1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
VÌ THỊ LAN PHƯƠNG
VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ
SỞ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ LÓNG SẬP, HUYỆN
MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Hà Nội-2013 2
Danh mục chữ cái viết tắt 5
Danh mục bảng 5
Mở đầu 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. Địa bàn, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Mục đích nghiên cứu 13
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp của luận văn 14
7. Bố cục của luận văn 14
Chương 1: Tổng quan về hệ thống chính trị cấp cơ sở và địa bàn
nghiên cứu 15
1.1. Một số vấn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở 15
1.1.1. Các khái niệm cơ bản 15
1.1.2. Một số vẫn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở 19
1.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 27
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 27
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội 29
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở xã Lóng Sập trong
việc thực hiện chính sách dân tộc ………………………………….35
2.1. Hệ thống chính trị cơ sở xã Lóng Sập 35
2.1.1. Tổ chức bộ máy 35
2.1.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, viên chức trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở xã Lóng Sập 39
2.2. Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở xã Lóng Sập trong việc thực
hiện chính sách dân tộc ở địa phương 43
2.2.1 Vai trò của Đảng ủy xã Lóng Sập trong việc thực hiện chính sách
dân tộc 44
2.2.2 Vai trò của Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện chính sách dân
bộ 96
Tiểu kết chương 3 97
Kết luận 100
Thƣ mục tài liệu tham khảo 103
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ:
BGSCĐ:
BQL:
BTV:
Chƣơng trình 135-1:
Chƣơng trình 135-2:
Đ/C:
ĐBKK:
GSCĐ:
HĐND:
HTCT:
HTCT Cơ sở:
MTTQ:
UBND:
Ban chỉ đạo
Ban Giám sát cộng đồng
Ban Quản lý
Ban Thƣờng vụ
Chƣơng trình 135 giai đoạn I
Chƣơng trình 135 giai đoạn II
Đồng chí
Đặc biệt khó khăn
Giám sát cộng đồng
mang tính chất sống còn đối với sự tồn vong của đất nƣớc ta.
Từ khi thành lập, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đặt vấn đề dân tộc và đoàn kết
dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lƣợc và là một bộ phận của cách
mạng nƣớc ta, Nha dân tộc thiểu số ra đời vào ngày 9/9/1946 đã phần nào minh
chứng cho tầm quan trọng của công tác dân tộc ở nƣớc ta. Trải qua những bƣớc
tiến thăng trầm của lịch sử, ở mỗi thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm, tình
hình cụ thể của đất nƣớc mà Đảng và Nhà nƣớc luôn có sự điều chỉnh, thay đổi
các chính sách dân tộc cho phù hợp, góp phần đƣa đất nƣớc ngày một phát triển.
Bƣớc vào thời kỳ hội nhập và đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta đã coi công tác dân
tộc là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đất nƣớc, nhằm tạo ra sự phát triển
tƣơng đối đồng đều giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc. Các chính sách dân tộc
do Đảng và Nhà nƣớc đề ra và thực hiện trong hơn 20 năm qua đã đạt đƣợc nhiều
thành tựu đáng tự hào, đời sống của đồng bào miền núi trên tất cả các lĩnh vực đã
đƣợc nâng lên đáng kể và ổn định hơn rất nhiều so với trƣớc đây. Song, nhìn
chung hiệu quả của các chính sách này thƣờng chƣa đạt đƣợc kết quả nhƣ mục
đích ban đầu đã đề ra.
7
Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả của việc thực hiện các chính
sách ở vùng miền núi, là địa bàn cƣ trú chính của đồng bào các dân tộc, một trong
những yếu đó chính là vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong việc thực hiện
các chủ trƣơng, chính sách dân tộc của Đảng, của Nhà nƣớc. Nhìn chung, hệ thống
chính trị cấp cơ sở đã phát huy đƣợc vai trò tích cực của mình trong việc thực hiện
và đƣa các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc vào trong đời sống nhân
dân. Tuy nhiên, ở một số nơi thì hệ thống chính trị cấp cơ sở vẫn chƣa thực sự
phát huy đƣợc hết vai trò của mình, dẫn đến hiệu quả của việc thực hiện các chính
sách chƣa cao, gây lãng phí của cải của Nhà nƣớc.
Hệ thống chính trị cấp cơ sở chính là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị
Việt Nam, song nó lại có vai trò rất quan trọng, quyết định tới sự thành bại của
việc thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc nói chung và
đƣợc phân tích rõ.
Trong cuốn sách: “Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới” của
GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ biên đã trình bày một cách hệ thống các vấn đề liên
quan đến hệ thống chính trị ở nƣớc ta, từ các khái niệm liên quan đến các đặc
điểm của hệ thống chính trị ở Việt Nam đến thực trạng của hệ thống chính trị nƣớc
ta từ năm 1986 đến nay (thành tựu, hạn chế, nguyên nhân), cuối cùng là đƣa ra các
dự đoán về xu thế vận động của hệ thống chính trị và các giải pháp hoàn thiện hệ
thống chính trị trong tình hình mới ở nƣớc ta. Cuốn sách mới chỉ giới thiệu, đánh
giá một cách chung nhất về toàn bộ hệ thống chính trị chứ không đi sâu vào
nghiên cứu cụ thể ở một cấp nào…
TS. Vũ Hoàng Công có cuốn sách: “Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu
hướng và giải pháp”. Cuốn sách đã nêu lên những vấn đề lý luận rất cơ bản của hệ
thống chính trị Việt Nam nói chung và của hệ thống chính trị cơ sở nói riêng. Từ
đó rút ra những đặc điểm, những vấn đề còn tồn tại và kiến nghị những phƣơng
9
thức cơ bản trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính
trị cấp cơ sở.
Tỉnh ủy Hà Nam phối hợp với Tạp chí Cộng sản đã tổ chức hội thảo khoa
học “Xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ ở cơ sở” và xuất bản cuốn
sách cùng tên. Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các tác giả trên nhiều lĩnh vực
có liên quan đến hệ thống chính trị cơ sở. Cuốn sách giúp cho ngƣời đọc có cái
nhìn khá toàn diện về thực trạng của hệ thống chính trị cơ sở, cũng nhƣ các
phƣơng thức nhằm nâng cao chất lƣợng của đội ngũ cán bộ cơ sở.
Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
(1999) của TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS.TS Trịnh Quốc Tuấn. Đây là một công
trình nghiên cứu tổng thể, khái quát về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, nội dung
chính sách dân tộc ở Việt Nam.
Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc (2000) do Hội
đồng Dân tộc Quốc hội phối hợp với Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản là
thức về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta; thực trạng của công
tác dân tộc và những định hƣớng xây dựng chính sách dân tộc nhằm ổn định, cải thiện
và nâng cao đời sống của đồng bào.
Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam (2004) của GS.TS Phan Hữu
Dật bao gồm các bài viết của GS đã công bố trên sách, báo, tạp chí, kỷ yếu, hội
thảo khoa học trong 5 năm (1998 - 2003). Cuốn sách tập trung vào một số vấn đề:
Tổng quan về dân tộc học, dân tộc học Việt Nam, dân tộc học và chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta trong đó tác giả đã phân tích khá hệ thống, toàn diện
về các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Cuốn sách 60 năm công tác dân tộc thực tiễn và bài học kinh nghiệm (2006)
do Viện Dân tộc và Hội đồng Khoa học của Ủy ban Dân tộc là kết quả của Hội
thảo khoa học: 60 năm công tác dân tộc - thực tiễn và bài học kinh nghiệm. Cuốn
11
sách đã đề cập đến những vấn đề: Sự hình thành và phát triển của cơ quan công
tác dân tộc, quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc qua các thời kỳ
cách mạng, công tác dân tộc - thành tựu, tồn tại và bài học kinh nghiệm, công tác
dân tộc ở các địa phƣơng - thực tiễn và bài học kinh nghiệm. Cuốn sách là sự tổng
hợp khá đầy đủ các lĩnh vực liên quan đến công tác dân tộc và việc thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng, Nhà nƣớc cũng nhƣ của các địa phƣơng.
TS Thào Xuân Sùng trong công trình “Đảng bộ và nhân dân các tỉnh Tây
Bắc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng” đã nêu lên những thành tựu trên các
mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục, an ninh quốc phòng. Đồng thời tác giả
cũng nêu lên những hạn chế, nguyên nhân và giải pháp cơ bản.
Tham gia vào việc góp phần thúc đẩy phát triển hòa nhập cho các nhóm dân
tộc thiểu số vùng cao không chỉ có các cơ quan, tổ chức trong nƣớc mà còn có cả
các tổ chức nƣớc ngoài. Ủy ban Dân tộc và Miền núi đã phối hợp với Chƣơng
trình phát triển Liên hiệp quốc, Tổ chức tình nguyện Liên hiệp quốc tiến hành
Chƣơng trình Ngƣời dân vùng cao (Highland Peoples Programme - viết tắt là
HPP) thực hiện từ năm 1995 đến 2001… Cuốn sách tập hợp các công trình nghiên
hệ tộc ngƣời, vai trò của yếu tố tộc ngƣời trong việc thực hiện các chủ trƣơng,
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc)…Với các tiêu chí về địa bàn nghiên cứu nhƣ
trên, chúng tôi lựa chọn trƣờng hợp xã Lóng Sập huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
làm địa bàn nghiên cứu cho luận văn của mình.
* Đối tượng nghiên cứu
- Cách thức tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong hệ thống chính trị cơ
sở: Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh…
xã để thấy đƣợc mức độ của các tổ chức, đoàn hội tham gia vào quá trình triển khai
thực hiện chính sách dân tộc ở cơ sở.
13
- Trƣởng bản, Bí thƣ Chi bộ bản, ngƣời dân các bản để thấy đƣợc quan
điểm của họ khi đánh giá về chất lƣợng của các công trình để thấy đƣợc vai trò
của các hệ thống chính trị cơ sở. Về thành phần cƣ dân: có sự đa dạng cả về giới
tính, nghề nghiệp, tài sản, trình độ học vấn.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn nhằm làm rõ các vấn đề:
- Vị thế, tác động và ảnh hƣởng của hệ thống chính trị cấp cơ sở đến việc
thực hiện chính sách dân tộc ở địa phƣơng.
- Mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống chính trị cơ sở với việc thực hiện
chính sách dân tộc ở địa phƣơng.
- Các biện pháp nhằm củng cố và nâng cao vai trò của hệ thống chính trị
cấp cơ sở nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao trong việc thực hiện chính sách dân tộc.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn áp dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nhìn nhận, phân tích đánh giá các vấn đề một cách khoa học và khách quan. Đây
cũng là cơ sở phƣơng pháp luận để vận dụng các phƣơng pháp cụ thể trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
5.2. Phương pháp cụ thể:
Chƣơng 2. Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở xã Lóng Sập trong việc
thực hiện chính sách dân tộc.
Chƣơng 3. Một số đánh giá và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của hệ thống
chính trị cấp cơ sở trong việc thực hiện chính sách dân tộc.
15
CHƢƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
a) Khái niệm vai trò
Theo Từ điển bách khoa thì vai trò đồng thời cũng đƣợc hiểu nhƣ là vai trò
xã hội là: Phạm trù dùng để diễn đạt sự tƣơng tác xã hội, sự thực hiện chức năng
của mỗi cá nhân trong tập đoàn, hay của cá nhân và tập đoàn trong toàn bộ xã hội.
Xã hội phƣơng Tây có nhiều định nghĩa khác nhau về vai trò xã hội nhƣng đều
trùng nhau ở chỗ cho vai trò xã hội là hàng loạt những hành động, hành vi của cá
nhân tƣơng ứng với địa vị của cá nhân trong tập đoàn; đó là mặt động của địa vị
xã hội [6, tr.777].
Còn trong Từ điển tiếng Việt thì khái niệm vai trò đƣợc trình bày là: Tác
dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó. Vai trò của ngƣời
quản lí. Giữ một vai trò quyết định [55, tr.1095].
b) Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ cơ cấu, các tổ chức chính trị
trong xã hội đƣợc tổ chức trong một hệ thống và nó có vai trò quyết định đến toàn
bộ hoạt động của bộ máy chính trị nhất định. Mỗi quốc gia tùy điều kiện cụ thể mà
có hình thức tổ chức hệ thống chính trị không giống nhau.
Theo Từ điển bách khoa thì Hệ thống chính trị là: Tổng thể những tổ chức
thực hiện quyền lực chính trị đƣợc xã hội chính thức thừa nhận. Hệ thống chính trị
thống chính trị cơ sở là một bộ phận, một cấp độ cấu thành hệ thống chính trị,
đƣợc tổ chức và hoạt động ở cơ sở [59, tr. 544].
17
d) Khái niệm về vai trò của hệ thống chính trị
Từ các vấn đề lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể quan niệm về vai trò của
hệ thống chính trị nhƣ sau: Vai trò của hệ thống chính trị là quá trình các tổ chức
trong hệ thống chính trị từ Trung ƣơng đến địa phƣơng hoạt động và phối hợp với
nhau trong quá trình thực hiện chức năng, có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong tác
động đến các đối tƣợng xã hội và có ý nghĩa quyết định trong định hƣớng và tổ
chức thực hiện các mục tiêu mà cƣơng lĩnh, kế hoạch, nhiệm vụ chính trị của
Đảng, Nhà nƣớc đề ra (theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng).
đ) Khái niệm về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Cũng từ các vấn đề lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể quan niệm về vai
trò của hệ thống chính trị cơ sở nhƣ sau: Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở là
quá trình các tổ chức Đảng, Chính quyền, Đoàn thể ở xã, phƣờng, thị trấn hoạt
động và phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhất
định tác động trực tiếp đến ngƣời dân trên địa bàn, các đối tƣợng xã hội liên quan
khác mà hoạt động đó có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả trong tổ chức thực hiện
các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội…
của Nhà nƣớc đề ra ở địa phƣơng (theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng).
e) Khái niệm chính sách
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì Chính sách nói chung là những chuẩn
tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; chính sách đƣợc thực hiện trong một
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào
tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu,
phƣơng hƣớng đƣợc xác định trong đƣờng lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận
19
Trên đây là những khái niệm cơ bản đƣợc tác giả sử dụng chính trong luận văn
của mình. Việc làm rõ nội hàm của các khái niệm trên giúp cho tác giả cũng nhƣ ngƣời
đọc có cơ sở về “khung” ý nghĩa để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan.
1.1.2. Một số vẫn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở
a) Hệ thống chính trị cấp cơ sở nước ta hiện nay
Trong hệ thống chính trị cơ sở (HTCT cơ sở) Tổ chức Đảng - Đảng bộ hay
Chi bộ cơ sở - là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ
thống chính trị (HTCT) và lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở. Vai trò lãnh
đạo của tổ chức Đảng đƣợc thực hiện bằng việc ra các Nghị quyết, Chỉ thị định
hƣớng làm cơ sở cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên
phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của các đảng viên trong bộ máy chính quyền và
các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; giới thiệu đảng viên ƣu tú tham gia giữ các
chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng
công tác tuyên truyền, vận động; sự gƣơng mẫu của đảng viên; bằng công tác
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp của
Nhà nƣớc đối với cán bộ và đảng viên.
Chính quyền là trụ cột của HTCT cấp cơ sở, có vai trò quản lý, điều hành
toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp và
pháp luật. Trong chính quyền cơ sở, hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền
lực nhà nƣớc ở cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân trên địa bàn, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên địa
bàn theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan chấp hành
của HĐND, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở cơ sở. UBND thực hiện những nhiệm
vụ theo nghị quyết của HĐND, những nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nƣớc
cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện
các nhiệm vụ tự quản của địa phƣơng.
20
vậy HTCT cấp cơ sở cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống. Tuy
nhiên, ngoài những đặc điểm chung, HTCT cấp cơ sở ở nƣớc ta còn có những đặc
điểm riêng sau đây:
Một là: HTCT cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong HTCT Việt Nam, là cấp gần
dân nhất, sát dân nhất. Hệ thống quản lý hành chính nƣớc ta, theo điều 118 Hiến
pháp 1992 (sửa đổi năm 2002), đƣợc phân ra thành 4 cấp: cấp Trung ƣơng; cấp
tỉnh (gồm các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ƣơng); cấp huyện (gồm các
huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh); cấp xã (gồm các xã, phƣờng và thị
trấn). Nhƣ vậy, cấp xã - cấp cơ sở là cấp cuối cùng, gần dân nhất.
Là cấp cuối cùng nên HTCT cấp cơ sở có một vai trò hết sức quan trọng
trong HTCT nƣớc ta, đúng nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã về
mặt hành chính là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính, cấp xã làm đƣợc
mọi việc thì mọi việc đều xong xuôi” [31, tr.371-372]. HTCT cấp cơ sở là cấp gần
dân nhất, do dân trực tiếp bầu và tổ chức nên. Do vậy, đây cũng là cấp có lợi thế
và khả năng nhất để giảm thiểu tệ quan liêu, hành chính, mệnh lệnh và hạn chế
xuống mức thấp nhất tệ nạn tham ô, tham nhũng, cửa quyền của đội ngũ cán bộ,
công chức do dân thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát.
Hai là: HTCT cấp cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và có đội ngũ biến động
nhất hiện nay.Tổ chức bộ máy của HTCT cấp cơ sở đơn giản hơn so với HTCT
cấp trên, với biên chế hƣởng lƣơng từ ngân sách ít nhất. Trong Luật Bầu cử đại
biểu HĐND năm 2003 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định
HĐND xã tối đa không quá 35 ngƣời và không có các ban nhƣ HĐND cấp tỉnh,
huyện. UBND cấp xã cũng chỉ có từ 3 đến 5 thành viên. Số lƣợng thành viên Ban
Chấp hành Đảng bộ (hay chi bộ) và số lƣợng các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp
xã cũng ít hơn nhiều so với cấp tỉnh, huyện. Tổng số cán bộ chuyên trách và công
chức trong HTCT cấp cơ sở theo quy định không quá 25 ngƣời/xã, phƣờng, thị
22
trấn (Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính
phủ về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức
còn có những ảnh hƣởng và tác động nhất định đến đời sống của cộng đồng dân
cƣ nói chung, đến tổ chức và hoạt động của HTCT cấp cơ sở nói riêng.
Vấn đề đặt ra là trong việc xây dựng đời sống mới ở cộng đồng, trong việc
đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT cấp cơ sở làm sao phát huy
đƣợc những giá trị tích cực của các thiết chế này, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực
của nó. Ở trình độ dân trí hiện nay, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số thì sự kết hợp hài hòa giữa các thiết chế quản lý chính
thống cùng với nó là hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc với các thiết chế quản lý
phi chính thống (các thiết chế xã hội cổ truyền) cùng với nó là hệ thống các luật lệ,
phong tục tập quán của đồng bào (không mâu thuẫn với pháp luật hiện hành) là
giải pháp hữu hiệu nhất, đó là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
Năm là: HTCT cấp cơ sở chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố tự nhiên,
địa lý, dân số, dân tộc, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán,…của từng
vùng miền khác nhau. Thời gian qua, trong quá trình đổi mới, kiện toàn HTCT cơ
sở dƣờng nhƣ chúng ta, ở cả cấp Trung ƣơng lẫn địa phƣơng, còn tình trạng cào
bằng, rập khuôn giữa các loại hình cơ sở khác nhau, chƣa chú ý đúng mức đến
tính đặc thù của từng loại hình cơ sở xã, phƣờng, thị trấn. Trong thực tế, cùng là
cấp cơ sở nhƣng cấp cơ sở ở vùng đồng bằng khác với vùng miền núi, trung du, ở
nông thôn khác với thành thị, miền Bắc khác với miền Nam…Cấp cơ sở ở từng nơi
lại khác nhau về diện tích, dân số, thành phần dân cƣ, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, xã
hội, về mức độ đô thị hóa, trình độ dân trí…
Từ những sự khác nhau này, đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng mô
hình tổ chức, đổi mới nội dung và phƣơng thức hoạt động của HTCT cấp cơ sở
cho phù hợp với từng loại hình cơ sở ở nƣớc ta. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban
24
hành Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về phân loại đơn vị hành
chính xã, phƣờng, thị trấn. Theo đó, dựa vào các tiêu chí về dân số, diện tích và
các yếu tố đặc thù khác (vùng, miền, dân tộc, tôn giáo…), Chính phủ chia làm ba
loại đơn vị hành chính: loại 1, loại 2 và loại 3, làm cơ sở bƣớc đầu cho việc đề ra
hiện việc phát triển kinh tế - xã hội, phát huy mọi nguồn lực, giải quyết công ăn
việc làm, nâng cao đời sống nhân dân.
HTCT cấp cơ sở chỉ chứng tỏ đƣợc tác dụng và hiệu quả của mình nếu tập
hợp đƣợc sức dân trong cộng đồng để phát triển sản xuất, giúp dân làm kinh tế để
mau chóng xóa đói, giảm nghèo, tăng giàu, đem lại lợi ích thiết thực no ấm, giữ
gìn đƣợc trật tự trị an và sự bình yên trên địa bàn. Đó chính là an sinh và an ninh
cho dân chúng.
Thứ ba: HTCT cấp cơ sở tổ chức, quản lý cuộc sống của cộng đồng dân cư;
trực tiếp giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ nhân dân và mối quan hệ giữa
dân với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Hiện nay, đất nƣớc ta đang trong giai đoạn mở cửa, hội nhập phát triển kinh
tế quốc tế nên ở các địa phƣơng, vùng, miền nảy sinh và tồn tại không ít các vấn
đề phức tạp, bức xúc cần phải giải quyết; các mâu thuẫn đan xen trong mối quan
hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng này với
cộng đồng kia, giữa công dân với Nhà nƣớc HTCT cấp cơ sở là cấp đối diện trực
tiếp và với chức năng, nhiệm vụ của mình cũng sẽ là cấp đầu tiên trực tiếp giải
quyết các vấn đề đó. Thông qua việc giải quyết tốt các vấn đề trên ngay từ cơ sở,
sẽ góp phần củng cố mối quan hệ vững chắc giữa quần chúng nhân dân với Đảng,
với chính quyền, tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo lập sự ổn định vững
chắc để thúc đẩy sự nghiệp phát triển, đổi mới ở cơ sở và toàn xã hội.
Thứ tư: HTCT cấp cơ sở phản ảnh, kiến nghị cấp trên giải quyết những
nguyện vọng chính đáng của nhân dân và những yêu cầu bức xúc của địa phương.