Sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Nghiên cứu trường hợp xã Cẩm Ân - huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
NGUYỄN HOÀNG NGA Đề Tài:
SỰ THAM GIA CỦA NAM GIỚI VÙNG CAO TRONG
VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp xã Cẩm Ân - Huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái) LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG BÁ THỊNH

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 13
1. Cơ sở lí luận 13
1.1. Phƣơng pháp luận Mac – xit 13
1.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về công tác DS -
KHHGĐ.15
1.3. Các lí thuyết nghiên cứu 19
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 29
3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và đối tƣợng khảo sát 33
3.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 33
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
3
3.2. Đối tƣợng khảo sát 35
4. Các khái niệm công cụ 36
Chương 2: Các khía cạnh về sự tham gia của nam giới vùng cao trong
việc thực hiện KHHGĐ 39
I. Thực trạng sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ 39
1. Vài nét về tình hình sử dụng các BPTT, thực hiện KHHGĐ trong cả
nƣớc hiện nay 39
2. Nhận thức của nam giới về chủ trƣơng, chính sách, chƣơng trình
KHHGĐ và thái độ của họ đối với việc thực hiện KHHGĐ 40
2.1. Nhận thức của nam giới về chủ trƣơng, chính sách, chƣơng trình
KHHGĐ40
2.2. Thái độ của nam giới đối với việc thực hiện KHHGĐ 49
3. Sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ 55
3.1. Ngƣời quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh con
trong gia đình 57
3.2. Ngƣời quyết định việc lựa chọn và sử dụng BPTT 62
3.3. Nam giới với việc lựa chọn và sử dụng BPTT 68
3.3.1. Lựa chọn và sử dụng BPTT 68

Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Biện pháp tránh thai : BPTT
Cao đẳng/đại học/trung cấp chuyên nghiệp : CĐ/ĐH/TCCN
Dân số - kế hoạch hoá gia đình : DS - KHHGĐ
Kế hoạch hoá gia đình : KHHGĐ
Kinh tế - xã hội : KT - XH
Sức khỏe sinh sản : SKSS
Trung học cơ sở : THCS
Trung học phổ thông : THPT


triển KT - XH của đất nƣớc. Chính vì thế, mục tiêu tổng quát của chƣơng
trình dân số quốc gia thời kỳ 2001 - 2010 là: "Thực hiện gia đình ít con,
khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống
ấm no, hạnh phúc. Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần vào
sự phát triển nhanh và bền vững trong đất nước”[21].
Để có thể thực hiện đƣợc những mục tiêu của chƣơng trình quốc gia
nhƣ đã đề cập ở trên thì kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) đóng một vai trò
rất quan trọng bởi thực hiện "KHHGĐ chính là điều chỉnh mức sinh giảm
tỷ lệ gia tăng dân số góp phần nâng cao chất lượng dân số tiến tới bảo đảm
một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc"[29].
Hiện nay, nƣớc ta đƣợc xếp vào một trong những nƣớc đông dân trên
thế giới với khoảng 83 triệu ngƣời (dân số Việt Nam năm 2006 là 83, 892,
2 ngàn người) [33,15]. Mặc dù trong thập kỷ qua, chiến lƣợc DS - KHHGĐ
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
7
của Việt Nam đã có nhiều thành tựu nổi bật trong việc làm giảm mức sinh
và đang tiến đến gần mức sinh thay thế. Song kết quả giảm sinh này vẫn
chƣa thực sự vững chắc và đồng đều giữa các vùng. Vì vậy đẩy mạnh thực
hiện KHHGĐ giảm mức sinh tiến tới ổn định quy mô dân số là công việc
vô cùng cần thiết. Có thể nói rằng, nhận đƣợc sự quan tâm sâu sắc của các
cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể và sự hƣởng ứng mạnh mẽ của
nhân dân, chính sách DS - KHHGĐ ở nƣớc ta đã thực sự đi vào cuộc sống
và đạt đƣợc những kết quả rất đáng khích lệ; quy mô gia đình có một hoặc
hai con đƣợc chấp nhận ngày càng rộng rãi. "Số con bình quân của một
người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 2,25 con năm 2001 đến 2,11
con năm 2005. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai
(BPTT) đặc biệt là các BPTT hiện đại tiếp tục tăng từ 61,1% năm 2001 lên
65,7% năm 2005" [34,17]. Những thành tựu của công tác DS - KHHGĐ ở

hành vi sinh sản và tình dục trong đó có KHHGĐ.
Chiến lƣợc dân số của nƣớc ta giai đoạn 2001 - 2010 cũng xác định:
"Cần phải xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội để nâng cao vị thế
và quyền năng cho người phụ nữ. Khuyến khích nam giới chia sẻ trách
nhiệm trong chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình. Việc thu
hút nam giới tham gia vào các vấn đề sức khỏe là hết sức quan trọng. Do
vậy, công tác tuyên truyền vận động phải làm như thế nào để nam giới
cùng với vợ trao đổi và gánh vác trách nhiệm trong quyết định về số con,
về thời điểm sinh và khoảng cách giữa các lần sinh, cùng nhau quyết định
lựa chọn và thực hiện những biện pháp thích hợp và chia sẻ trách nhiệm
trong việc chăm sóc nuôi dạy con cái"[21].
Các nhà hoạch định chính sách dân số hiện nay đang kiểm định các
chƣơng trình lôi cuốn nam giới tham gia vào các quyết định trong
KHHGĐ. Các chƣơng trình thấy rằng, một bạn tình tích cực sẽ dễ dàng cho
phụ nữ sử dụng các BPTT, phòng chống bệnh suy giảm miễn dịch (AIDS)
và sự gia tăng dần tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục hay cụ thể
nhất có thai ngoài ý muốn từ đó dẫn đến làm cho hoạt động tình dục trở nên
an toàn.
Có thể thấy các chƣơng trình hành động ở trên cho chúng ta thấy
rằng sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ sẽ thể hiện
đƣợc hành vi tình dục có trách nhiệm của nam giới tạo điều kiện thuận lợi
để ngƣời phụ nữ chăm sóc SKSS cho mình; sự quan tâm, chia sẻ trách
nhiệm với ngƣời phụ nữ trong vai trò là những ngƣời chồng và với sự tham
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
9
gia có trách nhiệm trong việc thực hiện KHHGĐ, ngƣời nam giới cũng đạt
đƣợc SKSS của mình. Do vậy, lôi cuốn sự tham gia của nam giới vào việc
thực hiện KHHGĐ là vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Nhƣ vậy là nam giới đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện

nhân tố ảnh hƣởng đến vấn đề này và hơn cả là mong muốn thúc đẩy nam
giới tham gia tích cực hơn, chia sẻ trách nhiệm thực hiện KHHGĐ với
ngƣời phụ nữ.
- Qua đề tài nghiên cứu, tôi muốn khẳng định hơn nữa những lí
thuyết xã hội học đã đƣợc học trong nhà trƣờng nhƣ lí thuyết hành động xã
hội và lý thuyết vai trò xã hội.
- Những kết quả trong báo cáo này sẽ phần nào gợi mở cho những
nghiên cứu tiếp theo về vấn đề DS - KHHGĐ.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ cho chúng ta thấy đƣợc một số nét khái quát
về sự tham gia thực hiện KHHGĐ của nam giới vùng cao. Ngoài ra, đề tài
của tôi còn có ý nghĩa thực tiễn là tìm hiểu những nhân tố có ảnh hƣởng
đến sự tham gia thực hiện KHHGĐ của nam giới vùng cao (bao gồm cả
nhân tố có ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực) để từ đó với việc phân tích
những thông tin thu đƣợc sẽ giúp cho các nhà quản lí, những nhà hoạch
định chính sách có cái nhìn khoa học và thực chứng về vấn đề này, đƣa ra
đƣợc những giải pháp cần thiết và hợp lý, huy động đƣợc sự tham gia nhiệt
tình của nam giới vùng cao vào việc thực hiện KHHGĐ.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc
thực hiện KHHGĐ hiện nay.
- Tìm hiểu một số nhân tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của nam giới
vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ.
- Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm thu hút nam giới
vùng cao tham gia tích cực hơn vào việc thực hiện KHHGĐ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp cho việc nghiên cứu
thực trạng sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ.
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

* Phương pháp phân tích tài liệu: bao gồm việc phân tích các công
trình thực nghiệm, kết quả của những đề tài nghiên cứu có liên quan, số
liệu thống kê… phục vụ cho cuộc nghiên cứu.
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
12
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
- Dƣới tác động của các chủ trƣơng, chính sách về DS - KHHGĐ và
theo đó là rất nhiều hình thức tuyên truyền, vận động nhằm thu hút sự tham
gia của nam giới, nam giới vùng cao tham gia ngày càng tích cực hơn vào
việc thực hiện KHHGĐ.
- Các nhân tố chủ trƣơng chính sách, truyền thông đại chúng, gia
đình, cộng đồng, tâm lý cá nhân là những nhân tố cơ bản ảnh hƣởng đến
sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ (bao gồm
cả các nhân tố có tính chất thúc đẩy và các nhân tố có tính chất cản trở).
Trong các nhân tố, nhân tố làm cho nam giới ít tham gia vào việc thực hiện
KHHGĐ nhất đó là nhân tố tâm lý cá nhân.
- Nam giới vùng cao tham gia tích cực vào việc thực hiện KHHGĐ
là yếu tố quan trọng đảm bảo thực hiện bình đẳng giới, tiến bộ và công
bằng xã hội cho vùng cao.
6.2. Sơ đồ khung lý thuyết
học nói chung và xã hội học nói riêng. Vận dụng tổng hợp những lí luận
này tôi tuân theo các nguyên tắc sau:
 Tuân thủ nguyên tắc lịch sử cụ thể: nghiên cứu vấn đề trong điều
kiện lịch sử cụ thể về không gian, thời gian, vùng, miền, khu vực bởi trên
thực tế mọi sự vật đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định. Tuân
thủ nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh
lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và phát triển của
nó, tới bối cảnh hiện thực - cả khách quan lẫn chủ quan. Khi xem xét và
nhìn nhận một vấn đề, cũng cần phải đặt nó trong những mối liên hệ nhƣ
vậy.
 Xem xét các sự vật trong thế giới, trƣớc hết, phải nhìn nhận trong
mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác
nhau của chính sự vật đó. Tiếp theo, phải nhìn nhận các sự vật trong mối
liên hệ qua lại với nhau (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Và, phải xem xét sự
vật trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ngƣời. Các loại liên hệ
này có vai trò khác nhau đối với quá trình vận động và phát triển của các sự
vật và hiện tƣợng, nhờ đó giúp cho chúng ta tới chỗ khái quát để rút ra bản
chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật.
 Xem xét các sự vật phải hƣớng tới cái bản chất, không hƣớng tới cái
ngẫu nhiên, bất bình thƣờng. Vì bản chất là cái tất nhiên, tƣơng đối ổn định
ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Còn hiện
tƣợng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và
biến đổi nhanh hơn so với bản thân. Vì vậy, khi nhìn nhận sự vật, để có thể
nắm bắt và hiểu biết đầy đủ, đúng đắn về sự vật, không nên dừng lại ở hiện
tƣợng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó. Bản chất không tồn tại dƣới
dạng thuần tuý mà bao giờ cũng bộc lộ ra bên ngoài thông qua các hiện
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
14
tƣợng vì thế chỉ có thể tìm ra cái bản chất thông qua nghiên cứu các hiện

ảnh hƣởng, xoáy sâu vào bản chất của vấn đề sẽ lí giải đƣợc sự tham gia
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
15
của nam giới: có hay không tham gia? Tham gia tích cực hay không tích
cực? Nhân tố nào làm cho nam giới ít tham gia vào việc thực hiện
KHHGĐ…Qua đó sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái quát về việc thực hiện
KHHGĐ của nam giới vùng cao, giúp chúng ta đƣa ra đƣợc những khuyến
nghị phù hợp.
1.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về công tác DS - KHHGĐ
Mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của mỗi một quốc gia
là nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho nhân dân. Chính vì vậy, Đảng và Nhà
nƣớc ta ngay từ khi thành lập đến nay, đã có nhiều biện pháp nhằm nâng
cao từng bƣớc đời sống của nhân dân đặc biệt là thông qua các chính sách
dân số và chính sách bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em.
Trong quá trình tìm hiểu các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và nhà
nƣớc về công tác DS - KHHGĐ cũng nhƣ tìm hiểu một số tài liệu liên
quan, tôi thấy các tác giả đã chia quá trình hình thành và phát triển của
chính sách dân số thành 4 giai đoạn. Trong 4 giai đoạn này, chúng ta đã
thấy Đảng và Nhà nƣớc quan tâm đến công tác DS - KHHGĐ cũng nhƣ
công tác DS - KHHGĐ của đồng bào các dân tộc thiểu số nhƣ thế nào khi
có rất nhiều chủ trƣơng, chính sách đƣợc ban hành.
- Giai đoạn từ 1960 đến 1975:
Đây là thời kì chiến tranh, đất nƣớc bị chia cắt làm 2 miền. Trong
giai đoạn này, các hoạt động dân số đƣợc đề cập lần đầu tiên đƣợc đề cập
vào năm 1961, thông qua Quyết định của Hội đồng Chính phủ về việc sinh
đẻ có hƣớng dẫn (Quyết định 216 - CP, ngày 26 tháng 12 năm 1961. Đến
năm 1963, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành chỉ thị 99 - TTg chính thức phát
động cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Năm 1970, Hội đồng Chính phủ
một lần nữa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc vận động sinh đẻ có kế

Ngày 12 tháng 8 năm 1981, Hội đồng Bộ trƣởng đã ra chỉ thị 29 -
HĐBT về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm 1981 -
1985. Trong chỉ thị nêu rõ: "Sinh đẻ ít, sinh đẻ thưa, nam nữ thanh niên đã
kết hôn thì vận động chậm sinh con đầu lòng. Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên đẻ
và đẻ thưa cách nhau 5 năm, người phụ nữ nên sinh đẻ khi cơ thể đã phát
triển hoàn thiện, tốt nhất từ 22 tuổi trở lên"[1,115]. Tuy nhiên, kết quả đạt
đƣợc vẫn không nhƣ mong muốn, tỷ lệ tăng dân số vẫn còn cao.
Đến năm 1981, năm đầu thực hiện Hiến pháp mới. Trong Hiến pháp
mới, điều 47 đã ghi rõ: " Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ trẻ em, vận
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
17
động sinh đẻ có kế hoạch". Toàn Đảng, toàn dân ta đã ra sức thi đua, phấn
đấu hoàn thành vƣợt mức các mục tiêu đề ra và cuộc vận động sinh đẻ có
kế hoạch cũng đƣợc đẩy lên một bƣớc mới.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, cuộc vận động sinh đẻ có kế
hoạch một lần nữa đƣợc nêu rõ: "Giảm tốc độ tăng dân số là nhiệm vụ có
tính chiến lược. Các cấp uỷ Đảng, cấp chính quyền, đoàn thể từ Trung
ương đến cơ sở phải coi đó là công việc thường xuyên, cấp bách trong
chương trình hoạt động của mình. Củng cố và tăng cường hoạt động của
cơ quan dân số và KHHGĐ, bảo đảm đủ kinh phí, phương tiện, cán bộ để
đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch"[1,115].
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trƣởng ban hành quyết định 161/HĐBT
về một số chính sách DS - KHHGĐ.
Trong quá trình vận động sinh đẻ có kế hoạch, rất nhiều địa phƣơng
cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết, nghị định nhƣ tại tỉnh Thái Bình đã có
Nghị quyết 12/NQ - TU ngày 16 tháng 3 năm 1981 về đẩy mạnh cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch trong những năm tới. Hay ngày 22 tháng 7 năm
1982, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên đã ban hành quyết định 647/QĐ - UB
về việc qui định tạm thời chế độ khuyến khích thực hiện sinh đẻ có kế hoạch

Sau khi Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng thông qua Nghị quyết về
chính sách DS - KHHGĐ, Thủ tƣớng ban hành Quyết định về việc phê
duyệt chiến lƣợc DS - KHHGĐ, trong đó nêu lên các phƣơng hƣớng cần
thực hiện đến năm 2000 (Quyết định 270/TTG ngày 3/6/1993). Chiến lƣợc
này triển khai theo hai giai đoạn:
a. Giai đoạn 1993 - 1995: Xây dựng các mô hình và chuẩn bị ngân sách
b. Giai đoạn 1996 - 2000: Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác
DS - KHHGĐ
- Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:
Đây là giai đoạn triển khai Chiến lƣợc dân số Việt Nam giai đoạn
2001 - 2010. Các văn bản khác có liên quan ra đời trong giai đoạn này đều
phục vụ cho mục tiêu của Chiến lƣợc này. Có thể kể đến một số văn bản
đƣợc ban hành nhƣ: Chiến lƣợc quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001
- 2010 của Bộ y tế, Chiến lƣợc Truyền thông Giáo dục thay đổi hành vi về
dân số, Pháp lệnh dân số 2003
Ngày 22 tháng 3 năm 2005, Nghị quyết số 47 - NQTW về tiếp tục
đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ của Bộ chính trị đƣợc
ban hành. Nghị quyết này tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện các
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
19
quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành TƢ
Đảng khoá VII về chính sách Dân số và KHHGĐ; phấn đấu sớm đạt đƣợc
mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bƣớc nâng cao chất lƣợng
dân số Việt nam. Toàn Đảng, toàn dân kiên trì thực hiện chủ trƣơng "mỗi cặp
vợ chồng chỉ có một đến hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt [4,653].
Mới đây, ngày 6 tháng 06 năm 2007, thay mặt Thủ tƣớng Chính
phủ, Phó Thủ tƣớng Thƣờng trực Nguyễn Sinh Hùng đã ký ban hành Chỉ thị
số 13/2007/CT - TTg về việc tăng cƣờng thực hiện Chƣơng trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47 - NQ/TƢ ngày 22 tháng 03 năm

hội xuất hiện ngay từ khi xã hội loài ngƣời đƣợc hình thành, nhu cầu hợp
tác để tồn tại và phát triển đã làm xuất hiện quan hệ tƣơng tác giữa các chủ
thể hành động; đến lƣợt mình, các hành động xã hội lại tạo ra kết quả là các
mối quan hệ cá nhân - cá nhân, cá nhân - xã hội, Không phải ngẫu nhiên
mà các cá nhân thực hiện hành động, ngƣợc lại, họ hành động nhằm đạt
đƣợc các mục đích riêng của bản thân và những mục đích chung.
Mặc dù mỗi nhà xã hội học trên đều tiếp cận hành động xã hội ở các
góc độ khác nhau, song họ đều thống nhất ở một số điểm:
 Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức
dù ở mức độ khác nhau, có nghĩa là chủ thể hành động luôn gắn
cho hành động một ý nghĩa chủ quan nhất định.
 Hành động xã hội có tính định hƣớng mục đích
 Hành động xã hội là hành động hƣớng tới ngƣời khác
Trên thực tế, không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều
là hành động xã hội. Những hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không
tính đến hành vi của ngƣời khác nhƣ việc hai ngƣời đi xe đạp vô tình va
quệt vào nhau trên đƣờng phố không phải hành động xã hội, hành động
giống nhau của các cá nhân trong một đám đông nhƣ hành động mọi ngƣời
cùng mặc áo mƣa khi đột nhiên trời đổ mƣa cũng không đƣợc coi là hành
động xã hội… Với những hành động nhƣ thế này, chúng ta thấy hầu nhƣ
không có sự tham gia của yếu tố ý thức mà đó chỉ là sự phản ứng một cách
tự nhiên trƣớc hoàn cảnh mà thôi. Chúng ta thực hiện hành động đó hoàn
toàn không có sự suy nghĩ. Thêm nữa, những hành động này thƣờng diễn ra
bất chấp ý chí hay mong muốn chủ quan của chúng ta. Các nhà xã hội học
gọi đây là hành động vật lí - bản năng.
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
21
Chúng ta cũng có thể so sánh hành động của loài vật với hành động
của con ngƣời. Chẳng hạn nhƣ, khi một con thú bị đói, nó sẽ ăn một cách

Chủ thể
Mục
đích
Công cụ phương
tiện
Động cơ
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
22
Mô hình trên đã cho thấy cấu trúc của hành động xã hội, những nhân
tố của hành động xã hội đƣợc đề cập đến trong mô hình này có mối quan hệ
nhân - quả khăng khít với nhau. Xem xét các nhân tố của hành động xã hội,
chúng ta có thể nhận thấy mỗi hành động xã hội của con ngƣời có “điểm
gốc” là nhu cầu, động cơ của chủ thể, và “điểm ngọn’ là mục đích cần đạt
đƣợc của chủ thể đó, tất nhiên, chu trình của hành động chịu sự chi phối
của yếu tố hoàn cảnh thực hiện hành động của chủ thể. Chúng ta hãy quay
trở lại ví dụ về một cá nhân khi bị đói, họ có nhu cầu là đƣợc ăn. Tuy
nhiên, nếu anh đang ở nơi mà anh ta chỉ có một mình, anh ta có thể sẽ ăn
nhanh hơn để đạt đích (đƣợc ăn no) nhanh hơn; ngƣợc lại, khi anh ta đang
ở trong một đám đông, anh ta sẽ lựa chọn cách ăn từ tốn hơn, vì hành động
của anh ta lúc này là định hƣớng vào đám đông nơi anh ta đang tham gia.
Điều này cho thấy là, hành động xã hội mà con ngƣời thực hiện
không phải là cách con ngƣời phản xạ trực tiếp đối với tác nhân kích thích;
mà ở đây, họ phản ứng qua các biểu trƣng có ý nghĩa, có nghĩa là họ phản
ứng một cách gián tiếp. Nói nhƣ G.H.Mead, con ngƣời tiếp nhận kích thích,
tƣ duy về tình huống hành động, đặt mình vào vị trí của đối tƣợng hành
động để dự đoán xu hƣớng hành động, từ đó, họ mới đƣa ra phản ứng trƣớc
kích thích. Những yếu tố này khiến cho hành động của con ngƣời mang
tính xã hội cao hơn (hành động hƣớng đến ngƣời khác), và do đó, tính khách
quan của hành động, tính định hƣớng về môi trƣờng hành động cũng đƣợc

hội vì vậy không thể không khẳng định rằng việc nam giới tham gia vào
thực hiện KHHGĐ không hƣớng tới những ngƣời khác đặt trong tƣơng tác
với chủ thể hành động.
1.3.2. Lý thuyết vai trò
Khái niệm vai trò ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi trong xã hội học
và tâm lý học xã hội. Khái niệm này xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Ngƣời
đầu tiên sử dụng khái niệm này là Ralph Linton, nhà nhân học văn hoá
ngƣời Mỹ. Ông đã sử dụng khái niệm "vai trò" và "vị thế" để nghiên cứu
cấu trúc bên trong của hệ thống xã hội, của mối quan hệ giữa nhân cách và
xã hội, và kết hợp chủ nghĩa chức năng với tiếp cận lịch sử để nghiên cứu
văn hoá [5,216]. Trong xã hội học, khái niệm "vai trò" đã xuất hiện trong
một số công trình nghiên cứu của Herbert Mead, Robert K.Merton và có
thể nói, khái niệm "vai trò" đƣợc dùng nhƣ một trong những yếu tố căn bản
để lý giải các quan hệ xã hội (giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và
nhóm, cá nhân và xã hội…). Vậy vai trò là gì?
Luận văn thạc sỹ Học viên: Nguyễn Hoàng Nga
Khoá: 2004 - 2007
24
Trong Từ điển xã hội học của G. Endruweit và G. Trommdorff thì
vai trò đƣợc hiểu nhƣ sau: "Vai trò là tập hợp những kỳ vọng ở trong một
xã hội gắn với hành vi của một người mang các địa vị nhất định" [2, 536].
Theo một cách nhìn nhận khác: "Một vai trò là một tập hợp các mong
đợi, các quyền, và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể" [3,212].
"Ralph Linton (1937) mô tả vai trò như sự diễn đạt động lực của một
địa vị. Mỗi địa vị bao gồm các quyền lợi và và nghĩa vụ khác nhau, nói
cách khác, những ai nắm giữ địa vị thường được nghĩ là phải hành xử theo
những cách cụ thể. Ralph Linton giải thích, trong khi cá nhân nắm giữ một
địa vị thì họ thực hiện một vai trò" [6,192]. Chẳng hạn nhƣ chúng ta kỳ
vọng tất cả các giảng viên sẽ chuyển tải đƣợc tất cả các kiến thức cho học
trò của mình hay tất cả cảnh sát sẽ hành động khi thấy một công dân bị đe

nếu không có sự hợp tác của nhóm xã hội mà anh ta tham gia. Thêm vào
đó, sự thực hiện vai trò đƣợc hoàn thành bởi sự tƣơng tác với tác nhân
khác. Các quyền của một tác nhân đồng thời cũng là những nghĩa vụ về vai
trò của đối tác của anh ta, do đó tất cả các vai trò đều có các quyền và các
nghĩa vụ. Thực hiện vai trò chính là những hành vi thực tế của một cá nhân
đang chiếm giữ một địa vị. Những sự mong đợi xác định hành vi của con
ngƣời đƣợc xem là phù hợp hay không phù hợp đối với ngƣời chiếm giữ
một địa vị bởi trong đời sống hiện thực, thƣờng tồn tại khoảng cách giữa
cái ngƣời ta sẽ làm và cái mà ngƣời ta thực sự làm. Thực tế chỉ ra, việc
thực hiện vai trò có thể rất dễ bị thay đổi.
Vận dụng lý thuyết vai trò vào trong đề tài của mình, có thể thấy
những điểm đáng chú ý nhƣ sau: Trƣớc hết, chúng ta thấy gia đình là một
trong những thiết chế quan trọng trong xã hội. Nó thực hiện những chức
năng quan trọng, thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội và góp phần duy
trì trật tự xã hội. Một trong những chức năng quan trọng trong gia đình
chúng ta không thể không nhắc tới đó là chức năng tái sinh sản. Thực hiện
chức năng này lẽ dĩ nhiên có sự tƣơng tác của cả ngƣời chồng và ngƣời vợ.
Tuy nhiên, trong đề tài của mình, cái mà tôi quan tâm không phải là các
cặp vợ chồng sẽ thực hiện chức năng tái sinh sản nhƣ thế nào mà đó là với
địa vị là ngƣời chồng, ngƣời chồng thể hiện vai trò của mình nhƣ thế nào
trong quan hệ với địa vị của ngƣời vợ trong việc thực hiện chức năng này.
Là một trong hai chủ thể quan trọng trong việc thực hiện chức năng
tái sinh sản thì với địa vị là một ngƣời chồng, xã hội mong đợi anh ta phải
thể hiện đƣợc vai trò ngƣời chồng của mình. Điều đó có nghĩa là anh ta
phải tham gia vào rất nhiều các quyết định quan trọng trong việc tái sinh

Trích đoạn Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status