BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ MINH
VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NGHĨA HƯNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Minh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn“Vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Sự cần thiết tăng cường vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông
thôn mới 8
2.1.3 Nội dung vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới 10
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng
nông thôn mới 15
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
mới 17
2.2.1 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
mới ở một số nước trên thế giới 17
2.2.2 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
mới ở Việt Nam 19
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
5.2.2 Đối với địa phương 86
5.2.3 Đối hội phụ nữ cơ sở 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLGT Bạo lực gia đình
CAND Công an nhân dân
CLB Câu lạc bộ
HĐBT Hội đồng bộ trưởng
HTX Hợp tác xã
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
NQ Nghị quyết
NTM Nông thôn mới
PTNT Phát triển nông thôn
TNXH Tệ nạn xã hội
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
thành tích xuất sắc trong xây dựng NTM 65
4.16 Ảnh hưởng của các yếu tố thể chế, chính sách 66
4.17 Kết quả mô hình “Thu gom phế liệu” 68
4.18 Trình độ học vấn của phụ nữ cơ sở trên địa bàn nghiên cứu 69
4.19 Ma trận phân tích SWOT 74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là
cuộc vận động đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tham gia tích cực của cả hệ thống chính
trị và toàn xã hội nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải tạo, xây
dựng nông thôn theo các tiêu chí mới hướng đến hiện đại, văn minh, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững.
Nghị quyết Đại hội, nhiệm kỳ 2011 - 2016 của Hội phụ nữ Việt Nam đã
xác định phong trào xây dựng nông thôn mới là một trong ba phong trào thi đua
lớn, trọng tâm của Hội. Hưởng ứng phong trào này, trong những năm quacác cấp
Hội đã vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ hăng hái lao động sản xuất, tham gia
phát triển kinh tế - xã hội. Phụ nữ cả nước đã đóng góp hàng ngàn tỷ đồng, hàng
chục triệu ngày công làm mới, sửa chữa hàng trăm ngàn km đường giao thông
nông thôn, kênh mương; hàng chục ngàn cầu cống, phòng học, trạm xá, nhà văn
hóa thôn, ấp, bản góp phần không nhỏ vào những thành tựu của đất nước trong
thời kỳ đổi mới.
Tham gia xây dựng và phát triển đời sống văn hóa nông thôn, các cấp Hội
đã chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội vận động hội
viên, phụ nữ tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
lao động là nữ trên 40000 lao động. Hội phụ nữ huyện Nghĩa Hưng đang quản lý
và chỉ đạo hoạt động 25 Hội phụ nữ cơ sở xã, thị trấn, 100% số thôn có Chi hội phụ
nữ (Báo cáo Hội phụ nữ, 2013). Trong chương trình xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 1 có 9 đơn vị đăng ký thực hiện (trong đó làm điểm cho tỉnh 01 đơn vị), Ban
chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp từ tỉnh xuống đến cơ sở đều có các đồng
chí lãnh đạo hội phụ nữ tham gia; trong nhiệm vụ của các cấp Hội phụ nữ thường
xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò trách nhiệm
của hội trong các phong trào xây dựng nông thôn mới. Để có được cái nhìn toàn
diện và đầy đủ về vai trò của Hội phụ nữ trong công cuộc xây dựng nông thôn
mới ở huyện Nghĩa Hưng hiện nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò của
hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh
Nam Định”,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong việc
tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hưng thời gian quan,
từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Hội phụ nữ cơ
sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hưng,
tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò Hội phụ nữ cơ sở
trong xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng về vai trò Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông
thôn mới huyện Nghĩa Hưng.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới.
- Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Nông thôn
Nông thôn là một khái niệm dùng để chỉ một địa bàn, một môi trường
sống của người dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi
trường mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn là vùng khác
với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc,
có mật độ dân cư thấp, có cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận
thị trường và sản xuất hàng hóa thấp.
Nhưng hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông
thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau.Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ
tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, quan điểm khác lại cho rằng nên dựa
vào trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn
vì cho rằng nông thôn có trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển hàng hóa
là thấp hơn thành thị, cũng có ý kiến cho rằng dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số
lượng dân cư trong vùng để xác định. Có rất nhiều khái niệm về nông thôn nhưng
các khái niệm chỉ mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian,
theo tiến trình phát triển của kinh tế, xã hội của của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay chúng ta có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của
tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào
các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị
nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu thay đổi một cách bền vững
về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống
của dân cư nông thôn. Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức
các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã
hội nhất định. Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân
khấu. Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học
tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng. Còn vai trò xã hội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời. Những hành
vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác
phong từ trước đó trong cuộc sống. Vai trò xã hội của một người có nghĩa là
người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống
chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó. Đồng thời họ cũng nhận được những
quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân có vô
vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Vị
thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội
của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà
quy định nên. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài
xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác
phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách. Vị thế và vai trò
luôn gắn bó mật thiết với nhau. Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò
và ngược lại. Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề. Vị thế của cá nhân được
xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của các nhân
được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc
vào vị thế (vị thế nào vai trò ấy). Một vị thế có thể có nhiều vai trò. Trong mối
quan hệ giữa vị thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn
vai trò thì biến động hơn. Thông thường thì sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào
sự biến đổi của vị thế. Vị thế biến đổi thì vai trò cũng biến đổi.
2.1.1.4 Khái niệm về hội phụ nữ
Hội Phụ nữ: là một tổ chức chính trị, xã hội của phụ nữ Việt Nam, mục
đích hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ.
trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hội phụ nữ cơ sở tuyên
truyền về mục đích, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và hoạt động xây dựng nông
thôn mới sâu rộng đến từng hội viên thông qua các buổi họp bàn, tọa đàm, lồng
ghép các buổi sinh hoạt tập thể, họp thôn xóm và các hoạt động văn hóa, văn
nghệ, ban hành các ấn phẩm hướng dẫn thực hiện đề án nông thôn mới đưa đến
từng cám bộ hội viên cơ sở nhằm để cán bộ hội viên hiểu sâu, rõ hơn về lợi ích
được thụ hưởng trực tiếp từ đề án, từ đó nâng cao được tinh thần trách nhiệm
tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Hội phụ nữ cơ sở là đơn vị tích cực trong vận động tầng lớp cán bộ, hội
viên phụ nữ chủ động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ Tổ quốc,vận động hỗ trợ phụ nữ cơ sở nâng cao trình độ, phát triển kinh tế và
tổ chức thực hiện CNH – HĐH. Hội phụ nữ cơ sở tổ chức huy động mọi nguồn
lực của cán bộ, hội viên tham gia đóng góp xây dựng nông mới như hiến đất xây
dựng trường, trạm, đường giao thông,… góp tiền mặt, vật tư xây dựng, đóng góp
ngày công lao động, bên cạnh đó, hội phụ nữ cơ sở tích cực tổ chức, vận động
cán bộ hội viên chủ động hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế như: cho hội viên
vay vốn sản xuất, tổ chức các lớp tập huấn, dạy nghề cho chị em phụ nữ,…
Hội phụ nữ cơ sở tích cực tham mưu, xây dựng , phản biện xã hội và giám
sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ, gia đình
và trẻ em. Phụ nữ cơ sở là đối tượng thực hiện và hưởng lợi trực tiếp từ các chính
sách, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, do đó, hội phụ nữ cơ sở có
vai trò rất quan trọng trong tổng hợp các ý kiến đóng góp, nắm bắt tình hình thực
tiễn khi triển khai, thực thi đưa chính sách nông thôn mới trong thực tiễn để phản
biện và đánh giá hiệu quả của các chính sách, đồng thời thảo luận, xây dựng, sửa
đổi sao cho phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, hội phụ nữ cơ sở tham gia các tổ
hợp tổ chức tuyên truyền đến cán bộ, hội viên phụ nữ vè các chủ trương chính
sách của Đảng, pháp luạt cảu nhà nước liên quan mật thiết đến phụ nữ gắn với
các chuyên đề: Nước sạch-vệ sinh môi trường nông thôn, an toàn vệ sinh thực
phẩm, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS…Tổ
chức các lớp dạy nghề, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn chị
em trong Hội cách làm ăn kinh tế, thục hiện tốt các đề án: “ Tuyên tuyền giáo
dục phẩm chất đọa đức phụ nữ Việt nam thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước”.
Để phong trào ngày càng lan tỏa rộng ở các cấp Hội phụ nữ, và thực sự đi
vào đời sống của chị em phụ nữ, trong thời gian tới thì Hội phải tiếp tục chỉ đạo,
hướng dẫn các cơ sở Hội đẩy mạng các công tác tuyền truyền, vận động cán bộ
hội viên, phụ nữ thục hiện tốt các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới gắn với
phong trào thi đua góp phần tích cực tạo sự chuyển biến trong thực hiện tiêu chí
nông thôn mới ở địa phương, và khẳng định vai trò trách nhiệm của chị em phụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
nữ trong việc thục hiện các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện có hiệu quả các
chương trình phát triển kinh tế -xã hội của huyện (Hồ Văn Thông và CS, 2005).
2.1.3.2 Hội phụ nữ cơ sở động viên, vận động, tổ chức chi hội thôn, xóm tham
gia đóng góp: đất đai, tiền, công lao động, vật tư, để xây dựng cơ sở hạ tầng,
trường học, bệnh xá, đường giao thông nội thôn,
Nông thôn mới là một chương trình lớn vì nó hướng đến một bộ phận dân
cư chiếm đa số trong xã hội. Vì vậy, ngoài sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, cần có
sự tham gia tích cực của từng người dân, của cả hệ thống chính trị và của toàn xã
hội. Do đó hội phụ nữ cơ sở phối hợp với các cấp chính quyền địa phương trong
việc huy động tổng hợp sức mạnh của toàn dân tham gia đóng góp sức người, sức
của để xây dựng nông thôn mới. Công khai, minh bạch mọi thông tin hoạt động
đến từng hội viên. Cụ thể, trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, hội viên cần biết
được chủ trương của Đảng và Nhà nước thực hiện chương trình này là vì muốn
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm đang là nhiệm vụ quan trọng và cấp
thiết trong phát triển kinh tế, xã hội, được Đảng, nhà nước quan tâm chỉ đạo triển
khai thực hiện. Nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc khóa XI chỉ rõ: "Phải hết
sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho
người lao động; tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là
cho nông dân. Hoàn thiện pháp luật về dạy nghề; ban hành chính sách ưu đãi về
đất đai, thuế, đào tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng… nhằm khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề. đổi mới phương thức, nâng cao chất
lượng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế.
Tạo điều kiện hơn nữa cho lao động nữ nông thôn có việc làm ổn định,
mở các lớp dạy nghề phù hợp với đặc thù từng địa phương, góp phần tạo điều
kiện giúp chị em thoát nghèo làm giàu chính đáng.
Tổ chức điều tra, phân tích, đánh giá đúng thực trạng nguồn lao động
nông thôn. Xác định kịp thời nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng lao
động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp, của thị trường lao động trên địa
bàn, trên cơ sở đó xác định danh mục nghề đào nghề cho phù hợp tình hình thực
tế hiện nay. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về học nghề và việc làm cho phụ
nữ, tăng cường sự tham gia của các cấp hội cơ sở trong việc nắm bắt kịp thời các
nhu cầu học nghề và việc làm của chị em; mở rộng đào tạo các ngành nghề mới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động vừa phù hợp thế mạnh riêng
của lao động nữ”.
2.1.3.4 Hội phụ nữ cơ sở xây dựng và giữ gìn đời sống văn hóa, môi trường nông thôn
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là phong trào
thi đua yêu nước, mang tính rộng lớn. Với sự gắn kết cùng chương trình xây
dựng nông thôn mới, phong trào càng trở nên thiết thực trong việc củng cố, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững
ổn định chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao
Sau khi có đề án tổng thể 100% cán bộ, hội viên, phụ nữ đều được tham
gia vào đề án, khi đề án được phe duyệt thì cán bộ, hội viên, phụ nữ lại tham gia
vào quá trình giám sát thực hiện đề án (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
Chương trình xây dựng nông thôn mới thực hiện chỉ ở cấp xã. Vì vậy việc
quu hoạch nông thôn mới cấp xã, hiện nay đang đồng loạt làm ở nhiều địa
phương, gây ra khan hiếm tư vấn, có nhiều tư vấn kém chất lượng, nhiều tư vấn
chỉ chuyên ngành thực hiện trợ giúp các xã mà đôi khi cũng không hiểu rằng qui
hoạch xây dựng nông thôn mới, khác với qui hoạch chuyên ngành bởi vì nó bao
hàm tính chất tổng thể, thể hiện cả chiến lược phát triển nông thôn của xã đó, mà
đôi khi từng nhà tư vấn còn thiếu hụt.
2.1.3.6 Hội phụ nữ cơ sở động viên hội viên phụ nữ tham gia quản lý các công
trình, dự án sau hoàn thành. Tự quản giao thông, quản lý sản suất, hợp tác sản xuất
tiêu thụ, bảo vệ duy tu các công trình cơ sở hạ tầng, khai thác sử dụng lâu dài
Ngoài việc huy động hội viên tham gia giám sát công tác tổ chức thực
hiện xây dựng nông thôn mới, hội phụ nữ cơ sở còn tích cực tuyên truyền, động
viên hội viên phụ nữ tham gia công tác quản lý các công trình, dự án, hạng mục
sau hoàn thành và đi vào sử dụng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lâu dài và
bền vững cơ sở hạ tầng (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
2.1.3.7 Hội phụ nữ cơ sở tổ chức, động viên hội viên tham gia đánh giá, khen
thưởng đơn vị các nhân có thành tích suất sắc và xử lý vi phạm trong xây dựng
nông thôn mới
Trong quá trình thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới, ngoài công tác
dân vận, hội phụ nữ còn tham gia đánh giá, đề xuất khen thưởng các đơn vị cá
nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động thực hiện đề án nhằm khuyến khích
các các nhân, đơn vị này tiếp tục phát huy tinh thần đó. Bên canh đó, tồn tại một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
vài điểm tối trong công tác xây dựng nông thôn mới, cần xử lý kịp thời để tránh ảnh
hưởng đến tiến trình phát triển chung của cộng đồng (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
Từ vị trí quan trọng của đơn vị cấp cơ sở, hội nghị lần thứ 5 BCH Trung
ương Đảng (khóa IX) đã ban hàng Nghị quyết số 17/NQ – TW ngày 18/3/2002
về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị
trấn”, sau khi NQ được ban hành, các cấp, các ngành đã tổ chức quán triệt và ban
hàng nhiều văn bản thực hiện như Chính phủ ban hành NĐ 114/2003/NĐ – Cp
và Nghị định 121/2003/NĐ – CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với
cán bộ xã, phường, thị trấn. Căn cứ theo nhu cầu, khối lượng, tính chất công việc,
khả năng ngân sách của quy định số lượng, mức phụ cấp đối với cán bộ không
chuyên trách, cán bộ thôn, tổ dân phố.
Việc chuyển từ sinh hoạt phí sang chế độ lương đã tại tâm lý phấn khỏi
đối với cán bộ, công chức cơ sở.
Chế độ tiền lương: cán bộ chuyên môn được hưởng lương theo ngạch và
nâng lương theo quy định. Cán bộ bầu cử không được nhận 10% phụ cấp kiêm
nhiệm chức lãnh đạo.
Chế độ BHXH: theo đúng quy định nhà nước là thời gian công tác có
đóng phi BHXH của cán bộ công chức cơ sở là 20 năm, tuy nhiên quy định này
bất cập với cán bộ cơ sở ở các vùng đặc biệt khó khăn.
2.1.4.2 Nhóm yếu tố chủ quan
a/ Trình độ học vấn, chuyên môn của cán bộ, hội viên chi hội
Cán bộ chi hội phụ nữ cơ sở thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với phụ nữ
cơ sở để triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của phụ nữ cơ
sở, như vậy, họ là mắt xích chất kep gắn kết phụ nữ cơ sở với Đảng và Nhà nước.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, cán bộ chi hội phụ nữ cần có khả
năng lĩnh hội, thẩm thấu sâu rõ về chủ trương, chính sách, pháp luật nhà nước để
tổ chức tuyên truyền, vận động, giải thích cho phụ nữ cơ sở hiểu và huy động họ
tham gia hưởng ứng, thực hiện nghiêm túc. Do đó đòi hỏi cán bộ cần có trình đô
chuyên môn và nghiệp vụ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17
để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.