27
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ LỆ THU
XUNG ĐỘT THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH NÔNG
THÔN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp xã Cao Đại - huyện Vĩnh Tường - tỉnh
Vĩnh Phúc)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI - 2007
28
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
XUNG ĐỘT THẾ HỆ TRONG GIA
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. MT
Mâu thuẫn
2. XĐ
Xung đột
3. XĐTH
Xung đột thế hệ
4. GĐ
Gia đình
5. PTCS
Phổ thông cơ sở
6. PTTH
Phổ thông trung học
7. SC-TC
Sơ cấp - Trung cấp
8. CĐ-ĐH
Cao đẳng - Đại học
9. Trên ĐH
Trên đại học
5.1. Giả thuyết nghiên cứu…………………………………………………………
10
5.2. Sơ đồ tƣơng quan giữa các biến số………………………………………………
11
6. Phƣơng pháp nghiên cứu………………………………………………………
12 PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
14
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
14
1. Cơ sở lý luận…………………………………………………………………….
14
1.1. Quan điểm Marxist về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử……………………………………………………
14
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về gia đình……………………………
15
1.3. Các hƣớng tiếp cận lý thuyết xó hội học…………………………………….
16
1.4. Các khái niệm cụng cụ…………………………………………………………
19
31
1.4.1. Gia đình………………………………………………………………………
19
1.4.2. Xung đột………………………………………………………………………
21
47
1.5. Mức độ hài lòng đối với các mối quan hệ có tính chất
liên thế hệ trong gia đình …………………………………………………………
50
2. Nguyên nhân của XĐTH trong các gia đình nông thôn hiện nay.…
53
2.1. Nguyên nhân thuộc về sự khác biệt tâm - sinh lý giữa các thế hệ…….
55
2.2. Nguyên nhân kinh tế………………………………………………………
59
2.3. Nguyên nhân do sự khác biệt giữa cỏc thế hệ về trình độ nhận thức………
62
2.4. Nguyên nhân về sự khác biệt môi trƣờng xã hội hóa cá nhân………….
65
2.5. Nguyên nhân thuộc về sự khác biệt lối sống, lẽ sống,
kinh nghiệm sống giữa các cá nhân……………………………………………
68
32
2.6. Nguyên nhân do sự khác biệt giữa các thế hệ về các ƣu nhƣợc điểm…
71
3. Tác động của XĐTH đối với đời sống gia đình nông thôn hiện nay.
77
4. Cách giải quyết XĐTH trong gia đình nông thôn hiện nay………………
82
4.1. Cách giải quyết XĐTH trong gia đình……………………………………….
82
33
PHẦN I:
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
GĐ là tế bào của xó hội, là mụi trƣờng xó hội hoỏ quan trọng đối với mỗi
cá nhân. Các cá nhân sinh ra, lớn lên và đƣợc trao truyền các giá trị văn hoá,
trong đó có giá trị của tiểu văn hoá GĐ, cũng nhƣ các giá trị xó hội, trƣớc hết là
từ GĐ, sau đó mới là từ xó hội. Vai trũ của GĐ đối với các cá nhân là vô cùng
to lớn. Nó định hƣớng cho cá nhân những giá trị tốt đẹp để mỗi cá nhân có thể
tự tin bƣớc vào cuộc sống rộng lớn xung quanh và thực hiện các vai trũ mà xó
hội trao gửi cho cỏ nhõn đó.
Tuy nhiên, đất nƣớc đang đổi thay từng ngày cùng với cơ chế thị trƣờng
và hội nhập quốc tế. Xu hƣớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đó kộo theo sự thay
đổi đáng kể các vấn đề trong GĐ. Nhƣ lời Ăngghen: "GĐ là một yếu tố năng
động: nó không bao giờ đứng nguyên một chỗ" [4, 57]. Sự biến đổi của các vấn
đề GĐ mang tính tất yếu khách quan. Chúng ta đang chứng kiến sự tồn tại song
song của rất nhiều loại hỡnh GĐ. Chúng ta cũng đang bất ngờ trƣớc sự khác
biệt rừ nột của GĐ hiện đại so với GĐ truyền thống. Ngày hôm qua, những đứa
trẻ cũn bị khuụn kớn sau những luỹ tre làng và những gỡ chỳng đƣợc học chủ
yếu từ cha mẹ, ông bà chúng. Ngày hôm nay, trẻ em đƣợc lĩnh hội những tri
thức mới mẻ và lạ lẫm, chúng biết đến Internet, và môi trƣờng xó hội hoỏ của
chỳng mở rộng hơn thế hệ cha mẹ chúng rất nhiều. Mặc dù trong mọi giai đoạn
lịch sử, GĐ vẫn có vai trũ vụ cựng quan trọng đối với mỗi cá nhân, song chúng
ta cũng cần nhận thấy những thay đổi trong chức năng của thiết chế GĐ trong
từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Những khỏc biệt thế hệ núi riờng, khác biệt giữa các thành viên trong GĐ
nói chung đang trở thành những vấn đề xó hội nổi cộm trong đời sống GĐ hiện
đại do khả năng phá vỡ cấu trúc GĐ của nó. GS.TS. Đặng Cảnh Khanh từng
35
nhất hơn. Tính đa dạng trong cách nhỡn nhận, đánh giá về XĐTH trong GĐ đó
khiến cho vấn đề này trở nên hấp dẫn hơn. Hơn nữa, mỗi chúng ta đều có thể
không mấy khó khăn nhận ra ngay trong GĐ mỡnh những điểm khác biệt giữa
các thế hệ. Chúng ta sống trong không khí hoàn toàn khác với cha mẹ chúng ta,
và cha mẹ chúng ta có đời sống, bối cảnh trƣởng thành hoàn toàn khác so với
thế hệ ông bà chúng ta,… Những khác biệt về môi trƣờng sống, khỏc biệt trong
quỏ trỡnh xó hội hoỏ cỏ nhõn, khỏc biệt về sức khoẻ và yếu tố tõm sinh lý, khỏc
biệt về cơ hội tiếp cận các loại hỡnh giỏo dục… đó đẩy các thế hệ trong GĐ ra
xa nhau hơn về nhận thức và hành vi. Mức độ và phạm vi của sự khác biệt đó
cú vai trũ quan trọng đối với không khí tỡnh cảm trong GĐ. Nghiên cứu về mối
quan hệ giữa các thế hệ trong GĐ nói chung, về MT thế hệ nói riêng do đó càng
trở nên cần thiết hơn. Nó sẽ cho chúng ta thấy bức tranh sâu sắc và cụ thể hơn
của mối quan hệ này, cho thấy các dạng MT thƣờng gặp trong GĐ, nguyên
nhân, và xu hƣớng của nó. Qua đó mỗi chúng ta có thể nhỡn thấy một phần
hỡnh ảnh của GĐ mỡnh, từ đó có thể củng cố sợi dây gắn kết mối quan hệ này.
Những nghiên cứu về MT thế hệ trong GĐ không nhiều, tác giả mong
muốn đề tài sẽ là một điểm gợi mở cho các hƣớng nghiên cứu tiếp theo về vấn
đề này.
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
2.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu trong luận văn góp phần soi rọi tính hợp lý
của các lý thuyết xã hội học đƣợc sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài. Luận
văn cũng đóng góp một phần quan trọng cho mảng đề tài xung đột vốn còn
hiếm hoi trong các nghiên cứu xã hội học hiện nay.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp cho chúng ta cái nhìn tƣơng đối toàn
diện về xung đột thế hệ trong gia đình nông thôn hiện nay. Những nguyên nhân
chủ yếu, cách giải quyết và xu hƣớng của xung đột thế hệ trong thời gian tới
4.4. Phạm vi nghiờn cứu:
* Khụng gian nghiờn cứu: Xó Cao Đại - huyện Vĩnh Tƣờng - tỉnh Vĩnh
Phúc.
* Thời gian nghiên cứu: Tháng 6-9 năm 2006
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ SƠ ĐỒ TƢƠNG QUAN GIỮA CÁC
BIẾN SỐ
5.1. Giả thuyết nghiờn cứu
5.1.1. Mặc dù giữa các thế hệ trong gia đình nông thôn hiện nay đang có
sự hoà thuận nhất định, song giữa họ vẫn tồn tại các dạng XĐ, đặc biệt là XĐ
về kinh tế và XĐ về cách cƣ xử. Những XĐ thế hệ xung quanh vấn đề lẽ sống ít
trở thành dạng XĐ nổi cộm trong đời sống gia đình.
5.1.2. Sự khác biệt về tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức và kinh nghiệm
sống giữa các thế hệ là những nguyên nhân cơ bản tạo nên XĐTH trong gia
đình nông thôn hiện nay. Các yếu tố giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân và
nghề nghiệp của ngƣời đƣợc hỏi có chi phối đến đánh giá của ngƣời dân về các
nguyên nhân tạo XĐTH trong GĐ nông thôn hiện nay.
5.1.3. Cách giải quyết XĐTH trong các gia đình nông thôn hiện nay thiên
về việc các thế hệ trong gia đình cùng nhau giải quyết các mối XĐ theo hƣớng
hoà giải.
38
5.2. Sơ đồ tƣơng quan giữa các biến số
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Khỏc biệt
Theo báo cáo Dân số của Ban Dân số - Gia đình và trẻ em xã Cao Đại 6
tháng đầu năm 2006, tỷ lệ giới tính trong cơ cấu dân số của xã nhƣ sau: Tổng số
dân: 4766 ngƣời, trong đó nam: 2241 ngƣời (47.0%), nữ: 2525 ngƣời (53.0%).
Xuất phát từ tỷ lệ giới tính trong cơ cấu dân số xã Cao Đại nhƣ trên, cơ
cấu giới tính trong mẫu nghiên cứu gồm 313 ngƣời nhƣ sau:
+ Nam: 148/313 ngƣời (47.3%)
+ Nữ: 165/313 ngƣời (52.7%)
Với tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu nhƣ trên, chúng tôi nhận thấy tỷ
lệ giới tính của đối tƣợng đƣợc khảo sát đã đảm bảo đƣợc tính đại diện trong
quá trình nghiên cứu.
Về lứa tuổi của đối tƣợng đƣợc hỏi, cũng theo báo cáo Dân số của Ban
Dân số - Gia đình và Trẻ em xã Cao Đại 6 tháng đầu năm 2006, trong số 4766
ngƣời dân trong xã có 3816 ngƣời ở độ tuổi từ 10 trở lên có khả năng trả lời
bảng phỏng vấn của cuộc điều tra. Cụ thể tỷ lệ ngƣời dân theo lứa tuổi nhƣ sau:
+ Số ngƣời 10-25 tuổi: 1317 ngƣời (34.51%)
+ Số ngƣời 26-45 tuổi: 1358 ngƣời (35.59%)
+ Số ngƣời 46-60 tuổi: 594 ngƣời (15.57%)
+ Số ngƣời trên 60 tuổi: 547 ngƣời (14.33%)
40
Dựa trên số liệu do Ban Dân số - Gia đình và trẻ em xã Cao Đại cung
cấp, cơ cấu đối tƣợng khảo sát của đề tài nhƣ sau: Tổng số có 313 ngƣời đƣợc
hỏi, cơ cấu độ tuổi của họ nhƣ sau:
+ Số ngƣời 10-25 tuổi: 109 ngƣời (34.8%)
+ Số ngƣời 26-45 tuổi: 113 ngƣời (36.1%)
+ Số ngƣời 46-60 tuổi: 47 ngƣời (15.0%)
+ Số ngƣời trên 60 tuổi: 44 ngƣời (14.1%)
Với các tỷ lệ tƣơng ứng nhƣ trên, một lần nữa tính đại diện của đối tƣợng
khảo sát đƣợc đảm bảo.
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 6 đối
- Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải đƣợc xem xét khách
quan nhƣ nó đang tồn tại.
- Những hiện tƣợng xã hội phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ biện
chứng với nhau.
- Xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không
hướng tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường.
- Tuân thủ các nguyên tắc lịch sử cụ thể.
- Xem xét yếu tố con ngƣời mang bản chất xã hội, trong tính hiện thực
của nó, con ngƣời là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ
thể của xã hội. Từ đó, coi việc ra sức phát huy nhân tố con ngƣời, coi chiến
lƣợc con ngƣời là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Luận điểm về MT cũng chiếm một vị trí quan trọng trong lý luận triết học
Marxist. MT biện chứng là đặc tính vốn có của bất kỳ sự vật, hiện tƣợng nào.
42
Mọi sự vật chỉ tồn tại, chỉ có sức sống chừng nào nó bao hàm MT, chứa đựng
những MT, mà chúng ta gọi là các mặt đối lập. MT là động lực của sự phát
triển. K.Marx viết: “Sự cùng nhau tồn tại của hai mặt MT, sự đấu tranh giữa
hai mặt ấy và sự dung hợp hai mặt ấy thành một phạm trù mới tạo thành bản
chất của sự vận động biện chứng” [5, 191].
Trên cơ sở đó, chúng tôi xem xét những XĐTH trong các GĐ nông thôn
hiện nay nhƣ một hiện tƣợng tồn tại mang tính khách quan. Nó là một sự kiện
xã hội quan trọng cần đƣợc tìm hiểu, khảo cứu nhƣ bất kỳ một sự kiện tự nhiên,
xã hội và tƣ duy khác.
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về GĐ
Ngay từ những ngày đầu xây dựng nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, Đảng và
Nhà nƣớc Việt Nam đã rất quan tâm tới gia đình và luôn khẳng định vị trí, vai
trò của gia đình; coi gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định
sự phát triển bền vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại
R.Dahrendoff là một trong những đại biểu tiêu biểu của thuyết XĐ xã hội
trong lý thuyết xã hội học hiện đại. Ông tuy kế thừa quan điểm của K.Marx,
song cũng tiếp tục bổ sung nhiều luận điểm cho trƣờng phái XĐ. Ông cho rằng
XĐ có ở bất kỳ xã hội nào, nó là kết quả tất yếu của quá trình tƣơng tác xã hội
giữa các cá nhân, các nhóm xã hội…. vì mọi ngƣời đều không đồng nhất với
nhau một cách hoàn toàn xét cả về con ngƣời sinh học và các giá trị chuẩn mực.
Chính sự không đồng nhất đó đã tạo ra XĐ giữa các cá nhân, các nhóm, các xã
hội, các quốc gia dân tộc và trên toàn thế giới. Nói nhƣ vậy có nghĩa theo
Dahrendoff, XĐ có thể nảy sinh từ nhiều cấp độ khác nhau, từ vĩ mô đến vi mô,
chứ không nhất thiết chỉ nảy sinh trên cấp độ vĩ mô, cấp độ giai cấp xã hội nhƣ
trong quan điểm của K.Marx. Tuy nhiên, ông cũng là ngƣời phê phán những
nhà xã hội học quá tập trung vào các đặc điểm tâm lý hoặc hành vi của các cá
thể. ở một luận điểm "dữ dằn" hơn, ông coi những ngƣời này không phải là các
nhà xã hội học. Dahrendoff cũng cho rằng XĐ là hiện tƣợng hoàn toàn khách
44
quan, do đó giải quyết XĐ cũng cần sử dụng các phƣơng pháp khách quan. Ông
đƣa ra phƣơng pháp quan trọng trong giải quyết XĐ, đó là phƣơng pháp khoanh
vùng XĐ, có nghĩa là giải quyết các XĐ một cách triệt để trong phạm vi nảy
sinh XĐ, hạn chế sự lây lan của XĐ sang các lĩnh vực xã hội khác.
Lý thuyết XĐ của Dahrendoff đã cố gắng tích hợp hai trƣờng phái quan
trọng trong xã hội học: trƣờng phái XĐ và trƣờng phái chức năng. Nghĩa là ông
vừa thực sự quan tâm đến trạng thái tĩnh của mọi dạng thức xã hội, song vẫn
quan tâm đến những động lực của biến đổi xã hội, đó là các XĐ. Quan điểm của
ông có vẻ nhƣ đƣợc ứng dụng nhiều hơn trong lĩnh vực quản lý, vì ông đề cập
khá nhiều đến sự XĐ giữa những ngƣời ở những vị trí khác nhau gắn với các
quyền hạn khác nhau trong hệ thống. Tuy nhiên ông vẫn dành một phần sự quan
tâm của mình đến việc lý giải các XĐ nói chung nảy sinh trong đời sống xã hội.
Dahrendoff đƣợc xem là ngƣời phát ngôn chính của luận điểm cho rằng xã
hội có tính hai mặt: tính tƣơng đồng và tính XĐ. Xuất phát từ những tƣơng
ngƣời. Ban đầu, ngƣời ta chƣa thật hiểu nhau, sau đó, một chuỗi các hành vi
đƣợc thực hiện trong một thời gian dài sẽ dẫn đến sự thống nhất hoá các biểu
trƣng và đem lại ý nghĩa cho nó, khi đó nó trở thành biểu trƣng có ý nghĩa, và là
công cụ giao tiếp trong xã hội loài ngƣời.
Có hai cấp độ thể hiện của ý nghĩa biểu trƣng. Ở cấp độ nhóm: Khi nhóm
cùng chia sẻ với nhau những ý nghĩa biểu trƣng mà các cá nhân trong nhóm
thực hiện hành động, nghĩa là hành động xã hội của các cá nhân trong nhóm gợi
cho nhóm và các cá nhân còn lại những cách ứng xử tƣơng tự nhƣ nhau. Ở cấp
độ lớn hơn - cấp độ xã hội - các ý nghĩa biểu trƣng đƣợc cả xã hội chia sẻ và có
chung thái độ, phản ứng trƣớc hiện tƣợng đó.
Các biểu trƣng có ý nghĩa đƣợc truyền đạt cho các thế hệ sau thông qua
quá trình xã hội hoá, các cá nhân thực hiện việc "nội tâm hoá" các biểu trƣng,
và tiếp tục sử dụng nó trong tƣơng tác xã hội. Sự xuất hiện của các ý nghĩa biểu
trƣng gắn liền với hành động xã hội của con ngƣời. Hành động chỉ trở thành
biểu trƣng có ý nghĩa khi nó gợi lên trong mỗi chúng ta những phản ứng tƣơng
46
tự nhau. Khi thực hiện các tƣơng tác xã hội, các chủ thể hành động đọc và lý
giải trên cơ sở các biểu trƣng có ý nghĩa mà đối tƣợng hành động gợi ý cho họ,
từ đó đƣa ra hành động đáp lời. Do đó, khả năng dự đoán trƣớc phản ứng của
đối tác là điều hoàn toàn có thể làm đƣợc, và chúng ta sẽ hƣớng câu chuyện
theo cách thức có lợi cho chúng ta, đạt đƣợc mục đích mà chúng ta đề ra trong
cuộc trao đổi.
Chúng ta có thể lý giải những XĐTH trong GĐ dựa trên lý thuyết của
thuyết TTBT của G.H.Mead. Những khác biệt giữa các thế hệ lớn tuổi và thế hệ
trẻ do y sinh học, do quá trình sinh ra, trƣởng thành trong những giai đoạn lịch
sử khác biệt, sự thiếu đồng nhất giữa họ về trình độ học vấn, trình độ nhận thức,
những khác biệt trong quan niệm về mục đích, lý tƣởng sống,… đã khiến cho ý
nghĩa biểu trƣng đƣợc các nhóm độ tuổi khác nhau khó có thể hoà hợp. Những
khó khăn về kinh tế, hoặc việc các thành viên trong GĐ quá mải mê với việc
Theo nhà khoa học xó hội ngƣời Pháp Jacques Sabran cho rằng: "Xó hội
vi mụ coi GĐ như điểm xuất phát và do đó cũng là đơn vị cơ bản của xó hội.
GĐ là xó hội vi mụ đầu tiên dạy dỗ những hỡnh thức của đời sống vật chất,
những mó giao tiếp, bắt đầu từ ngôn ngữ, các biểu hiện về thể chất và các giá
trị tinh thần, trí tuệ, tư tưởng của môi trường và GĐ nằm trong đó cũng như lớp
xó hội bao quanh nú" [13, 12]. Định nghĩa này dƣờng nhƣ đó quỏ nhấn mạnh
đến mặt chức năng của GĐ mà chƣa thực sự chú ý đến cấu trúc của GĐ.
Luật Hôn nhân và GĐ Việt Nam nói: "GĐ là tế bào của xó hội, là cỏi nụi
nuụi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hỡnh thành và giỏo dục nhõn
cỏch (…)". Đây là khái niệm chƣa thực sự mang tính xó hội học [20,7]
Một định nghĩa về GĐ đƣợc rất nhiều nhà xó hội học Việt Nam tỏn đồng,
đó là: "GĐ là một nhóm xó hội hỡnh thành trờn cơ sở các quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ. Các
thành viên trong GĐ gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn
48
hoá, tỡnh cảm…). Giữa họ cú những ràng buộc cú tớnh phỏp lý được Nhà nước
thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những quy định rừ ràng về quyền được phép
và những cấm đoán trong quan hệ tỡnh dục giữa cỏc thành viờn GĐ" [13, 12]
Cú rất nhiều loại hỡnh GĐ, tuỳ theo tiêu chí phân loại mà có thể chia ra
các kiểu GĐ khác nhau. Theo quy mô, GĐ gồm:
- GĐ hạt nhõn: Cú quy mụ nhỏ, gồm cha mẹ và con cỏi
- GĐ mở rộng: Gồm 3 thế hệ trở lên cùng chung sống
GĐ với tính cách là một thiết chế xó hội thực hiện những chức năng sau:
- Chức năng tái sản xuất con ngƣời (chức năng duy trỡ nũi giống)
- Chức năng xó hội hoỏ, chăm sóc nuôi dƣỡng con cái
- Chức năng kinh tế
- Chức năng tâm lý, tỡnh cảm
1.4.2. Xung đột
Khái niệm XĐ xã hội đƣợc sử dụng một cách rất khác nhau trong các
- Sự cạnh tranh: trong một bối cảnh xã hội chung mà lại có nhiều lực lƣợng,
nhiều ngƣời cùng cố gắng để đạt tới mục tiêu thì hiện tƣợng cạnh tranh xuất
hiện. Khi có những mục tiêu mang giá trị lớn là đối tƣợng cạnh tranh thì cuộc
cạnh tranh này sẽ kịch liệt hơn
Nhƣ vậy, so với cách tiếp cận của G.Endruweit và G.Trommsdorff thì
cách tiếp cận của tác giả Vũ Cao Đàm hẹp hơn, chỉ nhấn mạnh yếu tố quyền lợi
đối lập và đòi hỏi nhận diện các đƣơng sự hay phe phái XĐ.
Trong phạm vi báo cáo của mình, chúng tôi tiếp cận XĐ xã hội một cách
tổng hợp theo các hƣớng trên. Tuy vậy, để phù hợp với đối tƣợng nghiên cứu là
XĐTH trong GĐ, chúng tôi giới hạn vấn đề theo cách hiểu của tác giả
50
Dahrendoff. Có nghĩa là, XĐ tồn tại dƣới nhiều dạng thức khác nhau, có thể
ngầm ẩn, có thể biểu lộ, và có sự chuyển hoá từ dạng XĐ này sang dạng XĐ
khác.
1.4.3. Thế hệ
Theo GS. Nguyễn Nhƣ í, thế hệ là "lớp ngƣời cùng lứa tuổi" [21,1557].
Nhƣ vậy, có thể hiểu thế hệ là những ngƣời ngang bằng nhau về độ tuổi, nhƣ
trong xó hội thỡ cú thế hệ già và thế hệ trẻ, thế hệ ụng bà và thế hệ con chỏu,
thế hệ đi trƣớc, thế hệ đàn anh,…
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, xuất phát từ cơ cấu độ tuổi ngƣời dân
xó Cao Đại - huyện Vĩnh Tƣờng - tỉnh Vĩnh Phúc do Ban Dân số - GĐ và trẻ
em cung cấp, trong đó chia rừ 4 nhúm độ tuổi: dƣới 25 tuổi - hầu hết là thanh
thiếu niên chƣa lập GĐ và đang cũn sống phụ thuộc vào những ngƣời lớn trong
GĐ; từ 25-45 tuổi là nhóm những ngƣời đó lập GĐ, sinh con và ổn định cuộc
sống; 46-60 tuổi là nhóm những ngƣời ở độ tuổi trung niên và nhóm sau độ tuổi
lao động: trên 60 tuổi. Quan hệ giữa các thành viên ở các nhóm tuổi khác nhau
này trong GĐ đƣợc coi là đối tƣợng xem xét trong đề tài: "XĐ trong GĐ nông
thôn hiện nay"
1.4.4. Xung đột thế hệ
khỏc nhau. Nhà xó hội học Mỹ Neil Smelser núi: "Xó hội hoỏ là quỏ trỡnh mà
trong đó cá nhân học đƣợc cách thức hành động tƣơng ứng với vai trũ của
mỡnh", nghĩa là cỏ nhõn chỉ thụ động tiếp thu kinh nghiệm xó hội để hoàn
thành tốt vai trũ xó hội mà họ đƣợc giao phó. Fichter lại cho rằng: "Xó hội hoỏ
là một quỏ trỡnh tƣơng tác giữa ngƣời này với ngƣời khác, kết quả là một sự
chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu
đó", nghĩa là tính chủ động của cá nhân trong suốt quá trỡnh xó hội hoỏ đƣợc
nâng lên trong cách đánh giá của Fichter.