ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o NGUYỄN NGỌC THỤY
BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG TIẾP CẬN CÁC
DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Dịch Vọng Hậu - Cầu Giấy
- Hà Nội và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội) Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60. 31.30 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
TW Trung ương
% Phần trăm
3 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HỘP
Bảng, biểu, hộp
Trang
Bảng 2.1. Những nhóm bệnh thường gặp
42
Bảng 2.2. Tỉ lệ hộ gia đình có tủ thuốc dự phòng
47
Bảng 3.1. Tương quan giữa mức sống và mức chi phí cho cơ sở y tế
công trong 12 tháng qua
54
Bảng 3.2. Tương quan giữa mức sống và hình thức điều trị
55
Bảng 3.3. Tương quan giữa trình độ học vấn với việc lựa chọn dịch vụ y
tế
63
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của mỗi cá nhân và có tác động vô cùng
sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia. Người dân có sức
khoẻ sẽ làm tăng khả năng tạo ra nguồn của cải cho quốc gia và ngược lại. Thế
nhưng, một tỉ lệ lớn dân số trên thế giới vẫn đang phải sống trong tình trạng thiếu
thốn về lương thực, thực phẩm, nguồn nước sạch và các điều kiện vệ sinh không
được bảo đảm. Điều này đã tác động tiêu cực đến sức khỏe của một bộ phận không
nhỏ người dân. Bên cạnh đó, sự phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội khác nhau
vẫn đang tồn tại, dẫn đến sự không ngang bằng nhau về chất lượng cuộc sống nói
chung và tiếp cận các dịch vụ CSSK nói riêng.
Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Việt Nam chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lí
của Nhà nước. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội
cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong thời gian qua đã và đang làm thay
đổi một cách rõ rệt cuộc sống của mỗi gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển kinh tế là sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư.
Khoảng cách thu nhập này đã tạo nên sự phân hóa xã hội hết sức sâu sắc giữa các
nhóm xã hội dẫn tới sự khác nhau về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội trong đó có
sự tiếp cận các DVYT và CSSK giữa các giai cấp xã hội, giữa đàn ông và phụ nữ,
giữa người trẻ và người già, người giàu và người nghèo, giữa người sống ở thành thị
và người sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi… vẫn còn tồn tại.
Sức khỏe là một vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, và trên hết là quyền cơ bản của
con người. Sự bất bình đẳng, sự nghèo đói, nạn bóc lột, bạo lực và bất công là nguyên
nhân chính gây ra bệnh tật chết chóc cho người nghèo. Sức khỏe cho mọi người tức là
phải xem xét xem mọi người dân đã có sự công bằng trong CSSK hay chưa?
Hệ thống y tế nước ta đã và đang được quan tâm đầu tư nhưng chưa thực sự
toàn diện và công bằng. Các tuyến BV tuyến trên thường nhận được nhiều sự quan
tâm đầu tư hơn là các BV tuyến dưới và các TYT xã, phường, thôn bản; cơ sở y tế
nhân dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân
- Đề xuất một số khuyến nghị để nhằm làm giảm bớt sự BBĐXH trong tiếp
cận các DVYT của người dân
6 3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc trong các cơ quan Nhà nước
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm nông nghiệp
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc tự do
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài chọn địa bàn khảo sát là phường Dịch Vọng Hậu
– Cầu Giấy – Hà Nội (Đặc trưng đại diện là phường nằm cửa ngõ phía Tây của
thành phố Hà Nội, nơi có nhiều biến động về dân cư, nhà ở và mức sống do quá
trình đô thị hoá) và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội (đặc trưng cho xã ven đô
đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ)
Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 đến năm 2010
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
BBĐXH trong tiếp cận các DVYT diễn ra như thế nào? Nguyên nhân nào tạo
nên sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, trong tiếp cận các DVYT của người dân tồn tại sự khác biệt giữa
các nhóm xã hội
- Các yếu tố cơ bản dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người
dân hiện nay: (1) Yếu tố kinh tế (mức sống); (2) Địa vị xã hội; (3) Khoảng cách địa
lí; (4) Sự tiếp cận nguồn thông tin y tế của người dân.
tình trạng bệnh tật, hành vi CSSK, một số yếu tố tác động đến hành vi CSSK… Với
phương pháp này, tác giả có thể nắm được thông tin về tiếp cận các dịch vụ CSSK của
người dân và các hộ gia đình trên diện rộng.
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả đã khảo sát 300 phiếu dành cho đại diện các hộ gia
đình trong mẫu nghiên cứu: ở Phường Dịch Vọng Hậu 150 phiếu và xã Tân lập 150 phiếu.
8
5.2.2.2. Phỏng vấn sâu (định tính)
Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng hỗ trợ cho phương pháp định
lượng, bởi lẽ trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu, nhiều thông
tin, nội dung cụ thể của đề tài cần thu thập chưa được đề cập.
Phỏng vấn sâu chủ yếu sử dụng những câu hỏi mở. Trong quá trình phỏng
vấn sâu, điều tra viên sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề hay những phát hiện mới
liên quan đến đề tài mà phương pháp định lượng chưa đề cập. Các thông tin thu
thập được từ phương pháp này sẽ giúp tác giả có những hiểu biết sâu hơn về tình
hình sức khỏe cũng như thực trạng tiếp cận DVYT của người dân trên địa bàn khảo
sát. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 20 trường hợp.
5.2.3. Phương pháp xử lí thông tin
Những bảng hỏi định lượng được xử lí trên máy tính nhờ phần mềm thống kê
SPSS 17.0 để tìm ra tần suất cũng như tương quan nhằm so sánh và đánh giá vấn đề
trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Những ca phỏng vấn sâu được tác giả phân chia thông tin theo nhóm các chủ
đề cụ thể phục vụ mục tiêu nghiên cứu.
5.3. Khái quát cơ cấu mẫu đã khảo sát
5.3.1. Hộ gia đình
Hộ gia đình
N
%
49.3
49.3
100.0
Tổng
300
100.0
100.0
9
5.3.3. Trình độ học vấn người trả lời
Trình độ học vấn
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Tiểu học
8
2.7
2.7
2.7
Phổ thông cơ sở
28
9.3
9.3
12.0
Phổ thông trung học
74
Làm ruộng
46
15.3
15.3
15.3
Nghề thủ công
34
11.3
11.3
26.7
Buôn bán, dịch vụ
68
22.7
22.7
49.3
Viên chức Nhà nước
120
40.0
40.0
89.3
Hưu trí
32
10.7
10.7
100.0
Tổng
300
100.0
100.0
100.0
10 5.3.6. Nhóm tuổi người trả lời
Nhóm tuổi
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Dưới 30
86
28.7
28.7
28.7
Từ 31- 40
110
36.7
36.7
65.3
Từ 41- 50
50
16.7
16.7
82.0
Từ 51- 60
26
8.7
8.7
Hệ thống chính sách y tế
Kinh tế
(Mức sống)
Địa vị xã
hội
Khoảng
cách địa
lí
Tiếp cận
nguồn
thông tin y
tế
và áp dụng lý giải về vấn đề này ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội
tương tự. Do vậy, nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm những bằng chứng khoa học góp
phần giúp nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn về các vấn đề xã hội, đặc
biệt là vấn đề BBĐ trong tiếp cận các DVYT.
13 Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà quản lý và
hoạch định chính sách có một cái nhìn thực tế hơn về BBĐ trong tiếp cận các DVYT
của người dân hiện nay. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để góp phần
làm giảm bớt sự BBĐ trong tiếp cận các DVYT của người dân trên địa bàn khảo sát
cũng như trên các địa bàn tương tự.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài Lời cảm ơn, phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết
cấu thành ba phần chính:
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Trình bày các nội dung: Tính cấp thiết của đề tài; Sơ lược tình hình
nghiên cứu; Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài; Đối tượng, khách thể,
phạm vi và mẫu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu;
Phương pháp nghiên cứu; Luận cứ chứng minh; và giới thiệu Cấu trúc luận văn.
PHẦN II. NỘI DUNG
Gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2. Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân hiện nay
Chương 3. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các
dịch vụ y tế của người dân hiện nay
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trình bày các kết luận nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị đối với các
cơ quan quản lí y tế, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư để giảm bớt tình
trạng BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay.
Bình đẳng xã hội được thể hiện trên cả hai phương diện, tự nhiên và xã
hội. Trên bình diện tự nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi người đều có
những năng lực thể chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau. Trên bình diện xã
15 hội, bình đẳng bao hàm sự ngang bằng nhau giữa người và người về mặt năng
lực, thể chất, trí tuệ, điều kiện, cơ hội, vị thế, nghề nghiệp trong xã hội và
những lợi ích vật chất, tinh thần mà mỗi người nhận được từ vị thế, vai trò xã
hội của họ [41]. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho rằng những thành tựu
trong cuộc sống của một người, một cá nhân phải được quyết định chủ yếu bởi
tài năng và công sức của họ chứ không phải là những hoàn cảnh đã định trước
như chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, chủng tộc, giới tính, hoàn cảnh xã hội,
gia đình hay nơi sinh….
Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng của con người, từ xưa tới nay,
thường xuyên xảy ra sự không ngang bằng nhau giữa nhóm người này với nhóm
người khác, dẫn đến BBĐXH.
Vậy, BBĐXH chính là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội, về lợi ích của
những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội [19; tr224].
Một vài quan điểm về bất bình đẳng xã hội
BBĐXH phải chăng là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Vấn
đề này còn có nhiều ý kiến. Có người cho rằng BBĐXH luôn hiện diện bởi sự khác
biệt nhân cách giữa những cá nhân. Nếu có một xã hội mở và nếu con người khác
nhau về mặt tài năng và nhu cầu thì điều đó sẽ hàm ý rằng BBĐXH là không thể
tránh được. Đó là một thực tế của xã hội. “Một số BBĐ đến như là kết quả không
thể né tránh BBĐ về sinh học, của kỹ năng, của thể chất, khả năng tinh thần và
những khía cạnh của nhân cách” (Cauthen, 1987).
Một nhà triết học trước đây cũng đã khẳng định rằng có những khác biệt “tự
nhiên” giữa các cá nhân. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những khác biệt trong kiểu
phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của BBĐ. Aristotle đã nói rằng:
da, nơi sinh, nguồn gốc gia đình, các nhóm giai tầng…) đã tạo nên sự thành đạt
cũng khác nhau về kinh tế, xã hội và chính trị ở họ; hoặc là chúng đã tạo nên sự
hưởng thụ và tiếp cận khác nhau đối với các nguồn lực kinh tế, xã hội, văn hóa và
chính trị ở mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau [28; tr4].
Xã hội học muốn phát hiện, khám phá nguồn gốc của BBĐ trong văn hóa và
cơ cấu xã hội của bản thân các xã hội. Mặc dù họ không nhận thấy rằng có những
khác biệt bẩm sinh trong những cá nhân hoặc những khác biệt trong quá trình phát
17 triển cá nhân tạo nên BBĐ, song các nhà xã hội học tin rằng văn hóa và cơ cấu xã
hội là yếu tố chủ yếu của những BBĐXH giữa các cá nhân. Trong khi các nhà xã
hội học đồng ý rằng BBĐ là phổ biến, thì họ lại không thống nhất được như thế nào
là BBĐ và tại sao nó lại tồn tại?
Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội
Trong những xã hội khác nhau, BBĐ cũng có những nét khác biệt. Ở xã hội
quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì BBĐ gay gắt hơn so với các xã hội giản đơn.
BBĐ thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ thể liên quan đến
giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ…
Nhưng, cho dù những nguyên nhân dẫn đến BBĐ có đa dạng và khác nhau
giữa các xã hội và nền văn hóa, thì người ta vẫn có thể quy chúng về ba loại cơ bản:
những cơ hội trong cuộc sống, địa vị xã hội, ảnh hưởng chính trị.
Trước hết là sự khác nhau về các cơ hội trong cuộc sống. Trong một xã hội
cụ thể, nhóm người này có thể có những cơ hội thuận lợi về vật chất để có thể cải
thiện chất lượng cuộc sống (của cải, tài sản, thu nhập) hoặc cơ hội thuận lợi để
CSSK hay đảm bảo an ninh xã hội. Cơ hội là những thực tế và những thực tế này
cho thấy những lợi ích vật chất và sự lựa chọn thực tế của một nhóm xã hội, bất kể
những thành viên của nhóm có nhận thức được điều đó hay không. Trong một xã
hội cụ thể, một nhóm người có thể có những cơ hội trong khi các nhóm khác thì
không. Và đó là cơ sở khách quan của BBĐXH.
điều này, loài người cần phải nỗ lực phi thường và bền bỉ. Các biện pháp nhằm làm
giảm BBĐXH:
Đầu tư vào năng lực con người ngay từ lúc mới được sinh ra; Mở rộng khả
năng tiếp cận đến hệ thống tư pháp, đất đai và cơ sở hạ tầng; Mở rộng khả năng tiếp
cận đến các thị trường tài chính, lao động và thực hiện tốt chính sách quản lí nền
kinh tế vĩ mô; Vai trò của chính sách Nhà nước trong giải quyết những BBĐ
vùng miền; Thực hiện dân chủ, sự tham gia và trao quyền cho người dân ở cấp
địa phương; Thúc đẩy sự bình đẳng giới…
19 Ý nghĩa của việc nghiên cứu bất bình đẳng xã hội
Việc nghiên cứu BBĐXH sẽ giúp ta thấy được điểm xuất phát của mỗi cá
nhân trong cuộc sống và qua đó đánh giá chính xác sự phấn đấu vươn lên của
mỗi người, từ đó thấy được giá trị đích thực của mỗi cá nhân trong cuộc sống;
đồng thời làm cơ sở cho nhà nước đưa ra chính sách XH đúng đắn, đặc biệt các
chính sách an sinh xã hội.
Trong đề tài này, chúng tôi cho rằng, BBĐXH trong tiếp cận các DVYT có
thể được hiểu là sự phân phối, phân chia những thành tựu y tế đạt được cho các
thành viên trong xã hội là không đều nhau dựa theo những cơ sở xã hội khác nhau.
Những người có cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ thành tựu y
tế cũng khác nhau. BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân còn được gọi
là BBĐ về cơ hội tiếp cận các DVYT, nghĩa là khả năng được chăm sóc y tế
không tùy thuộc vào nhu cầu y tế của người bệnh mà tuỳ thuộc vào tình hình tài
chính, thu nhập, địa vị xã hội, uy tín xã hội, trình độ học vấn và nguồn tiếp cận
thông tin y tế của họ.
1.1.2. Khái niệm phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội (social stratification) có nguồn gốc chữ Latin là stratum
(tầng lớp) và phacio (sự phân chia), có nghĩa là phân chia thành tầng lớp. Đây là
một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Xã hội học sử dụng thuật ngữ
1.1.3. Dịch vụ y tế và các khái niệm liên quan
Khái niệm “dịch vụ y tế”
Khái niệm này được hiểu theo nghĩa là một loại hình dịch vụ xã hội nhằm đáp
ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân, dịch vụ này bao gồm hệ thống
các cơ sở phòng và điều trị bệnh tật, cung ứng thuốc men, các nhân viên y dược…
Đây là loại hình dịch vụ mà người sử dụng thường không thể tự mình hoàn
toàn chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên
cung ứng (các cơ sở y tế). Cụ thể là khi người bệnh có nhu cầu KCB, việc điều trị
theo phác đồ nào, thời gian bao lâu… hoàn toàn do thầy thuốc (bên cung cấp) quyết
định. Mặt khác, DVYT là một loại hình dịch vụ đặc biệt, nó gắn chặt chẽ với sức
khỏe và tính mạng con người nên dẫu không có tiền, người bệnh vẫn phải KCB,
khác hẳn với các loại hình dịch vụ khác, ở đó người sử dụng có nhiều giải pháp lựa
chọn, thậm chí là tạm thời không sử dụng nếu tình hình tài chính hạn hẹp.
21 Khái niệm “tiếp cận các DVYT”
Tiếp cận các DVYT là một trong những quyền cơ bản của công dân. Quyền này
được quy định và thừa nhận rộng rãi trong nhiều văn kiện pháp lí quốc tế về quyền con
người và pháp luật của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Tiếp cận các DVYT chính
là khả năng được biết và thụ hưởng những chăm sóc y tế (khám và điều trị đúng, đủ, kịp
thời) để đảm bảo sức khỏe của mình.
Khái niệm “người dân nông thôn” và “người dân thành thị”
Thực hiện đề tài này, tác giả đã khảo sát ở hai địa bàn, một ở nông thôn và một
ở thành thị. Do đó, cần tìm hiểu khái niệm người dân nông thôn và người dân thành thị.
Người dân nông thôn là những người cư trú thường xuyên ở khu vực nông thôn.
Họ có thể tham gia hoặc không tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Người dân thành thị là những người cư trú thường xuyên tại khu vực thành thị.
1.2. Quan điểm lí thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Lí thuyết phân tầng xã hội
Thừa nhận yếu tố kinh tế biểu hiện cụ thể qua các cơ hội trao đổi trên thị
trường là yếu tố quyết định số phận con người, Weber cho rằng “tình huống giai
cấp” xét cho cùng về mặt kinh tế là “tình huống thị trường”. Đó là tình huống chủ
yếu bị quy định bởi các thị trường.
Theo ông, có hai hình thức phân tầng xã hội về mặt kinh tế:
+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về sở hữu tài sản.
+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về mức thu nhập.
Phân tầng xã hội – vị thế
Theo quan điểm của Weber, trong xã hội có cả những người mà cuộc sống
của họ và nhất là lối sống của họ không hoàn toàn phụ thuộc vào tình huống thị
trường mà phụ thuộc vào uy tín, danh vọng và sự đánh giá của xã hội dành cho họ.
Ông gọi đó là nhóm vị thế.
Weber cho rằng “cả hai loại người có tài sản và không có tài sản đều có thể
cùng một nhóm vị thế”. Nhóm các nhà doanh nghiệp là một nhóm vị thế, nhóm sinh
viên là một nhóm vị thế vì mỗi nhóm này đều có chung một mức trọng vọng vị nể,
danh dự nhất định từ phía xã hội mặc dù trong số họ có người giàu, cũng có người
nghèo. Khác với nhóm giai cấp, các nhóm vị thế thường là các cộng đồng bao gồm
những người trong cùng một “tình huống vị thế” tức là cùng chia sẻ mức độ danh
vọng, mức độ kính trọng từ phía xã hội.
23 Khác với quyết định luận kinh tế, Weber cho rằng tình huống vị thế có thể là
nguyên nhân cũng như có thể là kết quả của tình huống giai cấp. Mối quan hệ này
thể hiện ở chỗ một mặt sự phân tầng vị thế gồm các nhóm vị thế khác nhau, các
cộng đồng có uy tín, danh vọng khác nhau có khả năng tác động tới cấu trúc kinh tế
thông qua các hàng rào hoặc các quy định về tiêu dùng và bằng sự độc quyền về vị
thế mà xét về ý nghĩa kinh tế thì có vẻ phi lí. Mặt khác, sự phân tầng về vị thế tác
động mạnh mẽ tới nền kinh tế thông qua sự chỉ huy của nhóm người thuộc tầng lớp
được trọng vọng và có uy tín cao trong xã hội.
hội nhằm kiến giải câu hỏi: nguyên nhân của phân tầng xã hội là gì?
Sở dĩ có hiện tượng phân tầng xã hội là do hai nguyên nhân cơ bản sau:
- Do sự BBĐ mang tính cơ cấu của tất cả các chế độ xã hội của loài
người(trừ giai đoạn đầu của xã hội công xã nguyên thủy)
- Do sự phân công lao động xã hội
Các hình thức phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó có thể tránh
khỏi. Nó tồn tại dưới hai hình thức:
Phân tầng xã hội hợp thức: sự phân tầng xã hội dựa trên sự khác biệt một
cách tự nhiên về năng lực (thể chất, trí tuệ), về điều kiện cơ may cũng như tính cách
và đạo đức của các cá nhân và các nhóm xã hội. Nó làm giảm hố ngăn cách giàu
nghèo và bất công xã hội.
Phân tầng xã hội không hợp thức: không dựa trên sự khác biệt tự nhiên giữa
các cá nhân, cũng không phải dựa trên sự khác nhau về tài đức, về sự cống hiến của
mỗi người cho xã hội mà dựa trên những hành vi bất chính như tham nhũng, lừa
đảo, trộm cắp, làm ăn phi pháp để trở nên giàu có. Do vậy nó làm gia tăng hố ngăn
cách giàu nghèo và bất công xã hội.
Các hệ thống phân tầng xã hội trong lịch sử
Phân tầng xã hội đóng: phân tầng xã hội trong xã hội phong kiến do người
đứng đầu xã hội (nhà vua) quyết định dân cư ở các giai tầng. Đặc trưng là ranh giới
giữa các tầng lớp hết sức rõ rệt, duy trì nghiêm ngặt, địa vị mỗi người được quyết
định khi vừa mới sinh ra bởi nguồn gốc dòng dõi cha mẹ mình, người khác đẳng
cấp không được kết hôn với nhau, do đó làm giảm tính năng động xã hội.
25 Phân tầng xã hội mở: phân tầng xã hội trong xã hội công nghiệp - tạo ra các
điều kiện để các cá nhân tự khẳng định tài năng của mình. Địa vị của con người
trong xã hội phụ thuộc chủ yếu vào địa vị của họ trong kinh tế. Ranh giới giữa các
tầng linh hoạt và mềm dẻo hơn. Phân tầng xã hội này giải phóng sức lao động xã