H TH MINH KHNG
Vai trò của ng-ời già
trong gia đình và cộng đồng
hiện nay
(Nghiên cứu tr-ờng hợp xã Hạ Bằng,
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội)
LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử
Hà Nội - 2011
Đại học quốc gia hà nội
Hà Nội - 2011
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.
Lý do lựa chọn đề tài
7
2.
Mục đích nghiên cứu
9
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
10
4.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
11
5.
Đóng góp của luận văn
12
6.
Cấu trúc luận văn
13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
VỀ NGƢỜI GIÀ
14
Các khái niệm nghiên cứu sử dụng trong luận văn
49
Tiểu kết Chƣơng 1
52
CHƢƠNG 2: VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU – XÃ HẠ BẰNG
53
2.1.
Vị trí địa lý và lịch sử tụ cư của người Việt ở Hạ Bằng
53
2.2.
Tổ chức dân cư và tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội
58
2.3.
Người già trong gia đình người Việt ở Hạ Bằng
66
Tiểu kết Chƣơng 2
67
CHƢƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NGƢỜI GIÀ TRONG GIA ĐÌNH
69
3.1.
Quan niệm về tuổi già và vai trò của người già ở Hạ Bằng
hiện nay
69
4
3.1.1.
Quan niệm về tuổi già
92
Tiểu kết Chƣơng 3
94
CHƢƠNG 4: VAI TRÒ CỦA NGƢỜI GIÀ TRONG CỘNG ĐỒNG
VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỌ
96
4.1.
Vai trò của người già trong cộng đồng
96
4.1.1.
Các tổ chức của người già ở Hạ Bằng
96
4.1.2.
Vai trò của người già và Hội Người cao tuổi
97
4.1.3.
Vai trò của người già trong dòng họ
108
4.2.
Phát huy vai trò của người già trong phát triển kinh tế, văn
hóa và xã hội ở địa phương
112
4.2.1.
Hạ Bằng và việc phát huy vai trò tiềm năng của
người già
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ: Cộng đồng
GĐ: Gia đình
NCT: Người cao tuổi
Nxb: Nhà xuất bản
PVS: Phỏng vấn sâu
SX-KD: Sản xuất, kinh doanh
TCĐT: Tổ chức đoàn thể
TCTK : Tổng cục Thống kê
TĐTDS&NƠ: Tổng Điều tra dân số và Nhà ở
TLN: Thảo luận nhóm
UBND: Ủy ban nhân dân
UN: Liên hiệp quốc
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
UNFPA: Quỹ dân số Liên hiệp quốc
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
VGĐ&G : Viện Gia đình và Giới
VHLSS: Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam
VHTH&DL: Văn hoá, Thể Thao và Du lịch
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
XH: Xã hội
6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ HỘP
Bảng
Bảng 2.1: Số liệu về dân số và số người già (60 tuổi trở lên)
từ 2007 đến 6/2010 59
CĐ: Cộng đồng
GĐ: Gia đình
NCT: Người cao tuổi
Nxb: Nhà xuất bản
PVS: Phỏng vấn sâu
SX-KD: Sản xuất, kinh doanh
TCĐT: Tổ chức đoàn thể
TCTK : Tổng cục Thống kê
TĐTDS&NƠ: Tổng Điều tra dân số và Nhà ở
TLN: Thảo luận nhóm
UBND: Ủy ban nhân dân
UN: Liên hiệp quốc
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
UNFPA: Quỹ dân số Liên hiệp quốc
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
VGĐ&G : Viện Gia đình và Giới
VHLSS: Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam
VHTH&DL: Văn hoá, Thể Thao và Du lịch
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
XH: Xã hội
6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ HỘP
Bảng
Bảng 2.1: Số liệu về dân số và số người già (60 tuổi trở lên)
từ 2007 đến 6/2010 59
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế của xã Hạ Bằng năm 2007 đến 2009. 60
Bảng 2.3: Mức sống của người dân từ năm 2007 đến 6/2010 61
Bảng 2.4: Thu nhập bình quân đầu người tại địa phương 61
đất nƣớc và đƣợc coi là thế hệ duy trì tính liên tục phát triển của nhân loại. Họ
không chỉ là lớp ngƣời nhiều tri thức và kinh nghiệm sống mà còn tích luỹ đƣợc vốn
liếng vật chất và giá trị về văn hoá tinh thần để truyền lại cho thế hệ tiếp theo [47,
45, 56, 72, 88].
Ngày nay, sự già hoá dân số đang tăng nhanh ở nhiều nƣớc trên thế giới cũng
nhƣ ở Việt Nam. Theo số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở (TĐTDS&NƠ) năm
2009, nhóm dân số cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) ở Việt Nam đã tăng lên 9%
1
và phần
lớn ngƣời già sinh sống ở khu vực nông thôn
2
[1, 83, tr. 64]. Theo dự báo của Tổng
cục Thống kê cho thấy tỷ lệ dân số cao tuổi sẽ đạt ngƣỡng 10% vào năm 2017, nói
cách khác, dân số Việt Nam sẽ bƣớc vào giai đoạn gọi là “thời kỳ già hóa dân số”.
Theo Quỹ Dân số Liên hiệp quốc “dân số cao tuổi Việt Nam đang tăng nhanh cả về
số tƣơng đối và tuyệt đối, đặc biệt là „già ở nhóm già nhất‟ (từ 80 tuổi trở lên) và so
với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, thời gian để Việt Nam chuẩn bị đón
nhận thời kỳ già hóa dân số ngắn hơn rất nhiều” [76, tr. 6]. Nhƣ vậy già hóa dân số
cũng đồng nghĩa với tỷ lệ phụ thuộc ngƣời già cũng sẽ tăng lên
3
. Trong các chính
sách xã hội, ngƣời già thƣờng đƣợc coi là nhóm dân số đặc biệt, nhóm yếu thế cần
đƣợc ƣu tiên về an ninh lƣơng thực và sự chăm sóc về mọi mặt từ phía gia đình, và
cộng đồng xã hội.
Trong xã hội hiện đại ngƣời già đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nhƣ
nghèo đói, cô đơn, bị lạm dụng, hoặc bị bỏ rơi,… Sự kỳ thị về tuổi tác khiến cho họ
bị coi là “gánh nặng”, là “ngƣời thừa” trong gia đình và xã hội. Trong khi tâm điểm 1
ăn, và dạy dỗ con cháu, nội trợ và chăm sóc cháu nhỏ v.v [6].
Phần lớn ngƣời già ở Việt Nam hiện đang sống tại khu vực nông thôn. Trong
xã hội truyền thống ngƣời già có quyền điều khiển về mọi mặt của địa phƣơng, gia
đình và dòng họ. Họ là một thành phần quan trọng tham dự các sinh hoạt mang tính
hành chính, trong tổ chức quan phƣơng và phi quan phƣơng của cộng đồng làng xã.
Ngày nay, ngƣời già vẫn đóng vai trò đại diện hợp thức cho gia đình và là đại biểu
chung cho gia tộc, xóm thôn và cộng đồng làng xã. Sự hiểu biết tập quán cùng với
kinh nghiệm vốn và tinh thần gƣơng mẫu cho phép họ gìn giữ các quan hệ xã hội
nông thôn một cách hiệu quả. Ngƣời già ở Việt Nam hiện nay là lớp ngƣời chứng 4
Nghiên cứu ảnh hƣởng của di cƣ đối với GĐ cho thấy phần lớn ngƣời di cƣ đang trong độ tuổi lao động và sự vắng
mặt của vợ, hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng sẽ ảnh hƣởng đến sinh hoạt GĐ gốc, đặc biệt là GĐ hai vợ chồng
cùng xuất cƣ, vai trò trông non nhà cửa phần lớn sẽ thuộc về ngƣời già [13].
5
Các tác giả này tính toán số liệu của VHLSS 2004 cho thấy: 75% nam giới và 66% phụ nữ tuổi 60 vẫn hoạt
động kinh tế và làm việc khoảng 36 giờ một tuần.
9
kiến và tham dự vào nhiều sự thay đổi của xã hội, họ là lớp ngƣời sinh ra trong xã
hội truyền thống, trƣởng thành trong thời kỳ bao cấp, và ít nhiều đang chứng kiến
sự phát triển kinh tế và sự hội nhập của đất nƣớc. Chính vì vậy không thể phủ nhận
là nhiều ngƣời già chính là một kho tàng về kinh nghiệm và vốn sống, đặc biệt là ở
vùng nông thôn [44, 62, 64, 67, 100, v.v.]. Nhƣ vậy, xét từ góc độ này ngƣời già
chƣa hẳn là gánh nặng đối với gia đình và xã hội. Ngƣời già ở Việt Nam, nhất là ở
vùng nông thôn vẫn đang có những đóng góp vào đời sống kinh tế và đời sống văn
hóa trong gia đình và cộng đồng bằng rất nhiều cách khác nhau.
Cùng với sự phát triển xã hội vai trò của ngƣời già đã đƣợc khẳng định qua
Pháp lệnh Ngƣời cao tuổi năm 2000 và gần đây nhất là Luật Ngƣời cao tuổi (2009).
cộng đồng ở vùng nông thôn. Với mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu vai trò của
ngƣời già trong gia đình và cộng đồng nên khách thể nghiên cứu là những ngƣời già
từ 60 tuổi trở lên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Tập trung làm rõ hoạt động và vai trò của ngƣời già trong đời
sống gia đình và cộng đồng ở một vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
Phạm vi về không gian và thời gian: Luận văn này sử dụng một phần dữ liệu
định lƣợng và định tính của đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề cơ bản trong chính sách
xã hội đối với ngƣời cao tuổi” do Viện Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam thực hiện năm 2008 – 2009, đƣợc tiến hành tại Hải Phòng, Hà Nam
và Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Từ dữ liệu của đề tài cấp Bộ, tác giả luận văn này chỉ
lựa chọn dữ liệu của một điểm nghiên cứu là xã Hạ Bằng, Thạch Thất, Hà Tây (cũ)
nay là Hà Nội đƣợc tiến hành tháng 12/2008 để phân tích. Về cơ bản, dữ liệu của đề
tài cấp Bộ là tƣơng đối đầy đủ cho việc phân tích, nhƣng do luận văn tập trung
nghiên cứu về vai trò của ngƣời già, nên tác giả đã lựa chọn địa điểm là xã Hạ
Bằng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội để quay lại tiếp tục nghiên cứu thực địa
lần 2 vào tháng 7-8/2010. Đây là một xã thuần nông trƣớc đây thuộc tỉnh Hà Tây,
đại diện cho vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, nơi mà tốc độ đô thị hóa cao và có
biến đổi nhanh chóng về kinh tế, văn hóa, xã hội. Thêm nữa, Hạ Bằng là nơi đã có
11
một số nghiên cứu về ngƣời già đƣợc tiến hành, và bản thân tác giả đã thiết lập
đƣợc mối quan hệ và có sự sẵn sàng hợp tác những ngƣời dân ở đây trong quá trình
tham gia nghiên cứu.
4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn này hƣớng đến tìm hiểu thực trạng hoạt động của ngƣời già trong gia
đình và cộng đồng ở Hạ Bằng diễn ra nhƣ thế nào? Thông qua các hoạt động cụ thể
tác giả luận văn sẽ xem xét vai trò chung, trừu tƣợng của ngƣời già trong đời sống
các giá trị văn hoá gia đình và của tộc ngƣời cho thế hệ trẻ.
4) Có sự khác biệt trong vai trò giới của ngƣời cao tuổi nữ và ngƣời cao tuổi nam
trong gia đình ở vùng nông thôn. Ngƣời cao tuổi là nữ ít có vai trò và tiếng nói
trong gia đình và ngoài cộng đồng.
5) Ngƣời già ở vùng nông thôn là nhân tố tham gia tích cực vào các hoạt động của
các tổ chức quan phƣơng và phi quan phƣơng.
6) Việc triển khai thực hiện các chính sách phát huy vai trò của ngƣời già sẽ có
nhiều khó khăn và hạn chế hơn vùng nông thôn.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Các công trình nghiên cứu về ngƣời già cho đến nay đã góp phần mang lại
những hiểu biết sâu sắc về lớp thế hệ ngƣời cao tuổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, song
các nghiên cứu về chủ đề vai trò của ngƣời già trong gia đình và cộng đồng hiện
nay ở vùng nông thôn còn khá hiếm hoi. Những phân tích, đánh giá của luận văn
này góp phần làm rõ các hoạt động và vai trò của ngƣời già trong gia đình và cộng
đồng ở vùng nông thôn hiện nay. Là nguồn tƣ liệu tham khảo bổ sung vào khoảng
trống về chủ đề nghiên cứu về ngƣời già và gợi mở hƣớng nghiên cứu tiếp theo về
chủ đề này. Phân tích khác biệt về vai trò giới của ngƣời cao tuổi nam giới và nữ
giới trong gia đình và cộng đồng, cũng nhƣ các đánh giá về mặt tích cực và những
điểm còn hạn chế trong thực hiện chính sách phát huy vai trò của ngƣời già sẽ là cơ
13
sở thực tiễn cho việc điều chỉnh chính sách, góp phần cải thiện tình trạng bất bình
đẳng giới và nâng cao trách nhiệm phát huy vai trò của ngƣời già trong bối cảnh xây
dựng nông thôn mới hiện nay.
6. CẤU TRÖC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn đƣợc
cấu trúc thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về ngƣời già
(Nghị quyết số 45/106), có hiệu lực từ năm 1991 [21]. Tiếp đó, vào năm 1991, Liên
Hợp Quốc đã thông qua “Những nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với
ngƣời cao tuổi” (Nghị quyết số 46/91) bao gồm 18 nguyên tắc nhằm bảo đảm các
quyền của ngƣời cao tuổi, đƣợc nhóm lại thành 5 đặc điểm liên quan đến chất lƣợng
15
sống nhƣ: sự độc lập, sự tham gia, chăm sóc, tự thực hiện và nhân phẩm của ngƣời
cao tuổi [78, tr.3]. Năm 1992, Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết số 47/5 đƣa
những mục tiêu toàn cầu về NCT từ 1992 - 2001. Năm 1999 đƣợc gọi là năm Quốc
tế về ngƣời cao tuổi với khẩu hiệu “Một xã hội cho mọi lứa tuổi” [23, 24].
Năm 2002, Hội nghị thế giới lần thứ II về NCT đƣợc tổ chức tại Madrid thủ đô
Tây Ban Nha. Hội nghị đã thông qua hai văn bản quan trọng về ngƣời cao tuổi toàn
thế giới, đó là Tuyên bố chính trị Madrid và Chương trình hành động Quốc tế về
người cao tuổi. Các văn bản này thể hiện quan điểm và cam kết hành động ở cấp
quốc tế và quốc gia về ngƣời cao tuổi để đáp lại các cơ hội và thách thức của hiện
tƣợng già hóa dân số trong thế kỷ 21 và xúc tiến một xã hội cho mọi lứa tuổi. Tuyên
bố chính trị Madrid gồm có 19 điều, thể hiện những quan điểm quốc tế hết sức cơ
bản về ngƣời cao tuổi. Vai trò của ngƣời cao tuổi đã đƣợc ghi rõ tại Điều 2 và 6
“Các kinh nghiệm và các nguồn lực của NCT là một tài sản vô giá cho sự phát triển
của các xã hội”. Và tại Điều 1, 6, 8, 10, 12 cũng ghi rõ: “Các quốc gia cần phải xúc
tiến phát triển một xã hội cho mọi lứa tuổi, mở rộng các cơ hội và môi trường hỗ
trợ cho NCT, lồng ghép có hiệu quả các vấn đề NCT trong các chiến lược, chính
sách và hành động về kinh tế, xã hội để họ có thể phát huy được các kỹ năng, kinh
nghiệm và trí tuệ, tham gia đầy đủ và tích cực vào đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa
và chính trị” [32, 103, 104].
Chƣơng trình hành động quốc tế về ngƣời cao tuổi (2002) đã đƣợc thông qua,
dựa trên bối cảnh xu hƣớng già hoá dân số ở nhiều quốc gia đang ngày càng tăng
lên. Sự thay đổi về nhân khẩu đang là một thách thức lớn đối với các quốc gia, nhất
là ở các nƣớc đang phát triển, nơi sẽ đồng thời gặp phải hai thách thức: phát triển và
già hóa dân số. Chính vì vậy, trong Chƣơng trình hành động quốc tế về ngƣời cao
đến việc tạo điều kiện để ngƣời già làm tốt những công việc thƣờng ngày tại gia
đình và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu mƣu sinh chính đáng, đƣa họ vào các chƣơng
trình và chiến lƣợc giảm nghèo để họ có thể tiếp cận với các chƣơng trình tín dụng
vay vốn và các hoạt động tạo thu nhập khác.
6
Phát biểu của Bà Thoraya Obaid - Nguyên Giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hợp quốc - tại Hội nghị
quốc tế lần thứ hai về Già hóa dân số tại Madrid năm 2002 [76, tr. 10].
17
1.1.2. Quan điểm và chính sách về ngƣời già ở Việt Nam
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận rất nhiều sự kiện về vai trò và đóng góp của
ngƣời già trong công cuộc dựng nƣớc, giữ nƣớc với sự kiện nổi bật là Hội nghị
Diên Hồng thời Trần
7
. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi lại rằng: “Thượng hoàng
(Thánh Tông) triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng (Thăng Long)
ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đều nói „xin đánh‟, muôn người cùng hô
một tiếng”, chính từ sự kiện này mà sử sách xác nhận vai trò to lớn của bậc phụ lão
trong đời sống chính trị - xã hội của đất nƣớc [72, tr. 34]. Trải qua các triều đại, Nhà
nƣớc phong kiến Việt Nam đã có những chính sách ƣu đãi về kinh tế, xã hội cho
ngƣời già. Trong cộng đồng làng xã cũng có những quy định trong lệ làng, hƣơng
ƣớc thể hiện sự ƣu đãi, sự tôn vinh và kính trọng ngƣời già [60]. Khi bàn về chính
sách của “nƣớc - làng” trong lịch sử đối với ngƣời cao tuổi, GS Văn Tạo (1997) cho
rằng từ xa xƣa dân gian đã có câu “Triều đình trọng tƣớc, làng nƣớc trọng xỉ”, và
đối với xã hội nông nghiệp nhƣ Việt Nam thì ruộng đất là quan trọng bậc nhất. Nên
từ Triều Lý, Trần đến triều Lê, việc quân cấp công điền vẫn dành một phần đáng
kể cho ngƣời già. Ngƣời già đến 60 tuổi đƣợc miễn mọi nghĩa vụ thì không đƣợc
hội đông đảo, quý giá trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận Việt Minh đã
lập ra tổ chức Hội phụ lão cứu quốc, đây là thành viên quan trọng trong Mặt trận
dân tộc thống nhất. Lớp ngƣời già đã góp phần không nhỏ trong lao động sản xuất
và chiến đấu qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giành độc lập dân
tộc [98, tr.94]. Các chính sách vĩ mô trong thời kỳ này tập trung chủ yếu vào sự trợ
giúp cho những ngƣời già cả. Trong Hiến pháp nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
năm 1946, Hiến pháp năm 1952 và 1980 có ghi: “Những công dân già cả hoặc tàn
tật không làm được việc thì được giúp đỡ”, và tại Điều 67, Hiến pháp nƣớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 bổ sung (2001): “Người già, người tàn
tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Nhƣ vậy trong giai đoạn từ năm 1946 đến trƣớc năm 2000, các chính sách cho
ngƣời già tập trung chủ yếu vào khía cạnh ƣu đãi. Các chính sách này mặc dù chƣa
tạo thành các văn bản luật pháp cụ thể và có hệ thống, nhƣng nội dung của các
chính sách, nghị định của Nhà nƣớc đã tạo nên một môi trƣờng pháp lý bƣớc đầu
cho sự nghiệp chăm sóc ngƣời cao tuổi [3, tr. 101]. Có thể khẳng định rằng cho đến
nay chính sách xã hội đối với ngƣời già là một bộ phận quan trọng trong hệ thống
chính sách của nhà nƣớc Việt Nam. Các chính sách này ngày càng đƣợc thể hiện cụ
thể và rõ ràng hơn trong các giai đoạn phát triển sau này. Nhiều điều luật đƣợc xây
dựng và có nhiều điểm cũng đã điều chỉnh bổ sung nhằm đáp ứng với bối cảnh Việt
Nam đang tiến tới thời kỳ già hóa dân số, cùng với sự chuyển đổi kinh tế và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
19
Trƣớc những thay đổi về quan điểm của Liên hiệp Quốc về chính sách và tập
quán nhằm phát huy tiềm năng to lớn của ngƣời cao tuổi trên phạm vi toàn cầu
trong thế kỷ 21, mà Việt Nam cũng là nƣớc một thành viên, đã cho thấy yêu cầu cần
thiết phải thể chế hóa chính sách về ngƣời già thành Luật và theo hƣớng phù hợp
với thông lệ quốc tế có tính đến đặc điểm văn hóa của Việt Nam. Trong giai đoạn
hiện nay các chính sách xã hội đối với ngƣời già ở Việt Nam đã đƣợc thể chế hóa và
cụ thể hóa bằng luật và các văn bản luật. Năm 2004, Quốc hội đã ban hành Pháp
thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”;
truyền thụ kiến thức văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp
cho thế hệ trẻ.; 2/ Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và hòa giải các
tranh chấp, mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư; 3/ Đóng góp ý kiến xây dựng chính
sách, pháp luật; 4/ Tư vấn chuyên môn, kỹ thuật; 5/ Nghiên cứu, ứng dụng khoa học
và công nghệ; và 6/ Và hoạt động xã hội khác [73].
Năm 2005, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về
Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005-2010
10
. Đây là một văn bản quan trọng,
thể hiện nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong thực hiện cam kết quốc tế về NCT
trong hoàn cảnh và điều kiện thực tế của Việt Nam. Phát huy vai trò và kinh nghiệm
của ngƣời cao tuổi chính là tạo điều kiện để họ tham gia có hiệu quả vào các hoạt
động phù hợp với nhu cầu, khả năng, và thực hiện bình đẳng trong hƣởng thụ những
thành quả của quá trình phát triển. Các chính sách phát huy vai trò của ngƣời già
đƣợc cụ thể hóa trong Chƣơng trình này bao gồm các nội dung nhƣ sau:
Tạo môi trường và điều kiện để NCT phát huy tài năng, trí tuệ và phẩm chất
tốt đẹp trong việc tham gia các hoạt động văn hóa - xã hội. Khuyến khích động viên
và tạo điều kiện cho NCT tham gia các hoạt động kinh tế như khôi phục nghề và
dạy nghề truyền thống, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm… theo điều kiện và
khả năng cụ thể.
Tạo môi trường thuận lợi cho NCT được tham gia học tập suốt đời và truyền
thụ những kiến thức văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp
cho thế hệ trẻ, gương mẫu đi đầu và làm nòng cốt trong phong trào xây dựng xã hội
học tập, xây dựng gia đình, dòng họ hiếu học.
Tạo điều kiện để NCT tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp
luật nhất là những vấn đề liên quan đến người cao tuổi, tư vấn chuyên môn, kỹ
thuật và nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực y tế,
giáo dục, nghiên cứu khoa học - công nghệ… [11].
11
Điều 23. Phát huy vai trò của ngƣời cao tuổi: 1. Giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nƣớc, yêu con ngƣời và
thiên nhiên; 2. Xây dựng đời sống văn hoá; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở cơ sở và cộng
đồng; tham gia các phong trào khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng ngƣời có đức, có
tài và các cuộc vận động khác tại cộng đồng; 3. Truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa,
xã hội, khoa học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ; 4. Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng
khoa học và công nghệ; tƣ vấn chuyên môn, kỹ thuật; 5. Phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; 6.
Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn XH; hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng; 7. Thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng, quan liêu; phòng,
chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội; 8. Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia giám sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật; 9. Các hoạt động XH khác vì lợi ích của Tổ chức và nhân dân.
12
Điều 24. Trách nhiệm phát huy vai trò ngƣời cao tuổi: 1) Nhà nƣớc có trách nhiệm thực hiện các biện pháp
sau đây để ngƣời cao tuổi phát huy vai trò phù hợp với khả năng của mình: a) Tạo điều kiện để ngƣời cao
tuổi đƣợc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơ quan, tổ chức về những vấn đề mà ngƣời cao tuổi
quan tâm; b) Tạo điều kiện để ngƣời cao tuổi là nhà khoa học, nghệ nhân và những ngƣời cao tuổi khác có
kỹ năng, kinh nghiệm đặc biệt, có nguyện vọng đƣợc tiếp tục cống hiến; c) Ƣu đãi về vốn tín dụng đối với
ngƣời cao tuổi trực tiếp sản xuất, kinh doanh tăng thu nhập, giảm nghèo; d) Biểu dƣơng, khen thƣởng
ngƣời cao tuổi có thành tích xuất sắc. 2) Cơ quan, Hội ngƣời cao tuổi, các tổ chức khác, gia đình và cá nhân
có trách nhiệm tạo điều kiện để ngƣời cao tuổi thực hiện các hoạt động phát huy vai trò ngƣời cao tuổi.
22
nay, gia đình mở rộng nhiều thế hệ ngày càng thu hẹp, với nguồn thu nhập hạn chế,
nhiều gia đình không thể bảo đảm việc nuôi dƣỡng bố mẹ già. Vì vậy bên cạnh
chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc nhằm cân bằng và đảm bảo cuộc sống cho tuổi già
thì trách nhiệm phát huy vai trò của ngƣời già vào sự phát triển đất nƣớc cần đƣợc
thúc đẩy hơn nữa [99, tr. 12]. Việc thúc đẩy sự tham gia của ngƣời già vào sự phát
triển xã hội vừa là trách nhiệm của chính phủ, của các tổ chức đoàn thể và là trách
nhiệm từ các thành viên trong gia đình, cộng đồng.
quan sát dân tộc học về tập tục về ngƣời già ở nhiều bộ lạc, tộc ngƣời trên thế giới.
Mỗi bộ tộc có những tập quán và quan niệm về cách đối xử với ngƣời già khác
nhau, nhƣng nhìn chung vai trò của ngƣời già cũng có nhiều điểm khá tƣơng đồng.
vai trò của ngƣời già ở xã hội nguyên thủy là một đặc điểm nổi bật. Ngƣời già đƣợc
ca ngợi theo lối thần bí trong các câu chuyện, và họ đƣợc miêu tả nhƣ những ngƣời
có tài nghệ ma thuật, những nhà sáng chế, ngƣời trị bệnh. Theo Simon De Beauvoir
có khoảng cách giữa huyền thoại và tập tục thực sự về tuổi già, và trên thực tế vai
trò của ngƣời già không hề bị ảnh hƣởng từ những chuyện hoang đƣờng của ngƣời
nguyên thủy (họ thƣờng hình dung thần linh là ông già vĩ đại tràn đầy sức lực và trí
tuệ, hoặc ngƣời Hoopi coi ngƣời đàn bà nhện già phát minh ra nghề thủ công).
Theo mô tả của Simon De Beauvoir, trong xã hội nguyên thủy, thời đó, ngƣời
ta coi những ngƣời 50 tuổi là ngƣời già, thậm chí rất già. Ở nhiều tộc ngƣời, ngƣời
già bị tách khỏi cộng đồng, sống cuộc sống ngoài lề, không đƣợc tôn kính và họ có
thể bị bỏ rơi trong rừng khi làng dời đi (ví dụ ngƣời Fang), khi mà “sự cùng khổ lên
tới đỉnh điểm”, và ngƣời già “có thể trở thành gánh nặng và bị khinh rẻ” trong xã
hội của ngƣời Thongga, một bộ tộc sống bên bờ đông Nam Phi, họ vốn “không ƣa
thích ngƣời già, chế giễu, ăn mất phần ăn của họ”
13
. Ngƣời Hopi, ngƣời da đỏ,
ngƣời Creek, ngƣời Crow và ngƣời Boschiman ở Nam Phi có tập tục dẫn ngƣời già
tới túp lều đƣợc dựng ở xa làng, để lại cho họ ít nƣớc uống, cái ăn và bỏ mặc. Hoặc 13
Thậm chí ở một số bộ tộc du canh ngƣời già không muốn sống sau những cuộc hành trình dài, đói rét,
ngƣời Koryak sống ở phía Bắc Xiberi “có tục giết ngƣời già nhƣ những ngƣời bị bệnh nan y, họ còn sẵn sàng
khoe tài của mình, chỉ ra những nơi trên cơ thể có nhát dao hay giáo gây tử vong. Cuộc hạ sát diễn ra trƣớc
mặt toàn thể cộng đồng trong một buổi lễ phức tạp kéo dài”. Bộ tộc ngƣời Chukchee ở Xiberi, ngƣời già
buôn bán có chút vốn liếng đƣợc trọng vọng, trong khi một số khác sống trong gia đình làm nghề đánh cá
khốn khó, họ sống vất vả tới mức mà họ dễ dàng chọn cái chết [79].