỗ trợ theo Quyết định
81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000 người. Nhiều địa phương đã khuyến
khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể dạy nghề cho lao động nông thôn,
nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các nghề truyền thống. Bình quân hàng
năm, các làng nghề đã đào tạo được thêm việc làm cho khoảng 250.000 lao động.
Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong 3 năm
từ năm 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó quy mô tuyển sinh năm
2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85% (Phương Lan, 2009).
Mạng lưới các cơ sở dạy nghề đã được mở rộng, bao gồm ở thành thị và nông
thôn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nông thôn có nhu cầu học nghề.
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết tháng 8/2008, cả nước có gần
1.800 cơ sở đào tạo nghề. Theo đó, mỗi năm các cơ sở này phải đảm nhân việc đào tạo
nghề cho khoảng 1,1 triệu lao động nông thôn (Bộ NN&PTNT, 2009).
Theo báo cáo chưa đầy đủ của các bộ, ngành, địa phương, đến hết tháng
11/2009, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh được 1.707.000 người, đạt 104% so với kế
hoạch, tăng 11,2% so với thực hiện năm 2008. Tuyển sinh trình độ cao đẳng nghề được
89.000 người, bình quân một trường tuyển sinh 600 sinh viên (Lan Phương, 2009). So
với năm 2008, số trường dạy nghề tăng 2,37 lần, trung tâm dạy nghề tăng 4,56 lần
(Theo TTXVN/VietNam+, 2009).
Bên cạnh sự tăng về quy mô, chất lượng đào tạo nghề cũng được nâng cao, đáp
ứng được yêu cầu của thị trường lao động về nhân lực. Người học nghề đã được trang
bị những kiến thức cơ bản, kỹ năng nghề nghiệp được cải thiện một cách đáng kể. Lao
động nông thôn sau khi được học đã tự tạo được việc làm góp phần nâng cao năng suất
lao động và thu nhập ổn định cho bản thân và gia đình.
số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm quản lý
(Phương Lan, 2009).
Hiện nay, cả nước có khoảng 8.000 giáo viên dạy nghề. Với chiến lược phát triển
dạy nghề đến năm 2010, cả nước cần có khoảng 350 trường cao đẳng và trung cấp dạy
nghề. Mỗi quận, huyện có ít nhất 1 trung tâm đào tạo nghề để nâng tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo nghề lên 26%, quy mô tuyển sinh đào tạo nghề đạt khoảng 1,5 triệu ngưòi, trong
đó hệ trung cấp và cao đẳng đạt 27% thì cần phải có khoảng 20.000 giáo viên dạy nghề.
Muốn đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, theo ông Ngô Văn Hai, Hiệu
trưởng Trường Trung học Công nghiệp TP.HCM, cần phải có một cuộc cải cách lớn
16
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
trong lĩnh vực dạy nghề mà mấu chốt là phải có sự liên kết, phối hợp giữa “3 nhà”: nhà
nước, nhà đào tạo và nhà tuyển dụng. Các cơ quan quản lý nhà nước cần nhanh chóng
xây dựng quy hoạch, nghiên cứu những ngành nghề là thế mạnh phù hợp với xu hướng
phát triển của đất nước.
Đối với các trường dạy nghề, cần phải tự đổi mới và nâng cấp mình, phải dự báo
được nhu cầu của xã hội, đào tạo đúng những gì mà các nhà doanh nghiệp cần đến. Các
doanh nghiệp cần chủ động tham gia vào công tác đào tạo nghề ở các trường dạy nghề
như hỗ trợ kinh phí, tham gia xây dựng nội dung chương trình đào tạo; tiếp nhận, tạo
điều kiện thuận lợi cho giáo viên, học viên đến tham quan, thực tập; liên kết tổ chức
đào tạo thực tiễn tạo cơ sở sản xuất…( Theo TTXVN, 2006).
2.2.2 Tình hình đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam
những năm gần đây
Đất nước ta đang phấn đấu trở thành nước CNH - HĐH vào năm 2020, trong
nhằm từng bước nâng cao đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, đáp
ứng nhu cầu thị trường lao động.
Trong năm 2008, huyện đã tạo việc làm mới trong các ngành nghề cho hơn
2.000 lao động. Thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động
nghèo, năm 2009, huyện mở được gần chục lớp dạy nghề mây giang đan, chổi chít,
may công nghiệp, sửa chữa máy nông nghiệp thu hút hơn 300 người tham gia. Bên
cạnh đó, Trung tâm học tập cộng đồng các xã, thị trấn còn phối hợp với Trạm khuyến
nông – khuyến lâm, Trạm Bảo vệ thực vật, Trạm thú y huyện thường xuyên mở các lớp
dạy nghề phục vụ nông nghiệp chăn nuôi, thú y và trồng trọt.
• Đà Nẵng: Trong gần 12 năm qua, đào tạo nghề ở Đà Nẵng đã dần đi vào ổn
định và có bước phát triển. Từ 10 cơ sở dạy nghề năm 1998, đến nay đã có 49 cơ sở,
trong đó có 3 trường cao đẳng nghề, 1 phân hiệu của trường cao đẳng nghề, 8 trường
trung cấp, 15 trung tâm dạy nghề và 22 cơ sở khác có tham gia đào tạo nghề. Toàn
thành phố có 24 cơ sở dạy nghề công lập là những đơn vị nòng cốt trong đào tạo nghề.
Cơ sở dạy nghề ngoài công lập phát triển nhanh, đến nay đã có 25 cơ sở, chiếm
50,02%...
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong lực lượng lao động thành phố tăng từ
10,74% năm 1998 lên 33% năm 2008, góp phần hạ tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ
78,47% năm 1998 xuống còn 45% năm 2008... Các điều kiện bảo đảm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề đã được cải thiện đáng kể: Đội ngũ giáo viên dạy nghề tăng về số
lượng và chất lượng; số lượng giáo viên dạy nghề năm 2008 là 1.300 người (gấp 8,7
18
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
lần năm 1998), trong đó giáo viên có trình độ tiến sỹ, thạc sĩ chiếm 11,34%, trình độ
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân
trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào
tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”.
Các chủ trương của Đảng về vấn đề dạy nghề đã được cụ thể hóa thành những
mục tiêu cụ thể. Nhằm đưa công tác đào tạo nghề đến với nông nghiệp, nông thôn; để
mạng lưới các cơ sở dạy nghề trải khắp trên địa bàn cả nước, ngày 11/4/2002 Thủ
tướng chính phủ đã ra quyết định số 48/2002/QĐ- TTg phê duyệt mạng lưới dạy nghề
giai đoạn 2002 – 2010. Mục tiêu của quy hoạch này nhằm xây dựng mạng lưới trường
dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng
cố an ninh – quốc phòng, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước; từng bước nâng
cao chất lượng dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, khắc phục những
bất hợp lý về cơ cấu nhân lực; tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được trang bị
những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc
làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp. Như vậy, với Nghị quyết này, người lao
động, đặc biệt là lao động nông thôn và lao động nghèo không có cơ hội đi học xa sẽ
được học tập và được hưởng các chế độ giáo dục. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi giúp
cho lao động nông thôn tìm kiếm việc làm tốt và có thu nhập ổn định.
Công tác đào tạo nghề luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng, ngày 02 tháng
10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ra quyết định số
07/2006/QĐ – BLĐTBXH về phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao
đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020”. Theo đó cần phải phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp cả
nước, đa dạng các hình thức dạy nghề, tạo điều kiện cho người lao động, thanh niên,
nông dân, người dân tộc thiểu số học nghề, lập nghiệp; Mở rộng quy mô, đồng thời
nâng cao chất lượng dạy nghề, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo
nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,
phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
• Giai đoạn 2009 – 2010:
Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của
Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo
dục – Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn
với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000
21
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất
canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình
này tối thiểu đạt 80%.
• Giai đoạn 2011 – 2015:
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 4.700.000
lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghề nông nghiệp; 3.100.000
người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn
này tối thiểu đạt 70%.
• Giai đoạn 2016 – 2020:
Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó: Khoảng
5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp;
4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong
giai đoạn này tối thiểu đạt 80%.
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể; cùng với những
Thanh Liêm nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nắng và mưa nhiều, nhiệt độ
trung bình 230C, độ ẩm tương đối là 88%. Tổng số giờ nắng trung bình trong năm
khoảng 1.000-1.200 giờ. Lượng bức xạ phong phú, nền nhiệt cao là điều kiện thuận lợi
giúp cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày quay vòng nhanh,
tạo nên tính đa dạng sinh học; các ngành khai thác chế biến nông – lâm sản phát triển
thuận lợi; các ngành du lịch và giao thông có thể hoạt động quanh năm. Tuy vậy,
Thanh Liêm cũng chịu không ít khó khăn do điều kiện thời tiết gây ra. Lượng mưa
nhiều nhưng phân bố không đều, tập trung tới 70% vào mùa hạ; mùa đông khô lạnh,
giá rét kéo dài, lượng mưa ít. Về mùa mưa, Thanh Liêm thường xuyên bị lũ lụt, lũ sông
Đáy nhiều năm dâng cao làm sạt lở, vỡ đê, gây ngập úng trên diện rộng.
23
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
3.1.1.3 Hệ thống giao thông – kết cấu hạ tầng
Thanh Liêm có điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy và đường sắt. Trên
địa bàn huyện có hai trục đường quốc lộ huyết mạch chạy qua: quốc lộ 1A dài 16,5km
chạy dọc giữa huyện từ Bắc xuống Nam, như sợi chỉ đỏ nối các xã trong huyện thành một
hệ thống liên hoàn trong phát triển kinh tế - xã hội, nối liền Thanh Liêm với thành phố Phủ
Lý và các huyện trong tỉnh, đồng thời tạo cho Thanh Liêm trở thành vị trí trung chuyển
trên tuyến đường trục Bắc – Nam của đất nước; Quốc lộ 21A chạy song song với đường
sắt Bắc –Nam, chéo ngang từ phía Đông Bắc của huyện nối liền thành phố Phủ Lý với tỉnh
Nam Định, tạo thuận lợi trong vận chuyển, trao đổi hàng hóa từ vùng đồng bằng phía
Đông – Nam châu thổ sông Hồng đến vùng rừng núi phía Tây của tỉnh Hà Nam, Hòa Bình
và ngược lại. Nhờ những nỗ lực xây dựng bền bỉ trong nhiều năm, hệ thống đường liên xã
của Thanh Liêm đến nay khá hoàn chỉnh với đường ô tô đã đến được trung tâm tất cả các
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Thanh Liêm có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, nhất là đá vôi với
những mỏ lớn ở xã Kiện Khê (trữ lượng 2,2 triệu tấn), xã Thanh Thủy (12,4 triệu tấn),
xã Thanh Tân (trữ lượng 3,5 triệu tấn), là nguyên liệu sản xuất xi măng, vôi, đá, vật
liệu xây dựng, làm đường, làm hóa chất. Ngoài ra còn có mỏ sét gạch ngói, sét xi măng
ở các xã Thanh Tân, Thanh Tâm, Liêm Sơn và Thanh Thủy, đặc biệt là đất sét trắng ở
xã Liêm Sơn. Thanh Liêm còn có các loại đá quý hiếm như đá vân hồng tím nhạt, đá
vân mây, đá da báo… xẻ làm đá tấm ốp lát. Với nguồn khoáng sản phong phú, trữ
lượng lớn, nhiều cơ sở công nghiệp quan trong của Trung ương, của tỉnh và của địa
phương đã và đang được xây dựng tại Thanh Liêm.
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
3.1.2.1 Tình hình đất đai của huyện
Về địa hình
Thanh Liêm có địa hình đa dạng bởi những cuộc vận động kiến tạo địa chất
phức tạp cách đây hàng chục triệu năm, với sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và
đồi núi. Đất đai ở đây chia thành 2 vùng rõ rệt: phía Đông là miền đồng bằng ô trũng
(do phù sa sông Đáy và sông Châu bồi đắp), chiếm phần lớn diện tích của huyện, độ
cao trung bình 2 – 3m. Ở giữa vùng đồng bằng ô trũng nổi lên dãy núi đồi đất, kéo dài
hàng chục kilômét trải dài theo hướng Bắc – Nam, với nhiều điểm cao, trong đó điểm
cao nhất là 139,8m (núi Đụn). Phía Tây huyện là dãy núi đá vôi, như bức tường thành
làm ranh giới giữa huyện Thanh Liêm và huyện Lạc Thủy (Hòa Bình). Dãy núi gồm có
25