Tài liệu Đề tài “Tìm hiểu thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THPT về sức khoẻ sinh sản, trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” potx - Pdf 10

Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, kinh tế, xã hội Việt Nam có những bước phát
triển mới, vấn đề sức khoẻ cũng có những đặc điểm riêng, nhiều loại bệnh tật của
mô hình cũ như suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn vẫn tồn tại nhưng mô hình bệnh tật
mới đã xuất hiện và gia tăng một số bệnh rất nguy hiểm lây qua con đường TD và
HIV/AIDS. Với trào lưu du nhập lối sống phương Tây vào nước ta hiện nay, số
VTN QHTD trước hôn nhân, tình trạng nạo phá thai, hiện tượng lạm dụng TD trẻ
em có xu hướng tăng cao… Những vấn đề này đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ VTN.
Để giúp các em HS có thể tiếp thu lối sống lành mạnh thì việc trang bị kiến thức về
sức khoẻ giới tính, về việc tránh thai an toàn để bảo vệ mình là điều vô cùng cần
thiết.
Ở nước ta, việc GDGT đã bước đầu được triển khai cho HS thông qua nhiều
hình thức như tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, chính sách
DS/KHHGĐ, giáo dục trong nhà trường… Tuy nhiên sự tiếp cận với kiến thức về
SKSS lại có sự chênh lệch giữa những HS sống ở khu vực thành phố với nông
thôn; giữa các vùng miền; giữa HS nam và HS nữ…
Điều tra và đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của HS về SKSS
là việc làm cần thiết làm cơ sở cho công tác GDGT trẻ VTN ở mức độ gia đình,
nhà trường, địa phương để có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức
của HS về CSSKSS từ đó hình thành cho HS lối sống lành mạnh, tự chăm sóc sức
khoẻ và bảo vệ bản thân.
Việc điều tra, tìm hiểu thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của HS trên địa
bàn huyện Yên Khánh (Ninh Bình) đặc biệt là HS THPT chưa được tiến hành một
cách có hệ thống và hiệu quả vì vậy mà hiểu biết của VTN về vấn đề SKSS chưa
được nâng cao, các em còn hiểu biết mơ hồ và thiếu chính xác về các nội dung của
SKSS từ đó mà có thái độ và hành vi không đúng với tác phong của người HS. Đây
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học

Sinh học
2
Khoá luận tốt nghiệp
- Đưa ra kết luận chung về thực trạng kiển thức, thái độ, hành vi của HS THPT
tại Yên Khánh từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của
HS về SKSS.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của HS THPT
trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình về SKSS.
- Khách thể nghiên cứu: GV, phụ huynh, HS THPT trên địa bàn huyện Yên
Khánh, tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Các trường THPT trên địa bàn Huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Gồm: Trường THPT Yên Khánh A
Trường THPT Yên Khánh B
Trường THPT Vũ Duy Thanh
- Thời gian: Từ tháng 01/2013 đến tháng 05/2013
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn bản Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục và
Đào tạo về GDGT và CSSKSS.
- Nghiên cứu các công trình khoa học đề cập đến SKSS làm cơ sở đề xuất
phương pháp tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của HS THPT trên địa bàn huyện
Yên Khánh.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến SKSS làm cơ sở cho việc thiết kế câu
hỏi phiếu điều tra tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của HS THPT trên địa bàn
huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
6.2. Phương pháp điều tra
- Điều tra bằng phiếu câu hỏi tự điền.

nam và 17 tuổi ở nữ VTN (tương tự với tuổi trung bình QHTD lần đầu của VTN
một số nước Châu Âu là 17 tuổi) và tỷ lệ VTN có QHTD có xu hướng tăng lên. Ở
Thụy Điển, xã hội cởi mở về TD và kiến thức TD, SKSS được giảng dạy trong
trường phổ thông. Tuổi được đồng ý QHTD là 15 tuổi, nhiều dịch vụ CSSKSS là
miễn phí.
Điều tra quốc gia ở Croatia (2007) với học sinh phổ thông 15-19 tuổi cho
thấy 28% nam, 17% nữ có QHTD trước 16 tuổi. QHTD sớm ở nam có liên quan
với đã từng sử dụng chất gây nghiện, đánh nhau, trêu chọc bạn bè.
Ở một số nước Châu Phi VTN có QHTD sớm và quan hệ nhiều bạn tình là
phổ biến, ảnh hưởng của bạn đồng lứa có vai trò quan trọng tới QHTD ở VTN.
Nghiên cứu ở Nigeria (2006) thấy rằng 19% nam và 6% nữ VTN học sinh phổ
thông trung học đã QHTD. Tuổi trung bình QHTD lần đầu ở nam là 15,7 tuổi và ở
nữ là 16,1 tuổi. Khoảng 1/4 VTN có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất và
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
5
Khoá luận tốt nghiệp
25% VTN QHTD lần đầu là không tự nguyện. Tuổi VTN càng thấp càng thiếu kiến
thức về TD, SKSS. Nghiên cứu với nữ VTN 12-19 tuổi ở một số nước châu Phi
(2007) thấy tỷ lệ QHTD lần đầu không mong muốn là 38% ở Malawi, 30% ở
Ghana, 23% ở Uganda và 15% ở Burkina Faso. Nghiên cứu của Ott (2010) thấy
rằng nam VTN chủ động hơn nữ về QHTD, gợi ý các chương trình can thiệp về
TD, SKSS tăng cường hơn với nam VTN.
Nghiên cứu ở một số nước Châu Á, Châu Phi (2002) thấy tỷ lệ QHTD trước
hôn nhân cao: 23% (Triều tiên) 49,5% (Philippines), 81,4% (Thái Lan) và 14,8%
(Việt Nam), 71% (Ni-Giê-Ria), phản ánh nhu cầu từ vấn về TD an toàn và dịch vụ
CSSKSS thích hợp cho thanh niên và VTN ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ
QHTD trong 3 tháng trước điều tra ở VTN học sinh THPT Trung Quốc (2009) là
4,5% và 1,8%. Nghiên cứu ở Iran (2006) với VTN 15-18 tuổi thấy 28% VTN đã

thấy rằng 65% VTN có thai là ở đô thị, 73% là chưa kết hôn, 62% là QHTD lần
đầu trước 15 tuổi, BPTT được sử dụng phổ biến là xuất tinh ngoài (49%) và BCS
(28,5%). Quyết định nạo phá thai từ nữ (65%) hoặc cả hai (73%). Bố mẹ ít khi biết
được VTN có thai hoặc nạo phá thai. Nghiên cứu ở Đan Mạch (2009) thấy 43%
VTN biết đúng thời điểm dễ thụ thai nhất trong chu kì kinh nguyệt, 64% VTN biết
đúng tuổi thai có thể nạo, hút và nữ có kiến thức đúng cao hơn nam.
Nghiên cứu của Brown (2005) cho thấy có thai và tai biến liên quan mang
thai là nguyên nhân hàng đầu về tử vong và bệnh tật liên quan trong phụ nữ trẻ ở
các nước đang phát triển. Một số nghiên cứu ở Ghana, Kenya, Zimbabue,
Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Philippines, Bolivia, Brazil, Columbia, Mexico,
Pháp, Nhật bản và Mỹ thấy hậu quả mang thai ở VTN ảnh hưởng đến học vấn, tình
trạng kinh tế xã hội, sức khoẻ cho mẹ và con.
• Sử dụng biện pháp tránh thai
Vialard và cộng sự (2005), Aruda (2011) thấy rằng hầu hết VTN không chủ
động tìm các BPTT trừ khi họ lo lắng về sự mang thai hoặc đã có QHTD một số
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
7
Khoá luận tốt nghiệp
lần mà chưa dùng BPTT. Sử dụng BPTT hay không có thể do bạn tình, sợ có thai,
hay do cha mẹ muốn bảo vệ con gái khỏi có thai, hoặc để điều hoà kinh nguyệt.
VTN sử dụng BCS không thường xuyên trong QHTD với bạn tình thường xuyên là
do niềm tin không cần sử dụng, cam kết tương lai, có quan niệm chung, phong tục
tập quán, mức độ khoái cảm và tình yêu. Nữ VTN có kiến thức tốt hơn nam về
BCS, ít ảnh hưởng bạn đồng lứa hơn, nhận thức nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn,
tự tin hơn. Nhưng nữ lại ít quyết định sử dụng BCS hơn trong QHTD do nam giới
hoặc động lực trong mối quan hệ của họ. Nữ VTN có QHTD trước tuổi 17 ít sử
BPTT hơn. VTN có QHTD không sử dụng BPTT thường là xuất thân từ các gia
đình nhiều thành viên, muốn có con, và xuất thân từ tầng lớp xã hội thấp hơn.

xã hội.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
• Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam nói chung
Mặc dù SKSS VTN là chủ đề mới được quan tâm ở nước ta song cũng đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này.
“Báo cáo kết quả cuộc khảo sát tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về
sức khoẻ sinh sản tuổi vị thành niên” do Khuất Thu Hồng thực hiện theo yêu cầu
của UNFPA và sở Giáo dục Khánh Hoà cũng nằm trong số đó. Đây là một nghiên
cứu khá hoàn chỉnh. Cuộc khảo sát được thực hiện tại 6 trường phổ thông cấp II và
cấp III. Đối tượng là học sinh lớp 8 và 11 (360 em), 350 cha mẹ của học sinh lớp 8
và 11, 60 giáo viên bộ môn đã từng tham gia giảng dạy GDGT và SKSS và đại diện
ban giám hiệu, GVCN và các GV phụ trách đoàn đội. Kết quả thu được đã cung
cấp những thông tin cơ bản về kiến thức, thái độ, thực trạng và hành vị liên quan
đến SKSS của một bộ phận HS, phụ huynh và của GV ở Khánh Hoà.
Tháng 5/1995, John Chalker đã thực hiện nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ
và hành vi của thanh thiếu niên về DS-KHHGĐ, phòng chống AIDS và các mô
hình câu lạc bộ thanh niên” tại Nghệ An và Hà Nội. Mẫu nghiên cứu gồm 271
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
9
Khoá luận tốt nghiệp
người, trong đó độ tuổi từ 15-21 chiếm 27,3%. Kết quả cho thấy hầu hết thanh
thiếu niên tán thành mô hình gia đình 1-2 con. Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn giữa
kiến thức và hành vi. Hành vi thực hiện các BPTT của thanh thiếu niên còn hạn
chế. Quan niệm thích con trai vẫn tồn tại trong gần đại đa số mẫu. 80% người được
hỏi không biết gì về tình trạng HIV/AIDS ở khu vực mình sống, gồm cả những
người đang sống ở Hà Nội. Hai loại mô hình câu lạc bộ “ thanh niên chưa lập gia
đình” và “các cặp vợ chồng” được nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ.
Đề tài nghiên cứu về: “Sức khoẻ vị thành niên ở Việt Nam” do chương trình

chưa có gia đình có QHTD thấp. Mặc dù, biện pháp BCS được mọi người lựa chọn
nhiều hơn cả nhưng đáng chú ý là chỉ có 80,6% cho là phải sử dụng BCS khi quan
hệ với gái bán dâm. Vẫn còn một tỷ lệ nhỏ (10%) cho rằng nguy cơ nhiễm HIV từ
ôm, hôn nhau, ăn chung bát đĩa, bắt tay, dùng chung nhà vệ sinh.
Một nghiên cứu nữa về “Khảo sát đánh giá về kiến thức, thái độ và thực
hành của thanh thiếu niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh
sản” của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự. Nghiên cứu này được tiến hành tại 20
xã/phường thuộc Hải Phòng với đối tượng thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi. Theo kết
quả nghiên cứu, nhìn chung, nhận thức của thanh thiếu niên vẫn chưa đầy đủ, vẫn
còn thiếu hụt những kiến thức về hiểu biết về sinh lý, BPTT, QHTD, các
LTQĐTD.
Nghiên cứu của Barbara S.Mensch, Đặng Nguyên Anh, Wesley H.Clark: “Vị
thành niên và biến đổi xã hội ở Việt Nam”, được tiến hành tại 19 xã và 5 phường
của 16 huyện thuộc 6 tỉnh (Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Quảng Nam- Đà Nẵng,
tp. Hồ Chí Minh và Kiên Giang). Nội dung nghiên cứu này tuy có hơi khác so với
những nghiên cứu trên nhưng chủ đề chính mà đề tài này cung cấp là: giáo dục học
đường, sử dụng thời gian và hoạt động sống; việc làm và thái độ xã hội; những vấn
đề di cư của VTN; dậy thì và quan hệ khác giới, sử dụng thuốc tránh thai và kiểm
soát sinh đẻ; hôn nhân và sinh đẻ; vai trò bình đẳng giới; kiến thức sức khoẻ, SKSS
của VTN.
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
11
Khoá luận tốt nghiệp
Nhìn chung, chủ đề chung xuyên suốt các tài liệu này là về vấn đề thực trạng
nhận thức, thái độ, hành vi của vị thành niên đối với sức khoẻ sinh sản. Những nội
dung thường được đề cập đến là tình bạn, tình yêu, TD, QHTD, sử dụng các BPTT,
có thai sớm và nạo hút thai trong lứa tuổi VTN; nhận thức về HIV/AIDS. Bên cạnh
đó, nội dung về các tệ nạn xã hội cũng được nghiên cứu.

QHTD trước hôn nhân nhưng tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định có QHTD
trước hôn nhân hay không. Các em đều cho rằng cần được giáo dục về giới. Cha
mẹ và thầy cô giáo là những nhà GDTD thích hợp nhất…
Chưa có bất cứ một nghiên cứu cụ thể nào về đánh giá thực trạng hiểu biết,
thía độ, hành vi của VTN liên quan đến SKSS tại bất kì địa phương nào của tỉnh
Ninh Bình nói riêng
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. Đặc điểm tâm, sinh lí của HS THPT
Tuổi đầu thanh niên (14 - 18 tuổi) là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt
thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người
lớn. Đối với các em, đây là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành.
Sự khác biệt cơ bản của lứa tuổi VTN với các em ở lứa tuổi khác là sự phát triển
mạnh mẽ, thiếu cân đối giữa các mặt: cơ thể, trí tuệ, tâm sinh lý [8].
Sự biến đổi về tâm sinh lí làm cho lứa tuổi VTN vừa là “trẻ con”, vừa là
“người lớn” là sự phát triển đối lập nhưng thống nhất. Do tác động mạnh của
hoocmon, cơ thể phát triển mạnh, nhanh nhưng chưa được hài hoà giữa các cơ
quan, bộ phận.
Cơ tim phát triển đột xuất, tim hoạt động mạnh, nhanh nhưng vẫn có thể
thiếu máu cục bộ gây nên chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi. Sự hưng phấn của vỏ não
nhiều khi quá mức không được ức chế gây cho các em không tự làm chủ được
mình, biểu hiện ở tính cách bất thường khi thì trầm ngâm khi thì cảm xúc mãnh liệt
(ở nữ), hoặc có phản ứng vô cớ, có hành vi bạo lực (ở nam). Các em còn trẻ con
hồn nhiên nhưng đã bắt đầu có ý thức về “cái tôi”, muốn tự khẳng định mình,
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
13
Khoá luận tốt nghiệp
khẳng định nhân cách của mình. Đây cũng là thời kỳ các em hình thành cách sống,
cách nghĩ. Các em nghĩ mình đã lớn và mong muốn người lớn tôn trọng nhân cách,

hội thuận lợi, chủ động trò chuyện với con mình, tạo niềm tin và sự cảm thông với
chúng để giúp chúng tránh được việc hoạt động TD bừa bãi, chuẩn bị cho một cuộc
sống TD lành mạnh khi bước vào cuộc sống hôn nhân.
Ở lứa tuổi này, hoàn cảnh xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tình
cảm của các em.
Tóm lại, thời kì VTN được đặc trưng bởi sự phát triển rất nhanh cả về trí tuệ
và thể lực, thời kì này không dài nhưng lại có nhiều biến động về tâm lí và sinh lí.
Các hiện tượng tâm lí trong giai đoạn này có đặc điểm biến động nhanh, mạnh, có
tình trạng mất cân đối của hiện tượng tâm lí. Tuổi VTN thường có những hành vi,
những thử nghiệm biểu hiện sự hào phóng, có khi có nguy cơ gây hại cho bản thân
và xã hội. Đây cũng là lứa tuổi đang phát triển hình thành nhân cách, nhiều yếu tố
tâm lí đang được hình thành vững chắc, quan điểm sống và thế giới quan chưa rõ
ràng đặc trưng cơ bản là sự mâu thuẫn trong nội dung tâm lí giữa một bên là tính
chất quá độ không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn với một bên là
ý thức về bản thân phát triển mạnh mẽ. Mặt khác, ở độ tuổi này VTN chưa được
trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS, làm mẹ an toàn nên có nhiều tai biến sản khoa
trong quá trình sinh đẻ vì vậy nếu mang thai và sinh con ở độ tuổi này sẽ gây ảnh
hưởng không tốt đến quá trình phát triển theo quy luật tự nhiên và ảnh hưởng rất
lớn đến sức khoẻ của người mẹ. Từ đó quá trình mang thai sẽ có ảnh hưởng khó
lường cho thai nhi, có nhiều tai biến trong quá trình mang thai và khi sinh. Người
mẹ thiếu kiến thức về chăm sóc và nuôi dạy con làm ảnh hưởng đến chất lượng dân
số. Vì vậy cần có sự có sự nỗ lực của bản thân VTN, sự quan tâm, định hướng của
nhà trường, gia đình và xã hội để VTN phát triển nhân cách đúng hướng, tránh các
sai lệch không đáng có. Cần có giáo dục về giới tính, về SKSS, về hôn nhân gia
đình, về tránh thai an toàn… tạo điều kiện cho các em vượt qua giai đoạn khủng
hoảng của tuổi dậy thì để trở thành người lớn với đúng nghĩa của nó.
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
15

Khoá luận tốt nghiệp
• Nội dung của SKSS
Bản kế hoạch hành động ICPD sau Cairo của Quỹ dân số Liên hiệp quốc mô
tả SKSS với sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau bao gồm:
- Làm mẹ an toàn
- Kế hoạch hoá gia đình
- Sức khoẻ TD
- Nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh LTQĐTD
- Phá thai
- Vô sinh
Tại Việt Nam, SKSS được chi tiết hoá thành 10 nội dung trong chiến lược
quốc gia về SKSS 2001-2010 như sau:
* Làm mẹ an toàn
Làm mẹ an toàn là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho
cả người mẹ và thai nhi (cũng như trẻ sơ sinh); mục đích là giảm tỉ lệ tử vong và
bệnh tật ngay từ khi người phụ nữ mang thai, trong khi sinh và suốt trong thời kì
hậu sản (42 ngày sau đẻ). Chìa khoá của làm mẹ an toàn là KHHGĐ, chăm sóc
người mẹ trước, trong và sau khi sinh.
* Kế hoạch hoá gia đình
- Sử dụng tốt và rộng rãi và đa dạng các BPTT.
- Mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con dù trai hay gái.
- Khoảng cách sinh giữa các lần sinh con từ 3 đến 5 năm.
- Tuổi đẻ lần đầu là 22, lần cuối là dưới 35. Không sinh con đầu lòng trước 20
tuổi và con cuối cùng sau 35 tuổi.
- Vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ.
- Lợi ích của việc thực hiện tốt công tác KHHGĐ khống chế sự gia tăng dân số,
giảm tai biến sản khoa, đảm bảo sức khoẻ phụ nữ, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học

2
Sinh học
18
Khoá luận tốt nghiệp
- Vệ sinh sau đẻ, sẩy, phá thai.
- Phòng và điều trị sớm những bệnh viêm nhiễm đường sinh sản cho cả nam và
nữ.
* Phòng các bệnh LTQĐTD
- Cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là các đường lây truyền của các bệnh
LTQĐTD (bao gồm cả HIV/AIDS) và hậu quả của các bệnh LTQĐTD.
- Không dùng chung các dụng cụ bị nhiễm dịch cơ thể của người khác.
- Sống thuỷ chung một vợ một chồng.
- Sử dụng rộng rãi và đúng cách BCS.
* Phòng ung thư vú và ung thư sinh dục
- Tự khám vú hàng ngày, nếu đau vú hoặc tự sờ thấy hay nghi ngờ có khối u
phải đi khám ngay.
- Ít nhất 6 tháng nên đi khám phụ khoa một lần, bao gồm cả khám vú. Xét
nghiệm tế bào dịch âm đạo, cổ tử cung để phát hiện ung thư cổ tử cung. Khám phụ
khoa để phát hiện các khối u sinh dục.
- Tránh và hạn chế nhiễm khuẩn đường sinh sản.
- Phải điều trị sớm và tích cực những viêm nhiễm đường sinh sản.
- Khám và chẩn đoán sớm ung thư tuyến tiền liệt.
* Vô sinh
- Tránh những nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở cả nam lẫn nữ, không để bị
nhiễm khuẩn đường tiết niệu sinh dục.
- Vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ, đúng cách.
- Phòng và điều trị sớm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và LTQĐTD.
- Điều trị sớm những trường hợp bị rong kinh, nhất là ở những VTN nữ.
* Sức khoẻ về TD và giáo dục về TD
- Giáo dục về sức khoẻ TD, TD an toàn và lành mạnh đặc biệt trong nhóm tuổi

đề QHTD sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn. VTN QHTD sớm là vấn đề xã hội
của nhiều quốc gia trên thế giới. Do tác động của nhiều yếu tố: đô thị hoá, phim
ảnh, phương tiện thông tin… và trào lưu xã hội làm cho tỉ lệ VTN có hoạt động TD
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
20
Khoá luận tốt nghiệp
sớm ngày càng tăng trên toàn thế giới, trong khi đó hiểu biết về thời điểm có thai
của VTN rất thấp. Vấn đề cần quan tâm cùng với việc QHTD sớm và sự thiếu hiểu
biết của VTN về các bệnh LTQĐTD và các BPTT. Một nghiên cứu ở Nigeria cho
thấy 80% nữ VTN dưới 19 tuổi được hỏi đã từng có QHTD và một nghiên cứu
khác nhận được quan niệm của các đối tượng về các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS
là không thể tránh được [5].
* Những thách thức về SKSS trên toàn thế giới
Vấn đề thai nghén, sinh đẻ và sức khoẻ trẻ sơ sinh: Hàng năm khoảng 8 triệu
trong số 210 triệu phụ nữ có thai bị các biến chứng liên quan đến thai nghén đe doạ
đến cuộc sống của họ, nhiều trường hợp bị tàn phế thậm chí cả tử vong. Năm 2000,
có khoảng 529.000 bà mẹ chết trong khi mang thai và trong khi sinh mà nguyên
nhân có thể phòng tránh được nếu quan tâm hơn về kiến thức CSSKSS cho các bà
mẹ. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong mẹ đã thay đổi theo chiều hướng tích cực trong những
năm gần đây do làm tốt việc chăm sóc SKSS.
Vấn đề KHHGĐ: Việc sử dụng các BPTT đã tăng ổn định ở các nước phát
triển và các nước đang phát triển. Một số nghiên cứu cũng cho biết hoạt động TD
của VTN và người lớn chưa xây dựng gia đình cũng chưa được đáp ứng nhu cầu về
phương tiện tránh thai, khoảng 80 triệu phụ nữ hàng năm có thai ngoài ý muốn,
nhiều trường hợp trong số này có thai do không thành công trong sử dụng BPTT
[5].
Nạo thai không an toàn: Hàng năm có khoảng 19 triệu trường hợp phá thai
không an toàn, trong đó có khoảng 40% ở độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi. Việc nạo phá

lồng ghép với dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ để vận động đối tượng thực hiện 3 gói
dịch vụ: KHHGĐ, làm mẹ an toàn và phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản.
Các đợt chiến dịch hàng năm đã vận động được trên 70% các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ thực hiện các BPTT hiện đại góp phần quan trọng để cả nước có tỷ
suất sinh giảm từ 3,8 con ( năm 1989) xuống còn 1,92 con ( năm 2006) [13].
Theo tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước triển khai các
chương trình CSSKSS sớm và có hiệu quả. Bao gồm các chương trình Y tế Quốc
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
22
Khoá luận tốt nghiệp
gia như: chương trình làm mẹ an toàn, chương trình DS/KHHGĐ, chương trình
phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp… đều được triển
khai có hiệu quả, sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, trong những năm qua, chương trình DS/KHHGĐ và CSSKSS
mới chỉ thành công ở vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển. Những vùng
nghèo, vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ lệ sử dụng các BPTT ở
những vùng này còn thấp chỉ đạt 60%, có tới 56,3% phụ nữ có thai chưa được
khám lần nào trong suốt thời kì mang thai và chỉ có 42% sản phụ được các nhân
viên y tế chăm sóc khi sinh nở [13].
* Công tác CSSKSS hiện nay đang đứng trước những thách thức;
Tỷ lệ tử vong do thai sản giảm từ 400/100.000 người đẻ con sống ở thập kỉ
50 giảm xuống còn 200/100.000 trẻ đẻ sống ở thập kỉ 80, đến thập kỉ 90 giảm
xuống còn 100/100.000 trẻ đẻ sống. Theo ước tính ở nước ta có từ 2.200 đến 2.800
bà mẹ tử vong hàng năm, trong khi 90% các trường hợp tử vong mẹ có thể tránh
được nếu như làm tốt công tác quản lý thai nghén, trang bị đầy đủ kiến thức cho
các bà mẹ và tiếp cận tốt với các dịch vụ y tế [13].
Cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, đội ngũ cán bộ còn thiếu ở tuyến xã,
hiện nay cả nước còn gần 30% số xã chưa có nữ hộ sinh và y sĩ sản nhi, việc quản

cho kết quả: Khoảng 1/3 số VTN không biết một dấu hiệu nào khi dậy thì và không
hiểu biết về QHTD [13].
Một thách thức lớn trong việc chăm sóc sức khoẻ VTN ở nước ta hiện nay là
vấn đề chưa được nhận thức đầy đủ, chưa đúng mức về SKSS VTN của toàn xã
hội. Nhiều nhà lãnh đạo chính quyền và nhà hoạch định chính sách vẫn coi vấn đề
sức khoẻ, SKSS VTN chỉ thuần tuý là vấn đề xã hội, liên quan đến tập quán, lối
sống. Nhận thức về SKSS VTN của các bậc cha mẹ còn nhiều lệch lạc, phong kiến,
coi VTN là trẻ con, chưa có sự trao đổi cởi mở, bình đẳng và hướng dẫn cần thiết
cho VTN.
Đinh Thị Thanh Nga- D
2
Sinh học
24
Khoá luận tốt nghiệp
1.3.3. Thực trạng CSSKSS của tỉnh Ninh Bình
Công tác dân số trong những năm gần đây ở Ninh Bình đạt được những kết
quả rất đáng khích lệ theo hướng từng bước nâng cao chất lượng dân số, thông qua
việc cung cấp hiệu quả, kịp thời, đa dạng các gói dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ, đẩy
mạnh tuyên truyền, vận động để mọi người dân thực hiện gia đình có từ 1- 2 con, là
tiền đề xây dựng mô hình gia đình bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ, góp phần quan
trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Năm 2011 là năm đầu tiên triển khai thực hiện các mục tiêu của chiến lược
Dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020, công tác CSSKSS đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em như tỷ
lệ phụ nữ có thai được quản lý thai, số lần khám thai trung bình, tỷ lệ phụ nữ đẻ có
cán bộ được đào tạo hỗ trợ, tỷ lệ bà mẹ được khám sau đẻ tại nhà đã đều đạt và đạt
cao hơn so với năm 2010. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi nhẹ cân năm
2011 còn 16,8%, giảm 0,7% so với năm 2010, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao. Mạng
lưới dịch vụ CSSKSS tiếp tục được củng cố và tăng cường năng lực [7].
Năm 2012, Công tác CSSKSS của cả nước đã tập trung thực hiện bảy nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status