ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ VIỆT NGA Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó
tới gia đình : \b nghiên cứu trường hợp ở
phường Kim Liên, quận Đống Đa Hà Nội
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội - 2005 1
MC LC
Phần 1: Mở đầu 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu 9
Phần 2: Phần nội dung chính 14
ch-ơng 1: cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 14
2.2.1. Nhu cầu về dịch vụ giúp việc tăng cao nh-ng khả năng cung cấp không
đủ 62
2.2.2 Hoạt động và sự đáp ứng của trung tâm môi giới 63
2.2.3. Hoạt động và sự đáp ứng của ng-ời giúp việc 66
3. tác động của dịch vụ giúp việc gia đình đến gia đình 68
2
3.1 Quan niệm về công việc gia đình 68
3.1.1. Công việc gia đình đ-ợc coi là công việc của giới nữ 68
3.1.2. Công việc gia đình đ-ợc trả l-ơng 70
3.2. Quỹ thời gian rỗi của ng-ời phụ nữ 72
3.3.1. Không nhận thức đúng đắn về nghề giúp việc dẫn tới không thoải mái
trong t- t-ởng 77
3.3.2. Mâu thuẫn về tiền công và công việc đảm nhiệm 81
3.3.3. Không tự do trong sinh hoạt 83
3.4. Địa vị ng-ời phụ nữ 84
3.4.1 Địa vị của bà chủ: 84
3.4.2. Địa vị của ng-ời làm giúp việc gia đình 86
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị 91
Phụ lục 1 96
Phụ lục 2 100
Phụ lục 3 122
Danh mục tài liệu tham khảo 123
đình đang ngày càng phát triển và trở thành mối quan tâm chung của rất nhiều
gia đình.
2
Tốc độ phát triển kinh tế cao kéo theo sự phân công lao động xã hội
ngày càng trở nên sâu sắc. Do sức ép của công việc, của sự chuyên môn hóa
sản xuất nên người lao động phải dành nhiều thời gian vào công việc, trao dồi
kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn và không ngừng học hỏi nâng cao trình
độ. Quỹ thời gian của người vợ và chồng dành cho nhau và cho con cái, họ
hàng bị thu hẹp. Vì thế, nhiều cặp vợ chồng có nhu cầu thuê người lao động
làm giúp việc gia đình.
Bên cạnh đó, xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập
của phụ nữ nông thôn nên tạo ra hiện tượng lao động nữ nhập cư vào thành
thị. Những người phụ nữ nông thôn tham gia vào dịch vụ giúp việc gia đình
và họ trở thành một phần của cuộc sống đô thị. Những mâu thuẫn và phiền
phức thường phát sinh trong qúa trình giao thao lối sống nông thôn và thành
thị vì thế tạo ra nhiều căng thẳng cho gia đình sử dụng dịch vụ và cho chính
người lao động.
Dịch vụ giúp việc gia đình trở nên phổ biến ở các thành phố lớn, ở
nhiều gia đình đô thị. Thực tế, nhu cầu tìm người giúp việc gia đình đang tăng
cao nhưng khả năng đáp ứng của loại hình dịch vụ trên không tương xứng cả
về chất lượng, số lượng và thiếu hụt các hình thức cung cấp thông tin trong
lĩnh vực này. Các trung tâm giới thiệu lao động giúp việc nhà không đảm bảo
về tư cách pháp nhân nên nhiều hiện tượng xung đột giữa người sử dụng lao
động và người lao động làm thuê giúp việc gia đình đang gia tăng và trở thành
vấn đề bức xúc của nhiều gia đình và xã hội.
Từ khi đổi mới đến nay, vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình và
xã hội được cải thiện đáng kể. Lực lượng lao động nữ, cán bộ khoa học kỹ
thuật nữ có mặt ngày càng tăng ở tất cả mọi ngành kinh tế - xã hội. Vai trò
của phụ nữ trong gia đình được khẳng định thể hiện trước tiên ở vai trò về
nhiên, thuê người giúp việc trong gia đình cũng mang lại một số phiền phức
cho nhiều gia đình và cho người lao động. Quan hệ cung cầu lao động làm
giúp việc gia đình hiện nay mang tính tự phát và không được quản lý chặt chẽ
bởi Nhà nước. Địa vị pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động
bị vi phạm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, phiền phức không được giải quyết thoả
4
đáng. Vì thế đề tài nghiên cứu này muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng dịch vụ
giúp việc gia đình và những tác động của nó tới sự phát triển gia đình.
2. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN.
2.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu “Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó tới gia
đình” có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận:
* Chúng ta đều biết rằng, xã hội học là khoa học về các sự kiện xã hội.
Muốn giải thích sự kiện xã hội này phải dùng những sự kiện xã hội khác. Để
giải thích những tác động của dịch vụ giúp việc gia đình tới gia đình bài viết
đã sử dụng các nhân tố: quan điểm về công việc gia đình, địa vị của người
phụ nữ, thời gian rỗi, sự phiền hà và an toàn của các thành viên gia đình nhằm
giải thích những tác động tích cực và tiêu cực của dịch vụ giúp việc tới gia
đình sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu, các sự kiện xã hội và các quá trình
xã hội luôn được phân tích trong mối quan hệ với các sự kiện và quá trình xã
hội khác tham gia quy định điều kiện và sự vận động của bản thân dịch vụ
giúp việc gia đình. Chính vì thế, đề tài khoa học này khẳng định tính đúng
đắn và ưu điểm mà lý luận xã hội học đã đưa ra.
* Việc sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình là tất yếu khách quan và phù
hợp với hoàn cảnh, điều kiện của kinh tế thị trường. Người giúp việc từ lâu đã
trở thành "người quan trọng", "người nhà" trong một số gia đình ở các thành
phố lớn. Những người làm thuê giúp việc đã đóng góp công sức vào việc nấu
ăn, dọn dẹp, chăm sóc trẻ đối với những gia đình ở thành phố. Dịch vụ giúp
việc gia đình có vai trò quan trọng trong việc cung cấp lao động thay thế cho
đình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.2.1. Mô tả và phân tích các loại hình dịch vụ giúp việc đang tồn tại,
vai trò của nó và nêu rõ cơ sở pháp lý của dịch vụ giúp việc gia đình.
3.2.2. Phân tích thông tin về nhu cầu của gia đình đối với dịch vụ giúp
việc gia đình.
6
3.2.3. Làm rõ thực trạng và phân tích những thông tin về cách thức hoạt
động và khả năng đáp ứng của các trung tâm môi giới dịch vụ gia đình ở Hà
Nội.
3.2.4. Phân tích những khó khăn và thuận lợi của các gia đình, những
tác động của dịch vụ giúp việc gia đình đến sự phát triển của gia đình.
3.2.5. Đưa ra những khuyến nghị có tính chất khả thi
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU, PHẠM
VI NGHIÊN CỨU, MẪU NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó đến gia đình
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Người sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình
- Người lao động làm giúp việc gia đình
- Cán bộ làm việc tại trung tâm giới thiệu việc làm cung cấp lao động giúp
việc cho các gia đình
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành: tại phường Kim
Liên quận Đống Đa. Phường này có nhiều gia đình đã và đang sử dụng dịch
vụ giúp việc gia đình.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 7 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005.
4.4. Mẫu nghiên cứu:
- Phỏng vấn sâu 20 người sử dụng dịch vụ
phỏng vấn, trong cách sắp đặt trình tự các câu hỏi và ngay cả cách thức đặt
câu hỏi nhằm thu thập được thông tin mong muốn.
Khi thực hiện phỏng vấn sâu, nghiên cứu không hỏi máy móc tất cả các
câu hỏi như nhau với cá nhân được nghiên cứu. Tức là, nếu trong quá trình
phỏng vấn có cá nhân nào am hiểu về vấn đề nào đó trong nghiên cứu, thì
điều tra viên có thể tập trung hỏi sâu cá nhân này về vấn đề đó. Đối với cá
nhân khác, quy trình cũng có thể được thực hiện tương tự, chứ không nhất
8
thiết cá nhân nào cũng phải hỏi tất cả mọi vấn đề. Thông thường việc chọn
người để phỏng vấn là có chủ định, đó là những người có liên quan đến mục
tiêu nghiên cứu.
Trong phỏng vấn sâu, người phỏng vấn sử dụng chủ yếu các câu hỏi
mở, vì vậy người trả lời cũng hoàn toàn tự do trong cách thức trả lời. Để có
được đầy đủ các thông tin của người trả lời, việc ghi chép hết sức nghiêm túc.
Các câu trả lời của người được hỏi ghi được đầy đủ, sát thực bao nhiêu sẽ tốt
bấy nhiêu. Ghi chép cần hạn chế tối đa việc cắt bớt hoặc ghi khái quát các câu
trả lời. Bởi vì, nếu làm như vậy, khâu ghi chép sẽ làm mất đi một lượng thông
tin nhất định, mặt khác làm cho thông tin bị chuyển dịch bởi ý đồ chủ quan
của người phỏng vấn.
Điểm quan trọng đối với phỏng vấn sâu là yêu cầu cao về tay nghề,
nghiệp vụ. Người đi phỏng vấn, phải có kiến thức sâu, hiểu biết khá rộng về
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và lĩnh vực đang nghiên cứu.
Đồng thời, người đi phỏng vấn sâu phải có kinh nghiệm phỏng vấn, biết cách
dẫn dắt thảo luận theo chủ đề cần thiết mà không làm ảnh hưởng đến cuộc
tiếp xúc, không làm mất lòng người được phỏng vấn.
Máy ghi âm là dụng cụ cần thiết để thực hiện phỏng vấn, nhưng chỉ sử
dụng nếu người trả lời đồng ý. Và trong hầu hết trường hợp họ đều đề nghị tắt
máy. Những cuộc phỏng vấn đã kéo dài khoảng 45 phút cho đến 70 phút. Địa
điểm cuộc phỏng vấn được quyết định bởi người trả lời. Có 2 người giúp việc
đình
Địa vị của
người phụ nữ
Quan hệ giữa
người chủ và
người giúp việc
Thời gian rỗi
7. KHUNG LÝ THUYẾT 11
1. Khung lý thuyết được diễn đạt như sau:
Dịch vụ giúp việc gia đình chịu sự tác động chung của điều kiện kinh tế
xã hội. Cụ thể, kinh tế phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp sang dịch vụ dẫn tới xã hội xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ
khác nhau, trong đó có dịch vụ giúp việc gia đình.
Sự phân công lao động xã hội sâu sắc dẫn tới các cá nhân trong xã hội
cần dành nhiều thời gian hơn tập trung vào công việc chuyên môn hoặc cùng
một lúc làm nhiều việc khác dẫn tới thời gian dành cho công việc gia đình,
cho con cái bị hạn chế. Vì thế, nhu cầu sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình ở
thành thị gia tăng. Nhu cầu dịch vụ gia tăng nhưng sự đáp ứng của trung tâm
môi giới và của người giúp việc nhà còn hạn chế, nhiều mâu thuẫn và xung
đột xảy ra. Nhu cầu về dịch vụ giúp việc gia đình và khả năng cung ứng đã
phác họa nên bức tranh chung về dịch vụ giúp việc gia đình.
Sự phát triển không phù hợp giữa nhu cầu dịch vụ giúp việc gia đình và
khả năng cung ứng dịch vụ giúp việc gia đình đã gây ra hệ quả đối với sự phát
triển của gia đình. Các hệ quả đó được phân tích ở các khía cạnh như công
nhóm chủ thuê và trung tâm môi giới lao động đồng thời cũng không đề cập
tới những tác động của người giúp việc đối với gia đình người chủ thuê.
13
Nghiên cứu thứ hai về trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội do tổ chức
Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển phối hợp với Khoa Tâm lý học trường Đại học
Quốc gia thực hiện năm 2000. Nghiên cứu này có tiêu đề “Lao động trẻ em
làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội". Nghiên cứu đã được nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia in thành sách dày 110 trang.
Nghiên cứu được tiến hành với nhóm trẻ làm giúp việc gia đình nhằm
phát hiện nguyên nhân, đặc điểm, hậu quả của lao động trẻ em (dưới 18 tuổi)
đang giúp việc cho các gia đình tại Hà Nội. Nghiên cứu được tiến hành với
483 phiếu hỏi bao gồm 219 phiếu cho các em giúp việc và 219 phiếu hỏi gia
chủ. Ngoài ra còn phỏng vấn 20 trường hợp, trong đó có 5 trường hợp phỏng
vấn gia chủ và 15 phỏng vấn trẻ em. Nghiên cứu đưa ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, hoàn cảnh kinh tế của gia đình là lý do chủ yếu làm cho trẻ
phải đi làm giúp việc gia đình.
Thứ hai, trẻ em làm nghề giúp việc gia đình phải làm những công việc
đơn giản và bị trả công thấp. Lao động trẻ em giúp việc gia đình có thể là một
hình thức lao động ít bị lạm dụng nhất.
Thứ ba, có sự khác biệt lớn giữa lao động giúp việc của trẻ em gái và
trẻ em trai. Các em lao động trong môi trường khép kín có nguy cơ bị quấy
rối tình dục cao hơn các hình thức lao động trẻ em khác.
Thứ tư, quan hệ chủ thợ không rõ ràng dễ tạo ra kẽ hở để người lớn lạm
dụng. Gia đình trẻ vẫn là chỗ dựa chính và là người bảo trợ chính của trẻ em
lao động giúp việc gia đình.
Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin định tính và định lượng đến
nhóm gia chủ và người giúp việc. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng không có
những thông tin về những khó khăn và thuận lợi của gia đình khi thuê người
giúp việc và cả những lợi ích hay những hạn chế mà gia đình nơi người giúp
dịch vụ giúp việc gia đình đến gia đình.
15
Tạp chí Khoa học về Phụ nữ số 4/2004 đăng bài viết "Người làm thuê
việc nhà và tác động của họ đến gia đình thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội"
của tác giả Mai Huy Bích. Bài nghiên cứu đã đi sâu phân tích tác động của
hiện tượng thuê người giúp việc đến chủ thuê lao động, làm rõ hệ quả kinh tế
xã hội mà sự xuất hiện những người làm thuê việc nhà đem lại đối với gia
đình thuê nhân công và ý nghĩa hàm ẩn chưa được chú ý đúng mức của nó.
Theo bài viết, việc thuê người giúp việc nhà làm giảm bớt gánh nặng việc nhà
cho gia chủ, làm nổi bật vai trò và ý nghĩa của việc nhà. Đồng thời thuê người
giúp việc tác động tiêu cực đến lý tưởng bình đẳng giới và tô đậm ranh giới
giữa người trong gia đình và người ngoài gia đình. Lập luận của tác giả sắc
bén, kết cấu rõ ràng, chủ đề và ý tưởng mới lạ cuốn hút người đọc.
Khác với nghiên cứu của Mai Huy Bích, đề tài luận văn này sẽ đi sâu
phân tích những tác động tích cực và tiêu cực không chỉ đến gia đình thuê
người giúp việc mà còn xem xét những hệ quả của dịch vụ giúp việc gia đình
đến bản thân và gia đình người lao động làm thuê, đồng thời phác hoạ bức
tranh khái quát về thực trạng dịch vụ giúp việc gia đình ở Hà Nội, cũng như
sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu sử dụng lao động giúp việc và khả năng đáp
ứng của thị trường lao động ở Phường Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội, từ đó
thấy được những yếu tố kinh tế xã hội, đặc biệt là hành lang pháp lý đã ảnh
hưởng như thế nào đến chất lượng của dịch vụ giúp việc gia đình và những
quan hệ phiền hà của gia đình và của người lao động.
Bên cạnh các bài nghiên cứu trên, nhiều bài báo đã nói về loại hình
dịch vụ giúp việc gia đình, về nhu cầu và thị trường cung ứng, về chất lượng
và số lượng, về những rắc rối gặp phải của các gia đình khi thuê người giúp
việc. Các bài báo này phần lớn đều nêu lên thực tế là nhu cầu giúp việc gia
đình ở các thành phố rất lớn, nhưng khả năng đáp ứng của loại hình dịch vụ
trên không tương xứng cả về chất lượng, số lượng và thiếu hụt các hình thức
cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và các điều kiện sống vật chất của họ
(Các Mác - Ăngghen toàn tập - Tập 13, 1993)
17
Tiền đề đầu tiên của lịch sử loài người là sự tồn tại của các cá nhân, là
con người có khả năng sống để có thể tồn tại trong trạng thái làm ra lịch sử.
Sự kiện đầu tiên và quan trọng nhất là hoạt động sản xuất ra các phương tiện
thoả mãn nhu cầu vật chất để con người tồn tại.
Mác vận dụng và phát triển phép biện chứng của Hêghen trong nghiên
cứu hiện thực xã hội con người, phép biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật
hiện tượng trong mối liên hệ và tác động qua lại, trong mâu thuẫn và vận
động phát triển không ngừng của xã hội.
Như vậy, trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
Mác khi nghiên cứu: “Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó tới gia
đình” chúng ta phải xem xét vấn đề này trong mối liên hệ và tác động, phát
triển không ngừng của lịch sử xã hội. Xu hướng thuê người lao động làm các
công việc gia đình hiện nay đang phổ biến với xã hội hiện tại của đất nước ta
cũng như trên thế giới, vì vậy xã hội cần phải nhanh chóng thay đổi nhận thức
và cách ứng xử với loại hình lao động này và có giải pháp quản lý chặt chẽ.
Khi nghiên cứu dịch vụ giúp việc gia đình, chúng ta phải phân tích cá nhân,
những hoạt động thực tiễn của người sử dụng lao động và người lao động
cũng như những điều kiện sống vật chất của họ trong quan hệ lao động và
trong khuôn khổ pháp lý đang tồn tại trong giai đoạn hiện nay. Ở đây, dịch vụ
giúp việc gia đình, nhu cầu và khả năng cung ứng là yếu tố trung tâm và chịu
sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố khác, của điều kiện kinh tế xã hội.
Đồng thời, chúng ta cũng thấy được bản chất xã hội của loại hình dịch vụ này
là kết quả của sự chuyên môn hoá lao động xã hội sâu sắc do đó tạo điều kiện
cho năng suất lao động xã hội gia tăng giúp Việt Nam phát triển nhanh hơn để
theo kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và thế giới.
3. NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI.
xung đột đã hình thành bằng các phương pháp tương tác thông thường. Như
vậy tình thế xung đột dần dần chuyển thành xung đột công khai.
Xung đột công khai giữa người làm thuê giúp việc trong nhà và người
sử dụng lao động thường biểu hiện ra qua những lời nói, cử chỉ và hành vi
19
như những câu nói không vừa lòng và những hành vi xúc phạm, thậm chí là
mắng chửi nhau. Khi đó xung đột đi vào giai đoạn phát triển.
Giai đoạn giải quyết xung đột: diễn ra việc tiến hành những cuộc đàm
phán. Người sử dụng lao động và người lao động đi tới đàm phán với nhau về
công việc, về điều kiên làm việc, về quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên.
Cơ sở của quá trình đàm phán có thể là phương pháp nhượng bộ, dựa trên sự
nhường nhịn lẫn nhau của các bên hoặc là phương pháp thoả thuận hướng vào
việc cùng nhau giải quyết các vấn đề tồn tại. Nếu xung đột không giải quyết
được thì hai bên sẽ chấm dứt hợp đồng.
Giai đoạn hậu xung đột: đánh dấu thực tế khách quan mới, so sánh lực
lượng mới, thái độ mới của các bên và nhận thức mới, đánh giá mới về các
vấn đề hiện có và về sức mạnh, khả năng của mình. Giai đoạn hậu xung đột
giúp cho các bên sử dụng lao động và người lao động có cái nhìn khách quan
hơn về bản thân, đồng thời nhận thức hơn về vị trí và vai trò mà họ có.
3.2. Lý thuyết phân công lao động
Khái niệm phân công lao động được hiểu từ hai góc độ khoa học liên
quan tới khái niệm chức năng. Theo quan niệm kinh tế học bắt nguồn từ A.
Smith, phân công lao động là sự chuyên môn hoá lao động, là sự phân chia
quá trình lao động thành các công đoạn, các khâu, các thao tác kỹ thuật mà
trong đó, mỗi người lao động tập trung vào thực hiện một số thao tác nhất
định trong một khâu hay một công đoạn sản xuất. Sự phân công lao động như
vậy làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động (trích từ Lê Ngọc
Hùng, 2004: 253-257). Do đó, dịch vụ giúp việc gia đình là một hình thức
phân công lao động xã hội, giúp cho nhiều gia đình thành thị đảm nhiệm tốt
là đấu tranh sinh tồn ngày càng trở nên gay gắt. Tình huống đó đã dẫn tới việc
lao động bị phân chia cho từng cá nhân trong xã hội và buộc các cá nhân phải
chuyên môn hoá kỹ năng và nhiệm vụ lao động.
Sự phân công lao động trong xã hội có thể xảy ra trên cơ sở khác nhau
về đặc điểm tự nhiên của chủ thể lao động, cũng như dựa vào các đặc điểm,
yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội.
21
Sự khác biệt giữa nam và nữ dẫn đến sự phân công lao động nam - nữ
trong xã hội và gia đình, Sự phân công lao động theo giới thể hiện trong cách
tổ chức cuộc sống gia đình nơi phụ nữ làm việc nội trợ và nam giới làm các
việc nặng và công việc ngoài gia đình. Phân công lao động nam-nữ là yếu tố
hình thành vai trò giới trong gia đình và xã hội. Phụ nữ có vai trò biểu đạt tình
cảm, nam giới có vai trò nhiệm vụ tạo ra thu nhập. Theo thuyết chức năng, lao
động của phụ nữ có chức năng tình cảm và lao động của nam giới có chức
năng tư duy và hành động giải quyết nhiệm vụ.
Trong xã hội, sự phân công lao động theo giới biểu hiện qua trường
hợp nhiều phụ nữ làm nghề may mặc, thư ký hơn so với nam giới. Nhiều nam
giới làm trong các hầm mỏ, trên dàn khoan hơn so với phụ nữ. Điều đáng chú
ý là sự phân công lao động theo giới không chỉ đơn thuần dựa vào sự khác
biệt về các đặc điểm sinh học giữa nam và nữ mà còn luôn gắn liền với thói
quen suy nghĩ, định kiến giới về vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội. Giống
như một số nhà xã hội học kinh điển khác Durkheim đã gán cho phụ nữ
những thiên chức mà nam giới hoàn toàn có thể làm tốt không kém gì họ,
chẳng hạn như công việc nội trợ, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái trong gia
đình. Đây là một hạn chế của ông mà sau này các nhà nữ quyền đã phê phán.
Durkheim chia phân công lao động thành hai loại: Phân công lao động
bình thường và phân công lao động bất bình thường. Phân công lao động bình
thường tạo ra sự đoàn kết xã hội, ngược lại phân công lao động bất bình
thường không tạo ra sự đoàn kết xã hội, thậm chí còn gây mất trật tự, sự hỗn
những vị trí, vai trò lao động không phù hợp, không tương xứng với trình độ,
năng lực, nguyện vọng của họ và kết quả là làm giảm sút năng suất, chất
lượng, hiệu quả lao động, gây ra những căng thẳng trong quan hệ sản xuất.
Phân công lao động "cưỡng bức" có thể xảy ra trong tình huống các cá nhân
thuộc đẳng cấp, tầng lớp xã hội thấp không được phép làm một số nghề của
nhóm xã hội ở đẳng cấp, tầng lớp xã hội cao hơn.
Như vậy, vận dụng lý thuyết phân công lao động nghiên cứu Dịch vụ
giúp việc gia đình và tác động của nó tới gia đình giúp ta hiểu sâu hơn