LUẬN VĂN:
VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
CẤP CƠ SỞ TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN
TRẺ EM Ở HUYỆN ĐỒNG PHÚ - TỈNH BÌNH
PHƯỚC HIỆN NAY
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi thành lập nước (1945), Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán coi
nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BV, CS&GD) trẻ em là một nội dung cơ bản
của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xó hội đất nước. Trẻ em
hôm nay chính là thế giới ngày mai. Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khẳng định: “Bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. BV, CS&GD
kiện đến trường, việc vui chơi giải trí, chăm sóc về dinh dưỡng và sức khỏe bị hạn chế
Cấp cơ sở (xó, phường, thị trấn) không chỉ là nơi tổ chức, trực tiếp thực hiện,
mà cũn là nơi kiểm nghiệm hiệu lực, tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, nghị
quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở là
những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho nhân dân hiểu rừ
và tổ chức cho nhân dân thực hiện. Hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, cán
bộ LĐ, QL cấp cơ sở có điều kiện nắm bắt tỡnh hỡnh nhõn dõn để báo cáo cho
Đảng, Nhà nước hiểu rừ và hoạch định chính sách phù hợp. Họ là những người giữ
vai trũ quyết định trong việc hiện thực hoá sự lónh đạo, quản lý của Đảng và Nhà
nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xó hội ở địa phương. Do vậy, cũng như các
chủ trương, chính sách khác, quyền trẻ em phải được thực hiện từ cơ sở mà vai trũ
quan trọng nhất thuộc về đội ngũ cán bộ LĐ, QL ở cấp này. Tuy nhiên, cho đến nay
vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở chưa được nhỡn nhận, đánh giá một cách khách
quan, đúng mức. Bản thân đội ngũ cán bộ LĐ, QL cũng chưa nhận thức hết trách
nhiệm phỏp lý của mỡnh, nhận thức về quyền trẻ em cũn nhiều thiếu hụt.
Đó chính là một trong các nguyên nhân làm cho quyền trẻ em chưa được thực hiện
đầy đủ, toàn diện, các hiện tượng vi phạm quyền trẻ em hiện nay vẫn xảy ra ở huyện
Đồng Phú nói riêng, tỉnh Bỡnh Phước nói chung. Vậy thỡ, vai trũ của cán bộ LĐ, QL
cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em được thực hiện như thế nào? Mức độ của sự
khác nhau giữa cán bộ ở các khối công tác trong việc thực hiện quyền trẻ em? Có sự
khác nhau như thế nào giữa sự tự đánh giá của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở với sự đánh giá
và những mong đợi, kỳ vọng của nhân dân về việc thực hiện quyền trẻ em?
Đề tài “Vai trũ của cán bộ lónh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện
quyền trẻ em ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bỡnh Phước hiện nay” sẽ đi sâu tỡm hiểu và
trả lời những câu hỏi trên.
2. Tổng quan tỡnh hỡnh nghiờn cứu
Khỏi quỏt tỡnh hỡnh nghiờn cứu về quyền trẻ em ở Việt Nam, có thể nhận định
rằng, trong khoảng 20 năm qua nghiên cứu lý luận về thực hiện quyền trẻ em ở Việt
Nam nhỡn chung cũn ớt và nếu cú thỡ cũng chỉ tập trung lý giải một số mối quan hệ
để trẻ em thực hiện được một cách đầy đủ và thực chất các quyền của mỡnh tại cộng
đồng [70]. Nhân dân đánh giá vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực
hiện quyền trẻ em thấp hơn cán bộ tự đánh giá [45].
ở tỉnh Bỡnh Phước, năm 1997 - 2002, ủy ban DS-GĐ&TE tỉnh đó cú cụng trỡnh
nghiờn cứu đánh giá 10 năm thi hành Luật BV, CS&GD trẻ em (1991 - 2001) mô tả tỡnh
hỡnh thực hiện 10 quyền của trẻ em. Trong đó, cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở được đề cập như
là một nhân tố tác động đến kết quả thực hiện. ở nghiên cứu thực trạng hộ gia đỡnh ở
Bỡnh Phước và các giải pháp nâng cao công tác quản lý Nhà nước về gia đỡnh ở Bỡnh
Phước [35], từ mô tả thực trạng hộ gia đỡnh đó đề cập đến kết quả thực hiện một số
quyền trẻ em.
Có thể thấy, bước đầu đó cú một số nghiên cứu đề cập đến vai trũ của cán bộ LĐ,
QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em, nhưng chưa đi sâu phân tích toàn diện
vai trũ và cỏc nhõn tố tác động, mà chỉ coi vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở là một
phần của các nguyên nhân dẫn đến tỡnh trạng vi phạm quyền trẻ em hiện nay. Theo đó,
những đánh giá của nhân dân về vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực
hiện quyền trẻ em gắn với những kỳ vọng, mong đợi cũng chưa được quan tâm nghiên
cứu, chưa có những đánh giá kết quả thực hiện quyền trẻ em theo cách tiếp cận quyền.
Trong khi đó, cách tiếp cận xây dựng chương trỡnh trờn cơ sở quyền trẻ em đó được đề
cập trong một số nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân nghiên cứu nước ngoài. Theo
cách tiếp cận này, yếu tố then chốt trong xây dựng chương trỡnh trờn cơ sở quyền trẻ
em là: đặt trọng tâm vào trẻ em, nhỡn nhận tổng thể về trẻ em, trách nhiệm giải trỡnh,
hỗ trợ những người có trách nhiệm, vận động gây ảnh hưởng, sự tham gia, không phân
biệt đối xử, lợi ích tốt nhất của trẻ em, được sống và phát triển, trẻ em là một phần của
cộng đồng, các nguyên nhân gốc rễ và các vấn đề rộng hơn, mối quan hệ đối tác, thông
tin và kiến thức…[15].
Từ thực tế trên, để tỡm hiểu các nhân tố tác động đến vai trũ của cán bộ LĐ, QL
cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em, cần phân tích những nghiên cứu về vai trũ
của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Những yếu tố tác động không thuận lợi cho năng lực thực hiện quyền phụ nữ của
quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bỡnh
Phước hiện nay” sẽ làm rừ những vấn đề cũn bỏ ngỏ đó. Do vậy, luận văn này không
trùng với bất cứ cụng trỡnh khoa học nào đi trước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phõn tớch lý luận, khảo sát thực trạng và các yếu tố tác động đến vai trũ của
cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em ở huyện Đồng Phú, đề tài đề xuất
một số kiến nghị về giải pháp nhằm tăng cường vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong
việc thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bỡnh Phước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hoá khái niệm: cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở, trẻ em, quyền trẻ em, vai trũ,
vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em.
- Làm rừ một số vấn đề lý luận nghiên cứu vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở
trong việc thực hiện quyền trẻ em.
- Mô tả thực trạng vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền
trẻ em ở huyện Đồng Phú gắn với ý kiến đánh giá và những kỳ vọng của nhân dân về
vai trũ của cán bộ LĐ, QL trong việc thực hiện quyền trẻ em và kết quả thực hiện quyền
trẻ em ở địa phương.
- Phân tích các nhân tố tác động đến vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong
việc thực hiện quyền trẻ em ở huyện Đồng Phú.
- Đưa ra một số kiến nghị về giải pháp nhằm tăng cường vai trũ của cán bộ LĐ,
QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bỡnh Phước.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: 11/11 xó, thị trấn của huyện Đồng Phú.
tác c
ủa cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở
.
Các đ
ặ
c đi
ể
m nhân kh
ẩ
u
-
xó
hội của cán bộ LĐ, QL cấ
p cơ
sở.
Vai tr
ũ l
ồ
ng ghép, ph
ố
i h
ợ
p,
t
ổ chức thực hiện.
Vai tr
ũ tuy
ờ
n truy
lý t
ỡ
nh hu
ố
ng.Vai tr
ũ
đ
ề
xu
ấ
t chính sách,
giải pháp.
Vai tr
ũ
của
cán bộ
LĐ, QL
cấp cơ
sở
trong
việc
thực
hiện
quyền
trẻ em
đạo, công tác kiểm tra, giám sát, ngân sách…
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Phương pháp luận chung: đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền trẻ em,
vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em.
- Các quan điểm của cách tiếp cận quyền trong nghiên cứu trẻ em, thuyết vai trũ
xó hội và thuyết hành động xó hội.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp quan sát: được sử dụng để tỡm hiểu việc cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở
tổ chức các hoạt động thực hiện quyền trẻ em; tỡm hiểu tỡnh hỡnh thực hiện quyền trẻ
em ở gia đỡnh, nhà trường và cộng đồng.
- Phương pháp phân tích tài liệu: giỳp tỡm hiểu tỡnh hỡnh nghiờn cứu về vai trũ
của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em ở nước ta; đồng thời
giúp cho việc lựa chọn khách thể nghiên cứu, cung cấp các số liệu thống kê và thông tin
cần thiết để so sánh, hoàn thiện kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: được sử dụng để làm rừ những thông tin mới được
phát hiện trong quỏ trỡnh điều tra anket và những thông tin mang tính nhạy cảm, bổ
sung cho thông tin định lượng.
Tiến hành phỏng vấn sâu 30 trường hợp: 8 cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở; 3 cán bộ
lónh đạo huyện, lónh đạo Sở Lao động - thương binh và xó hội, nguyờn lónh đạo ủy ban
DS-GĐ&TE tỉnh; 1 cán bộ nguyờn lónh đạo ủy ban DS-GĐ&TE huyện; 3 cán bộ văn
hóa - xó hội, tư pháp - hộ tịch, thương binh - xó hội; 5 cha/mẹ; 4 giáo viên; 4 trẻ em; 2
già làng, trưởng ấp.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Nhóm cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở: khảo sát 275 (100%) cán bộ ở 11/11 xó, thị
trấn, gồm: bí thư, phó bí thư, thường trực đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND,
55-CT/TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị, Kế hoạch 20-KH/TU ngày 7/11/2000 của
Tỉnh ủy Bỡnh Phước về “tăng cường sự lónh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với
công tác BV, CS&GD trẻ em” và phát huy tốt vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở
trong việc thực hiện quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương, 7 tiết. Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN Và PHƯƠNG PHáP LUậN NGHIÊN CứU
VAI TRũ CủA CáN Bộ LóNH ĐạO, QUảN Lý CấP CƠ Sở
TRONG VIệC THựC HIệN QUYềN TRẻ EM
1.1. KHáI NIệM
1.1.1. Khái niệm cán bộ lónh đạo, quản lý cấp cơ sở
Trong đề tài này, cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở được hiểu là người có chức vụ (cấp
trưởng, cấp phó) và được giao đảm nhiệm một lĩnh vực công tác nào đó ở xó, phường,
thị trấn. Họ là người đề ra chủ trương, định hướng, phương pháp hoạt động, xây dựng
kế hoạch, ra quyết định, tổ chức điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động trong các cơ
quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xó hội trong hệ thống chính trị, duy trỡ
hoạt động thường xuyên một cách tối ưu để thực hiện các chương trỡnh kế hoạch, mục
tiêu của tổ chức và động viên, dẫn dắt đoàn viên, hội viên và nhân dân đi theo mục tiêu
đó.
Cụ thể là những người giữ chức danh: bí thư, phó bí thư, thường trực đảng ủy; chủ
tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND xó, phường, thị trấn; chủ tịch, phó chủ tịch MTTQ;
chủ tịch, phó chủ tịch Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân; bí thư, phó bí thư
Đoàn thanh niên; chủ tịch, phó chủ tịch Hội chữ thập đỏ, Hội người cao tuổi, trưởng,
phó công an; trưởng, phó trạm y tế.
1.1.2. Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em
kết giao và tự do hội họp hoà bỡnh, tự do tỡm kiếm, nhận và phổ biến mọi loại thông tin
và tư tưởng, không kể biên giới dưới bất kỳ hỡnh thức nào, phương diện nào), thể hiện
trong các Điều 12, 13, 14, 15, 16, 17.
1.1.3. Khái niệm vai trũ và vai trũ của cán bộ lónh đạo, quản lý cấp cơ sở
trong việc thực hiện quyền trẻ em
Thông thường, vai trũ được hiểu theo nghĩa “tác dụng, chức năng trong sự hoạt
động, sự phát triển của cỏi gỡ đó” [69, tr.1095]. Tuy nhiên, trong Xó hội học, khái niệm
vai trũ được hiểu khác.
Theo I. Robentsons, vai trũ là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và
quyền lợi gắn với một vị thế nhất định. J.H.Fischer thỡ cho rằng, vai trũ là những hành
động, hành vi ứng xử, khuôn mẫu tỏc phong mà xó hội chờ đợi hay đũi hỏi ở một người
hay một nhúm xó hội nào đó phải thực hiện trên cơ sở vị thế (vị trớ xó hội) của họ [44,
tr.127].
Như vậy, vai trũ là một tập hợp các quyền và nghĩa vụ gắn cho một vị trớ xó hội
của một người hay một nhóm người mà xó hội mong đợi phải được thực hiện. Trong đề
tài này, “Vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em” được
thể hiện trên 5 khía cạnh sau đây:
- Vai trũ lồng ghép, phối hợp, tổ chức thực hiện quyền trẻ em.
- Vai trũ tuyờn truyền, vận động, thuyết phục thực hiện quyền trẻ em.
- Vai trũ xử lý tỡnh huống trong quỏ trỡnh thực hiện quyền trẻ em.
- Vai trũ kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền trẻ em.
- Vai trũ đề xuất chính sách, giải pháp thực hiện tốt quyền trẻ em.
1.2. TIếP CậN QUYềN con người TRONG NGHIÊN CứU TRẻ EM Và CỏC
Lý THUYếT NGHIÊN CứU VAI TRũ CủA CáN Bộ LóNH ĐạO, QUảN Lý CấP
CƠ Sở TRONG VIệC THựC HIệN QUYềN TRẻ EM
1.2.1. Tiếp cận quyền con người trong nghiên cứu trẻ em
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng của
quyền con người. Vỡ trẻ em cũng là một thực thể con người, là thành viên của xó hội,
có vị trớ và vai trũ đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của xó hội, tương lai của
người được hưởng quyền và có quyền yêu cầu với tất cả những người lớn trong bộ
máy Nhà nước, cộng đồng và gia đỡnh cú trỏch nhiệm thi hành phỏp lý cỏc đũi hỏi
đó. Cách tiếp cận này khẳng định trẻ em là chủ thể của các quyền, có quyền được
chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giáo dục, chứ không đơn giản chỉ là đối tượng của
sự quan tâm chăm sóc. Cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở có nghĩa vụ phải thực hiện quyền
trẻ em, trẻ em có quyền nhận được sự quan tâm chăm sóc, không phải như một sự
ban ơn. Gia đỡnh, nhà trường và cộng đồng có trách nhiệm thực hiện các đũi hỏi
của Công ước quốc tế về quyền trẻ em đó được Nhà nước ký kết theo hướng “cần
tính đến các lợi ích tốt nhất của trẻ em” dưới sự lónh đạo, quản lý và tổ chức điều
hành của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở. Một giá trị của cách tiếp cận này là đề cao lũng
tự trọng, tính sáng tạo và niềm vui thông qua những cơ hội ngày càng nhiều để trẻ
em tham gia trong gia đỡnh và cộng đồng, được nói tiếng nói với cán bộ LĐ, QL
cấp cơ sở.
Việc thực hiện quyền trẻ em có bốn nguyên tắc chính là:
- Tính phổ biến: trẻ em ai cũng có quyền được hưởng các quyền và các quyền của
trẻ em phải được tôn trọng, chấp nhận và thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Theo
đó, trẻ em nào cũng được hưởng những quyền và nghĩa vụ được quy định trong quyền
trẻ em, các quyền đó phải được cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở tôn trọng, chấp nhận và thực
hiện đầy đủ, không có sự hạn chế.
- Không phân biệt và bỡnh đẳng: đũi hỏi tất cả mọi trẻ em đều được hưởng đầy đủ các
quyền của mỡnh trong thực tế, trẻ em nào cũng phải được quan tâm thực hiện.
- Sự phụ thuộc lẫn nhau và tính không thể chia cắt của quyền: là sự thực hiện một
quyền này không làm ảnh hưởng đến sự thực hiện một quyền khác, đơn giản là không
có hệ thống thứ bậc trong các quyền. Công ước quốc tế về quyền trẻ em là một tập hợp
các quyền không thể chia cắt.
- Sự tham gia và tăng cường quyền năng: Theo nguyên tắc này, trẻ em có quyền giám
sát với tư cách là chủ thể của các quyền đối với gia đỡnh, nhà trường, cộng đồng và cán bộ
LĐ, QL cấp cơ sở trong quỏ trỡnh thực hiện trên thực tế. Cho nên, khi đánh giá vai trũ của
cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em cần có sự đánh giá gắn với kỳ
đang đảm nhiệm. Cho nên, có sự khác nhau giữa cán bộ ở chức vụ và khối công tác
khác nhau đối với việc thực hiện quyền trẻ em ở cơ sở.
Để thực hiện một vai trũ xó hội, chủ thể xó hội phải đáp ứng được sự mong đợi, kỳ
vọng của xó hội bao gồm hai khía cạnh. Trước hết, chủ thể đó bắt buộc phải thực hiện
nghĩa vụ và những hành vi có tính chuẩn mực mà xó hội mong đợi ở cá nhân có vị thế.
Thứ hai, trên vị thế xó hội của mỡnh, chủ thể xó hội có quyền thực hiện các chuẩn mực
mà xó hội quy định, đũi hỏi, đồng thời có quyền yêu cầu các chủ thể xó hội khác phải
tôn trọng các quyền đó. Đối với cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở ở từng khối và chức vụ công
tác của mỡnh cú trỏch nhiệm lónh đạo và tổ chức thực hiện quyền trẻ em theo quy định
của Đảng, Nhà nước và sự kỳ vọng, mong đợi của nhân dân; có quyền thực hiện các
quy định về vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em theo
thẩm quyền và được quyền yêu cầu gia đỡnh, nhà trường, cộng đồng xó hội tôn trọng
các quyền đó.
Theo thuyết vai trũ xó hội, cá nhân không hoàn toàn thực hiện được vai trũ của
mỡnh nếu không có sự hợp tác của nhúm xó hội mà người đó tham gia. Sẽ không đạt
được hiệu quả cao cỏc vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền
trẻ em, nếu không có sự sẵn sàng, đồng thuận và hợp tác tích cực của trẻ em, gia đỡnh,
nhà trường và cộng đồng xó hội. Do vậy, khi đánh giá vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ
sở trong việc thực hiện quyền trẻ em, kết quả thực hiện quyền trẻ em trong gia đỡnh,
nhà trường và cộng đồng cũng là một tiêu chuẩn quan trọng.
Theo quan điểm chức năng, vai trũ giỳp cho sự ổn định và phát triển của xó hội.
Bởi vỡ, nú cho phộp cỏc thành viờn trong xó hội biết trước được quyền lợi và nghĩa vụ
của người khác để ứng xử phù hợp. Nếu cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở thực hiện tốt vai trũ
của mỡnh trong việc thực hiện quyền trẻ em thỡ trẻ em được đảm bảo đầy đủ các quyền
của mỡnh để phát triển toàn diện.
Mỗi cá nhân trong tổng thể các mối quan hệ xó hội đa dạng và phức tạp của mỡnh
nắm giữ nhiều cương vị, vị thế xó hội khác nhau, nên có nhiều vai trũ xó hội khác nhau.
Do đó, cá nhân dễ gặp những khó khăn phát sinh khi cùng địa vị xó hội đó nhưng lại đặt
ra những nhu cầu và mong đợi khác nhau, có tính xung đột. Đó chính là sự căng thẳng
đến giá trị thỡ đó là hành động tích cực, được đánh giá cao.
Hành động theo giá trị khác với hành động theo truyền thống. Những hành động
theo truyền thống không phải suy tính nhiều, hành động theo giá trị thỡ phải suy nghĩ,
cân nhắc, thậm chí diễn ra cả xung đột nội tâm. Thí dụ, theo quy định cán bộ LĐ, QL
cấp cơ sở có quyền xử phạt hành chính đối với những hành vi xác định giới tính thai
nhi. Vấn đề đặt ra là, kẻ phạm tội mà lại là con trai của người cán bộ, khi đó người cán
bộ ấy rơi vào tỡnh trạng xung đột giữa các giá trị. Là người cha, người cán bộ muốn bảo
vệ đứa con mỡnh. Là cỏn bộ LĐ, QL cấp cơ sở, người cán bộ có quyền và nghĩa vụ xử
phạt, giáo dục. Đây là trường hợp mà cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở rất dễ gặp trong bối
cảnh của xó hội nông thôn với nhiều ràng buộc của mối quan hệ gia đỡnh, dũng họ, làng
xó.
Thứ tư, hành động duy lý cụng cụ hay hành động hợp lý cụng cụ: là hành động
được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao
cho có hiệu quả cao nhất. Nó là loại hành động có tính chủ động cao, động cơ thúc đẩy
mạnh mẽ.
Cách chia hành động xó hội như trên chỉ là tương đối, có thể có hoạt động vừa
hướng tới mục đích, vừa hướng tới giá trị. Theo Weber, bốn hỡnh mẫu trên đây của
hành động không tồn tại độc lập hoàn toàn với nhau mà có sự tác động và thâm nhập
vào nhau. Nghiên cứu vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện
quyền trẻ em cần chỉ ra được đâu là hành động duy lý giỏ trị, duy lý cụng cụ, cảm
xúc hay hành động truyền thống. Với những hành động cảm xúc, truyền thống cần có
đề xuất kiến nghị thay đổi hoặc chấm dứt như các hành động với quan niệm xem trẻ
em như một đối tượng mà Nhà nước, gia đỡnh và xó hội cần phải hỗ trợ và bảo vệ,
chứ không phải là chủ thể của quyền.
Theo quan niệm của M. Weber, con người khi hành động luôn luôn có nội dung, ý
nghĩa chủ quan. Do đó, nghiên cứu vai trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực
hiện quyền trẻ em phải lý giải được động cơ và nguyên nhân bên trong của hành động,
làm rừ được nguyên nhân đem đến những thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện vai
trũ của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở.
Bác luôn chú ý quan tâm đến việc vui chơi giải trí của thiếu niên nhi đồng, mỗi dịp
tết trung thu, tết thiếu nhi, tết nguyên đán, Bác đều không quên tặng quà và tổ chức cho các
cháu vui chơi, ủng hộ các cháu gia nhập các hội: “Các em vui chơi hớn hở, Già Hồ cũng vui
cười hớn hở với các em Hôm nay, tha hồ các em vui chơi cho thoả chí; ngày mai mong các
em ra sức học tập, tất cả các em đó biết chữ quốc ngữ chưa? Em nào chưa biết thỡ phải học
cho biết. Phải siêng tập thể thao cho mỡnh mẩy được nở nang. Vừa ra sức giúp việc cho Nhi
đồng cứu vong hội (các em đó vào Hội đó chưa? Em nào chưa vào thỡ nờn vào Hội cho
vui)” [28, tr.24]. Khi biết các cháu bị bệnh, Bác căn dặn cán bộ: Chú nhớ nói với các chú ở
địa phương cần chăm sóc các cháu tốt hơn, nhất là các cháu đang có bệnh. Dự cũn thiếu thốn
nhiều đấy, nhưng phải tỡm đủ thuốc men cho các cháu….
Trong số ra đầu tiên của tờ Thiếu Sinh, Bác đó viết “Báo trẻ em đó ra đời. Báo đó
là báo của trẻ em” từ đó, Người động viên các em gửi tin tức, tranh vẽ và viết bài để tờ
báo phát triển và các em có nơi để bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mỡnh. Trong thư gửi
Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng năm 1949, Bác nhắc nhở “phải giữ toàn vẹn cái tính
vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng”. Trong mọi việc nên hướng dẫn
các em tự động. Người lớn khụng nờn cỏi gỡ cũng can thiệp, việc gỡ cũng bao biện;
khụng nờn gũ ộp, bú buộc; không nên làm cho các em câu nệ, khúm núm, thành những
nhi đồng “già”. Bản thân Bác luôn lắng nghe ý kiến và tâm tư, nguyện vọng của các em.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và tin tưởng năng lực, khả năng đóng góp của
trẻ em vào công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước. Người hiểu rừ tương lai của đất nước
hoàn toàn phụ thuộc vào trẻ em “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các em” [28, tr.33]. Vỡ vậy, trách
nhiệm của trẻ em là:
Cháu nào cũng biết siêng học, siêng làm, biết ăn, ở sạch sẽ, biết giữ kỷ luật,
lễ phép, thế là tốt lắm. Bác khuyên các cháu gắng sức thêm. Việc gỡ cú ớch cho
khỏng chiến, có ích cho Tổ quốc thỡ cỏc chỏu nờn gắng sức làm. Làm được bao
nhiờu thỡ tốt bấy nhiêu. Tuổi cỏc chỏu cũn nhỏ thỡ các cháu làm những công việc
nhỏ… [29, tr.192-193].
Các cháu nhi đồng phải làm cho được 5 tốt: đoàn kết tốt, học tập tốt, lao động tốt,
tr.371]. Cho nên, có thể nói trong tư tưởng Hồ Chí Minh cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở cú
vai trũ rất quan trọng trong việc thực hiện quyền trẻ em.
1.3.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền trẻ em và vai trũ của cán
bộ lónh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em
Kế thừa, tiếp thu và phát huy truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, tư tưởng Hồ
Chí Minh về quyền trẻ em và trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em, Đảng và Nhà nước ta