LUẬN VĂN: Nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ lãnh đạo - quản lý đối với pháp lệnh dân số - Pdf 15



LUẬN VĂN: Nhận thức, thái độ và hành vi của
cán bộ lãnh đạo - quản lý
đối với pháp lệnh dân số Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tháng 01 năm 1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp Trung ương Đảng khoá VII đã
ban hành Nghị quyết về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS - KHHGĐ)
nhằm giải quyết cơ bản về vấn đề dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số của nước ta.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định: “Chính sách dân số nhằm chủ động

nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để
làm tốt những điều này, đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể xã hội
phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện PLDS và Nghị quyết 47-
NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/3/2005 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách
DS - KHHGĐ.
Trước tiên cần tiến hành những nghiên cứu đánh giá về nhận thức, thái độ và sự
thực hiện PLDS của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐ QL) các cấp. ở mỗi địa
phương, khu vực có hướng điều chỉnh và truyền thông, hướng dẫn việc thực hiện PLDS
nhằm đạt tới những mục tiêu mà chương trình quốc gia về dân số, dân số - phát triển
(DSPT) đã đề ra. Nghiên cứu ở từng địa bàn của mỗi tỉnh đang trở thành một nhiệm vụ
cấp thiết.
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, từ khi Nhà nước ban hành PLDS tỉ lệ sinh
con thứ 3 tăng, trong đó có nhóm cán bộ, đảng viên. Năm 2002 tỉ lệ sinh con thứ 3 ở Yên
Bái là 10,55%, 2003 là 12,9% đến năm 2004 mức này là 11,6%, năm 2005 là 12% và 6
tháng đầu năm 2006 là 12,45%. Như vậy, sau ba năm thực hiện PLDS, tỷ lệ sinh con thứ
ba đều cao hơn mức của năm 2002. Đây là một điều đáng lo ngại ở tỉnh Yên Bái. Do vậy,
chọn đề tài về “Nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ lãnh đạo - quản lý đối với
pháp lệnh dân số” là đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn, góp phần giúp các cơ quan
nhà nước thực hiện thành công những mục tiêu mà chương trình dân số, DSPT của Yên
Bái đã đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn, đã có không ít
các công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về DS - KHHGĐ, DSPT,
sức khoẻ sinh sản (SKSS). Tuy nhiên, nghiên cứu về tác động của PLDS tới nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng dân cư nhất là của CBLĐQL thì chưa có nhiều. Mới có
một số công trình nghiên cứu được tập hợp như sau:
Tác giả Lê Thi đã có 2 bài viết.
Bài viết thứ nhất “Tác động của những yếu tố tâm lý đến sự gia tăng mức sinh

chính sách DS - KHHGĐ” do TS. Nguyễn Đức Mạnh và các cộng sự thực hiện vào năm
2005 cũng đã chỉ rõ thực trạng nhận thức và thái độ của các nhóm đối tượng đối với một
số quy định của chính sách DS - KHHGĐ và PLDS như: các quy định về tuổi kết hôn; về
quy mô gia đình; về khoảng cách giữa các lần sinh; về không phân biệt giới tính; cấm lựa
chọn giới tính thai nhi qua siêu âm; các quy định về sử dụng các biện pháp tránh thai;
khám thai đối với phụ nữ mang thai; nạo phá thai, về phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn
đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/ADIS; các quy định giáo
dục giới tính và sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến
nghị nhằm góp phần bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chính sách phù hợp với yêu cầu công tác
DS - KHHGĐ trong thời gian tới.
Ngoài ra, khi tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ đảng viên với
chính sách dân số đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập ở những góc độ khác
nhau. Tuy những nghiên cứu này được thực hiện vào thời điểm trước PLDS nhưng chúng
đã cung cấp những nội dung, phương hướng, cách thức tiếp cận với vấn đề mà luận văn
này đang hướng tới. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau: Đề tài nghiên cứu
khoa học về “Nhận thức, thái độ và thực hiện của đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt
và tổ chức đảng đối với Nghị quyết về chính sách DS - KHHGĐ” do TS. Đào Trọng Cảng
và cộng sự tiến hành năm 1994 - 1995; “Thực trạng nhận thức và chỉ đạo của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo quản lý, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết TW4 của Ban Chấp hành Trung
ương (khoá VII) về chính sách DS - KHHGĐ” do GS. Chung á và cộng sự tiến hành năm
1993 - 1995. Các nghiên cứu này đã khẳng định vai trò quan trọng của các cấp uỷ Đảng
và CBLĐQL trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ. Những vấn đề liên
quan đến nhận thức, thái độ và hành vi lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình dân số,
DS - KHHGĐ của CBLĐQL các cấp cũng đã được đề cập. Trên cơ sở này mà đề xuất
một số khuyến nghị có giá trị thiết thực như: Nhanh chóng trang bị những kiến thức cơ bản
và cần thiết về DS - KHHGĐ cho CBLĐQL ở các cấp; nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý này. Tăng cường đầu tư kinh phí và trang thiết bị cho các địa phương để
thực hiện công tác DS - KHHGĐ.

toàn diện và sâu sắc tác động của PLDS với nhận thức, thái độ, hành vi của cộng
đồng dân cư nhất là của nhóm CBLĐQL các cấp. ở địa phương như Yên Bái, các
công trình nghiên cứu như vậy càng hiếm hơn. Do vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
"Nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với pháp lệnh dân
số" làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ xã hội học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào làm rõ thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của
CBLĐQL ở tỉnh Yên Bái đối với PLDS, trên cơ sở này đề xuất một số giải pháp góp
phần hoàn chỉnh PLDS và các văn bản có liên quan, nâng cao hiệu lực và hiệu quả việc
thực hiện PLDS.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu trên luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Xác định và làm rõ một số khái niệm đặt cơ cở cho việc nghiên cứu như: nhận
thức, thái độ, hành vi, PLDS, CBLĐQL.
- Xác định cơ sở lý luận và những lý thuyết xã hội học cho việc nghiên cứu như lý
luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và các lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết cơ cấu chức
năng, lý thuyết dân số.
- Thu thập, phân tích các tài liệu có sẵn và khảo sát xã hội học để chỉ ra thực trạng nhận
thức, thái độ và hành vi của CBLĐQL đối với việc tiếp thu, thực hiện PLDS và những văn bản có
liên quan.
- Xác định những yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của CBLĐQL
đối với PLDS.
- Dự báo xu hướng và đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp góp phần hoàn chỉnh
PLDS và nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của CBLĐQL trong việc cụ thể hoá và thực
hiện có hiệu quả PLDS.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận văn
-XH
Tuổi
Giới
tính
Học
vấn
Dân tộc

Thái đ
ộ:

- ủng h
ộ hay không ủng
hộ.
- Tích c
ực hay không
tích cực.
Hành vi:

- Gương m
ẫu thực
hiện.
- Tham gia t


Nh
ận thức
:

- Nội dung PLDS.
- Trách nhi
ệm cá nhân
đối với PLDS.
- Trách nhiệm của c
ơ
quan đối với PLDS.
- Nghị quyết 47/ BCT. *Hệ biến số:
Đề tài đã xác định hệ thống các biến số như sau:
+ Biến số độc lập:
Đặc điểm cá nhân:
- Độ tuổi.
- Giới tính.
- Học vấn : Trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng trở lên.
- Dân tộc.
- Cấp công tác: Cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, phường.
- Khối công tác: Khối Đảng, khối chính quyền, khối đoàn thể, khối doanh nghiệp.
+ Biến số phụ thuộc:
Nhận thức:
- Thời điểm ra đời của PLDS.

- Phân tích tài liệu có sẵn: Thu thập và phân tích các tài liệu bao gồm: các công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; Niên giám thống kê của tỉnh; Các báo cáo về
công tác DS - KHHGĐ và DSPT/SKSS của tỉnh từ năm 2002 đến nay.
- Phỏng vấn sâu 12 cuộc, trong đó CBLĐQL thuộc cơ quan đảng (3 cuộc), uỷ
ban nhân dân (3 cuộc), hội đồng nhân dân (3 cuộc), tổ chức đoàn thể (3 cuộc).
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Đề tài thực hiện điều tra xã hội học 300 phiếu trưng cầu ý kiến.
+ Giới tính người trả lời :
Nam giới : 67%
Nữ giới : 33%
+ Về độ tuổi:
Dưới 30 tuổi : 15,9% Từ 31 - 40 tuổi : 31,4%
Từ 41 - 50 tuổi : 46,2%
Trên 51 tuổi : 6,5%
+ Về dân tộc:
Kinh : 78,3%
Dân tộc thiểu số : 21,7%
+ Học vấn:
Trung học phổ thông : 6,7%
Trung cấp : 25,7%
Cao đẳng trở lên : 67,6%
+ Khối cơ quan:
Khối Đảng : 19,7%
Khối chính quyền : 54,0%
Khối đoàn thể : 17,7%
Khối doanh nghiệp : 8,6%
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn


Chương 1
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Nhận thức
Theo từ điển Tiếng Việt, nhận thức là nhận ra và biết được, hiểu được về một ai
đó, một vấn đề hay một hiện tượng nào đó [36, tr. 89].
Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư
duy, là quá trình con người nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan. Quá trình ấy đi
từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức. Diễn ra ở mấy mức độ:
- Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát,
thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống.
- Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống, với ý
thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng sai.
Ngày nay đa số các nhà khoa học cho rằng nhận thức là một quá trình tiếp cận,
tiến đến gần chân lý, nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ
nắm bắt hết toàn bộ hiện thực, phải thải loại dần những cái sai, tức không ăn khớp với
hiện thực, đi hết bước này sang bước khác [84, tr.250].
Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với Pháp lệnh dân số:
Là quá trình phản ánh, thu nhận những kiến thức về PLDS. Nghiên cứu này chú
trọng tới việc tìm hiểu mức độ hiểu biết của đối tượng hay khối lượng kiến thức mà đối
tượng nắm được về năm ban hành và cơ quan ban hành PLDS; Hiểu biết một số quy định
về nội dung trong PLDS như: Hiểu biết đối với quy định về quy mô gia đình 1-2 con; về

Mọi phản ứng của một cá nhân khi bị một yếu tố nào trong môi trường kích
thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để thích ứng có định hướng, mục tiêu nhằm giúp chủ thể thích nghi với
hoàn cảnh thì gọi là hành vi.
Theo từ điển Tiếng việt, hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư
xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong hoàn cảnh cụ thể nhất định [36, tr.25].
Hành vi là sự chuyển tải nhận thức, thái độ thành việc làm cụ thể. Hành vi của
con người ở mức độ cao là được học tập và có thể thay đổi bởi ảnh hưởng của những
động viên hoặc kích thích thay đổi được của môi trường. Theo Max Weber, hành vi xã
hội là điểm xuất phát của mọi quá trình xã hội. Theo Parsons, muốn giải thích một hiện
tượng xã hội nào phải quy về những hành vi cá nhân sơ đẳng, coi như một sự kiện, một
dữ kiện riêng.
Như vậy, hành vi bao giờ cũng phát triển trong hệ thống cưỡng chế ít hay nhiều
rõ rệt đối với chủ thể. Tuy vậy nó cũng không phải hoàn toàn do các cơ cấu xã hội khách
quan quy định. Nó là hành vi cá nhân diễn ra trong quá trình xã hội hoá, nó còn dựa vào
những ý định và động cơ của chủ thể hành vi, cũng như vào những phương tiện thực hiện
hành vi của chủ thể [83, tr.125].
Hành vi của cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với pháp lệnh dân số:
Là một dạng hoạt động xã hội có mục đích của nhóm xã hội - CBLĐQL gắn
với sự cần thiết phải đáp ứng những nhu cầu căn bản của quá trình nhận thức về
PLDS. Hành vi nghiêm túc hay gương mẫu trong việc thực hiện PLDS; tuyên truyền
vận động người khác thực hiện; Tham gia tổ chức thực hiện như nêu ý kiến sửa đổi,
tuyên truyền vận động, tổ chức lãnh đạo; Tham gia đầu tư nguồn lực cho việc thực
hiện PLDS.
1.1.4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý
* Cán bộ, theo nghĩa chung nhất, là khái niệm chỉ người làm công tác có
nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, cán bộ chỉ người làm
công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường,

thiện, Quốc hội sẽ xem xét để quyết định ban hành thành luật (điều 21). Điều 47 luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định trình tự xem xét, thông qua dự án pháp
lệnh tại phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Sau khi pháp lệnh được Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thực hiện
pháp lệnh. Quyền giải thích pháp lệnh thuộc về Uỷ ban thường vụ Quốc hội [21, tr.419].
Dân số: Là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh
tế hoặc một đơn vị hành chính (Khoản 1, điều 3 PLDS )
Pháp lệnh dân số: Là văn bản qui phạm pháp luật, là cơ sở pháp lý bảo đảm cho
việc tổ chức thực hiện công tác dân số và nâng cao trách nhiệm của công dân, gia đình,
Nhà nước và xã hội trong công tác dân số. PLDS điều chỉnh toàn diện vấn đề dân số, bao
gồm qui mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và chất lượng dân số, các biện pháp
thực hiện công tác dân số.
Theo những văn bản có tính pháp quy về dân số thì:
+ Quy mô dân số: Là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh
tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định (Khoản 2, điều 3 PLDS). Quan
niệm này cho thấy, quy mô dân số sẽ chẳng có ý nghĩa khi xét độc lập về mặt số lượng
đơn thuần, nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi so sánh chúng với nhau theo thời gian và khi xét
chúng trong mối quan hệ với không gian mà con người sinh sống, nghĩa là theo quốc gia,
khu vực, vùng địa lý hoặc một đơn vị hành chính. Quy mô dân số chỉ có ý nghĩa khi so
sánh về tốc độ thay đổi của nó với những đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và
sự phát triển nói chung của xã hội.
+ Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (Khoản 3, điều
3 PLDS). Cơ cấu dân số phản ánh các đặc trưng của mỗi lớp người và của toàn bộ dân số.
Các đặc trưng về giới tính, độ tuổi phản ánh về mặt nhân khẩu học; các đặc trưng về dân
tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn phản ánh về mặt xã hội; các đặc trưng
về nghề nghiệp, trình độ chuyên môn phản ánh về mặt kinh tế; các đặc trưng về giai cấp,
thành phần xã hội phản ánh về mặt chính trị. Như vậy, việc phân loại tập hợp người theo

phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống [23,
tr.201].
Các luận điểm chính của việc tiếp cận cấu trúc chức năng đều nhấn mạnh tính cân
bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc. Theo lý thuyết cơ cấu chức năng, một
xã hội tồn tại được, phát triển là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng
với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ một sự thay đổi nào ở
thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác. Sự biến đổi của cấu
trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của
cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định [23, tr.199].
Tiếp cận chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và
hệ quả của cấu trúc xã hội. Đối với bất kỳ sự kiện xã hội, hiện tượng xã hội nào, những
người theo thuyết chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần tạo nên cấu
trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt
xem xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại, phát triển các sự kiện,
hiện tượng đó. Ngoài ra lý thuyết cơ cấu chức năng còn đòi hỏi phải hướng vào tìm hiểu
cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự
tồn tại một cách cân bằng, ổn định của một cấu trúc xã hội [23, tr.199].
T. Parsons được coi như là đại biểu xuất sắc nhất đã phát triển lý thuyết cơ cấu chức
năng lên mức hoàn thiện nhất hay lý thuyết cơ cấu chức năng đã được trình bày một cách
có hệ thống nhất.
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3 chiều: cấu trúc - chức
năng - kiểm soát. Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệ thống luôn nằm trong trạng
thái động vừa tự biến đổi, vừa trao đổi với môi trường xung quanh, hệ thống có khả năng điều
khiển và tự điều khiển [23, tr.204].
Khi nghiên cứu cấu trúc của hành động xã hội, Parsons cho rằng cấu trúc của hành
động được triển khai trên các cấp độ hệ thống khác nhau, trong đó hệ thống xã hội chỉ là
một trong các hệ thống của nó. Ông cho rằng thông qua quá trình xã hội hoá cá nhân,
hành động của con người hình thành và biểu hiện trên các cấp độ hệ thống từ cấp hành vi

Merton đã sử dụng triệt để cách phân tích chức năng luận để đưa ra lý thuyết về sự
sai lệch xã hội. Ông cho rằng sự lệch chuẩn là sự không phù hợp, sự lệch pha giữa mục
tiêu văn hoá và phương tiện được thiết chế hoá. Do xác định sai mục tiêu văn hoá hoặc
chọn sai phương tiện mà hành động bị coi là lệch chuẩn, là sai lệch thậm chí là tội phạm.
Merton đã phân biệt năm kiểu hành động thích nghi với xã hội đó là:
+ “Kiểu thoả hiệp: Khi cả mục tiêu văn hoá và phương tiện được chủ thể lựa chọn
đều phù hợp với các hệ giá trị, chuẩn mực xã hội và do vậy được xã hội hoàn toàn chấp
nhận.
+ Kiểu đổi mới: Đây là kiểu hành động nhằm mục tiêu đã được chấp nhận nhưng
bằng những phương tiện và cách làm mà xã hội có thể chưa hay không chấp nhận.
+ Kiểu nghi thức: Đây là kiểu hành động tuân theo các thủ tục, các quy định và sử
dụng các phương tiện được thừa nhận, nhưng lại không nhằm vào mục tiêu văn hoá được
xã hội chấp nhận.
+ Kiểu thoái lui: Đây là kiểu hành động mà cả mục tiêu và phương tiện của nó đều
không được chấp nhận.
+ Kiểu nổi loạn: Đây là kiểu hành động hướng tới mục tiêu mới được đặt ra để thay
thế cho những mục tiêu cũ và sử dụng phương tiện mới thay thế cho phương tiện cũ.
Trong năm kiểu hành động này được sắp xếp trên cùng một trục ta thấy kiểu hành
động thoả hiệp nằm ở cực “bình thường, đúng mực” đối lập với kiểu nổi loạn ở cực “bất
thường, sai lệch”. Các kiểu hành động còn lại nằm dọc trên trục này, cụ thể sau “thoả
hiệp” là “đổi mới”, tiếp đến là “nghi thức” rồi “thoái lui” và cuối cùng là “nổi loạn” [23,
tr.214-215].
Merton nhấn mạnh sự khác biệt giữa các kiểu ứng xử xã hội chủ yếu là ở sự nhận
thức và thái độ đánh giá của xã hội đối với từng biểu hiện của mục tiêu văn hoá và
phương tiện được lựa chọn để thực hiện mục tiêu. Tiêu chuẩn để xác định mức độ đúng
mực hay sai lệch của hành động phụ thuộc vào hệ quả của nó đối với xã hội. Điều này
liên quan tới câu hỏi phương pháp luận của thuyết cấu trúc- chức năng mà Merton đặt ra
học xã hội - nhân văn, tức là lý giải mục đích, nhu cầu, động cơ, ý nghĩa của hành động
xã hội [12, tr.115].
Xã hội học phải là một khoa học giải thích các lý do của hành động xã hội, quá
trình và tác động của chúng. Hành động có nghĩa là một thái độ của con người (tự có,
hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phép hoặc được phép), khi và chỉ khi
chủ thể gắn liền thái độ của mình với một ý nghĩa chủ quan. Hành động, cái ý nghĩa mà
các tác nhân phản ảnh, có quan hệ với hành động của những người khác và diễn ra do sự
định hướng của hành động này. M. Weber cho rằng xã hội học chỉ xem xét hành động
chừng nào chủ thể có một ý nghĩa xác định cho những hành động của mình. Chỉ hành
động như vậy mới có thể khiến nhà xã hội học quan tâm. Khái niệm hành động xã hội
xác lập chỉ chừng nào chủ thể hành động gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan. Đối với M.
Weber, đối tượng nghiên cứu của xã hội học là thứ hành động gắn với ý nghĩa được ám
chỉ một cách chủ quan. Theo quan điểm của ông, xã hội học là khoa học về cái “hiểu”
[11, tr.102-103]. Như vậy, hành động xã hội nghĩa là cơ sở của những động cơ chủ quan
của cá nhân (hay nhóm) và sự định hướng đến người khác. Đây là hai điều kiện mà thiếu
nó thì không thể nói đến hành động xã hội.
Trên cơ sở đó, M. Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và những
hành vi và hoạt động khác của con người. Nói tới hành động là nói tới việc chủ thể gắn cho
hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó. Hành động, kể cả hành động thụ động và
không hành động (ví dụ như hành động im lặng, hành động chờ đợi không làm gì cả) được
gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác
trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai; ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động [23,
tr.177-178].
Theo quan điểm của M. Weber, không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay
đều là hành động xã hội. Những hành động nào chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính
đến hành vi của người khác thì không được gọi là hành động xã hội. Không phải tương
tác nào của con người cũng là hành động xã hội. Chỉ những hoạt động nào có mục đích, chủ thể “hiểu” ý nghĩa của nó mới là “hành động xã hội” cần nghiên cứu. Theo hướng

chuẩn mực văn hoá, quan niệm về hạnh phúc gia đình, con cái chi phối thế nào đến hành
vi sinh sản và sự tham gia tổ chức chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện PLDS của CBLĐQL là
những điều cần phải chú ý.
1.2.3. Lý thuyết dân số
Quá độ dân số là lý thuyết được các nhà nhân khẩu học phương Tây đưa ra hơn
nửa thế kỷ trước nhằm phân tích sự biến đổi dân số. Lý thuyết này cho rằng, sự phát triển
dân số luôn tuân theo một quy luật nhất định và sự gia tăng dân số có quan hệ biện chứng
với sự phát triển kinh tế - xã hội [85, tr.17]. Chính vì vậy, tiến trình phát triển dân số của
các quốc gia thường phải đi qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn trước quá độ có đặc trưng là mức sinh cao và ổn định còn mức chết
cao và biến động. Sự không ổn định của tỷ suất tử là sự phản ánh những biến đổi trong
nền kinh tế, ảnh hưởng của mùa màng và bệnh tật. Trong điều kiện kinh tế như vậy, mức
sinh cũng rất cao, tư tưởng đông con nhiều cháu đã ăn sâu vào cộng đồng xã hội; Giai
đoạn quá độ là thời kỳ có những biến động lớn cả về mức sinh và mức chết mà xu hướng
thường gặp là mức chết giảm nhanh hơn mức sinh. Đây là giai đoạn sự gia tăng dân số
bắt đầu diễn ra với tốc độ cao còn gọi là bùng nổ dân số; Giai đoạn sau quá độ có đặc
trưng là mức sinh và mức chết đều thấp. Những thành tựu của khoa học và công nghệ tạo
khả năng cho con người có thể kéo dài tuổi thọ, loại trừ một số dịch bệnh ra khỏi đời
sống xã hội, dịch vụ sức khoẻ của con người tốt hơn và kết quả là mức chết giảm nhanh
và mức sinh dần ổn định. Xã hội xuất hiện một thời kỳ “dư lợi dân số”. Trong xã hội, tỷ
lệ người trong độ tuổi lao động lớn (60% - 65%). Nơi nào tận dụng được tiềm năng lao
động này thường đẩy nhanh được tốc độ phát triển kinh tế. Ngược lại, đây sẽ là gánh
nặng về giải quyết việc làm, thất nghiệp và những phức tạp xã hội khác.
Như vậy, quá độ dân số là quá trình chuyển đổi khuôn mẫu cân bằng dân số trên
cơ sở tương quan giữa tỷ suất sinh và tỷ suất chết khi nhân loại đi từ xã hội tiền công
nghiệp sang xã hội công nghiệp. Nếu ở thời kỳ đầu, lý thuyết này mới chỉ ở dạng mô tả
thuần tuý thì sau này nó càng được mở rộng, bổ sung và phát triển. Trên cơ sở hai yếu tố

Trích đoạn Sự gương mẫu thực hiện Pháp lệnh dân số của cán bộ lãnh đạo, quản lý Về sự tham gia tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân số của cán bộ lãnh đạo, quản lý Đầu tư nguồn lực cho việc thực hiện Công tác tuyên truyền, vận động Công tác tổ chức lãnh đạo của cơ quan chức năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status