1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
****** @ ******
PHẠM THỊ THUÝ
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ
(Nghiên cứu trường hợp xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC Hà Nội, 2004
CHỮ VIẾT TẮT
BCT : Bộ Chính trị
BCH HPN : Ban chấp hành hội phụ nữ
CNH- HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
GS : Giáo sư
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTCT : Hệ thống chính trị
HTX : Hợp tác xã
Nxb : Nhà xuất bản
LHPN : Liên hiệp phụ nữ
TS : Tiến sỹ
Tr : Trang
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
[32.25] : Trích trang 25 của tài liệu tham khảo số 32
trong danh mục tài liệu tham khảo
15
Phần 2: Phần nội dung
18
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận
18
1.1. Những khái niệm cơ bản
18
1.2. Cơ sở lý luận
25
1.3. Phương pháp luận
30
Chương 2: Vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở Việt
Nam hiện nay
31
2.1. Nhận thức chung về vai trò, vị trí của phụ nữ.
31
2.1.1.Phụ nữ nguồn nhân lực quan trọng
31
2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà
nước về vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị.
35
2.2. Sự thay đổi hệ giá trị chuẩn mực về vai trò của phụ nữ trong
lãnh đạo, quản lý (từ sau cách mạng tháng Tám, 1945).
42
2.3. Sự tham gia của phụ nữ trong tương quan với nam giới trong
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
46
Chương3: Vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở cơ sở
59
động của hệ thống chính trị của cả nước nói chung và ở cơ sở nói
riêng.
102
3.4.2. Hệ quả đối với gia đình
104
3.4.3. Hệ quả đối với phụ nữ
104
Phần 3: Kết luận và một số khuyến nghị
109
1. Kết luận
109
2. Một số khuyến nghị
110
Phụ lục
113
- Phụ lục 1: Danh sách phụ nữ lãnh đạo được phỏng vấn
(Kết quả khảo sát của tổ chức ESCAP (tổ chức của Liên hợp quốc
về kinh tế-xã hội của Châu Á) do PGS.TS. Lê Thị Quý cùng tham
gia nghiên cứu năm 2000).
113
- Phụ lục 2: Đề cương phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập
trung.
114
- Phụ lục 3: Danh sách các trường hợp phỏng vấn sâu
119
- Phụ lục 4: Phụ nữ Nhật: Động lực phục hồi kinh tế bị bỏ quên.
121
- Phụ lục 5: Phụ nữ lãnh đạo tốt hơn đàn ông? (theo Vnexpress)
122
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống chính trị ở cơ sở có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng
trong hệ thống chính trị của một quốc gia. Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi
tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở là nơi
tổ chức, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách và là nơi kiểm
định tính đúng đắn của mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước. Hệ thống chính trị ở cơ sở là cầu nối trực tiếp đưa nghị quyết của
Đảng vào cuộc sống, là nơi cung cấp cơ sở thực tiễn sát hợp nhất để đưa cuộc
sống vào nghị quyết. Đồng thời, hệ thống chính trị ở cơ sở cũng là nơi phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, huy động
mọi khả năng để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng
dân cư. [104. 6, 125]
Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực
và hiệu quả cao đang là một yêu cầu bức thiết ở nước ta hiện nay. Vấn đề đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở là một trong những chủ
đề quan trọng được đặt ra trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá IX vừa qua. Một trong những yếu tố quyết định
chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở là trình độ chính trị, chuyên môn,
chủ nghĩa xã hội, trong đó vấn đề nâng cao địa vị của phụ nữ đã được Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế -
xã hội nói chung và trong hệ thống chính trị ngày càng được khẳng định. Tuy
nhiên, trên thực tế cho thấy vẫn còn những bất cập giữa ý thức và hành động
thực tiễn, điều đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
nói chung và hệ thống chính trị ở cơ sở nói riêng.
Số lượng phụ nữ làm lãnh đạo ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ khá khiêm
tốn trong lực lượng lao động. Hiện nay có sự chưa cân đối giữa nam và nữ
trong bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Số lượng phụ nữ tham
gia lãnh đạo, quản lý còn quá ít. Vị thế, vai trò của phụ nữ trong hệ thống
chính trị chưa được đánh giá đúng. Những đóng góp và năng lực của phụ nữ
chưa được xác định và huy động Phụ nữ tham gia trong ban chấp hành Đảng
uỷ các cấp mới chỉ đạt tỷ lệ 10-11%. Tỷ lệ nữ ở vị trí chủ chốt (bí thư, phó bí
thư, uỷ viên thường vụ) chỉ đạt từ 3-8%. Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo trong
chính quyền ở các cấp Trung ương đạt tỷ lệ từ 7-11% đối với cấp bộ trưởng,
thứ trưởng, 12-13 % đối với cấp vụ trưởng, vụ phó. Còn ở cấp địa phương, tỷ
lệ nữ trong UBND các cấp chỉ đạt 5-7% và nữ chủ tịch, phó chủ tịch chỉ đạt
2-4%. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND khoá 1999-2004 còn thấp: đạt 22,5% cấp tỉnh, 11
20,7% cấp quận/ huyện và 16,62% cấp xã/ phường [28. 2, 3]. Và tỷ lệ nữ đại
biểu HĐND khoá 2004 - 2009 đạt 23,83% cấp tỉnh, 23,22% cấp quận/ huyện
và 20,1% cấp xã/ phường (báo Quân đội nhân dân, số 15506, thứ 3 ngày 29-
6-2004).
Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan của Đảng và Nhà
12
đề tài : “Vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở cơ sở (nghiên cứu
trường hợp tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)” làm luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về giới là một lĩnh vực khá mới ở Việt Nam. Vài năm trở
lại đây, các nghiên cứu về giới được tiến hành dưới nhiều góc độ khoa học
khác nhau đã góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới và bình
đẳng giới trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quản lý. Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, tôi chưa có điều kiện tìm hiểu hết những công trình
nghiên cứu liên quan đến vấn đề giới, vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính
trị. Tôi chỉ xin nêu ra một số công trình nghiên cứu sau:
Công trình “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lí” - do Trung tâm nghiên
cứu khoa học lao động nữ thực hiện, xuất bản tại Nxb Chính trị quốc gia năm
1997. Tác phẩm là sự tổng hợp các tham luận tại cuộc hội thảo “Nâng cao
năng lực quản lí của phụ nữ trong cơ chế thị trường”. Tác phẩm đã phân tích
tác động của cơ chế thị trường tới việc tham gia lãnh đạo của phụ nữ, từ đó
gợi ý những giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của phụ nữ. Nhưng
các tác giả chưa đề cập hết những tác động tới phụ nữ lãnh đạo xuất phát từ
các thiết chế xã hội khác.
Một nhà nghiên cứu khác cũng quan tâm tới vấn đề phụ nữ tham gia
lãnh đạo, nhưng ở một khía cạnh khác, đó là PGS. TS. Lê Thị Quý với công
trình "Một số khó khăn của phụ nữ làm lãnh đạo", đăng trên tạp chí Khoa học
về phụ nữ số 6/2001. Bài viết trình bày những khó khăn của phụ nữ làm lãnh
đạo do chính phụ nữ nêu ra, thông tin lấy từ nghiên cứu định tính về "Vai trò
của phụ nữ trong chính quyền ở thành thị ở Việt Nam hiện nay" được tiến
hành với sự tài trợ của Uỷ ban Kinh tế - xã hội của Châu Á - Thái Bính
Dương -ESCAP thực hiện cuối năm 2000. Bài viết nêu ra những cản trở đối
với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý là vì lý do phân biệt nam nữ, phụ
Một công trình xã hội học của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng
“Phụ nữ, giới và phát triển”, Nhà xuất bản phụ nữ, 2000 cũng đã sử dụng
hướng tiếp cận xã hội học về giới để đề cập tới sự bình đẳng giới trong chính
trị. Cụ thể, tác phẩm chứng minh phụ nữ là nhóm yếu thế so với nam giới
trong việc tham gia công tác lãnh đạo ở Việt Nam. Tác phẩm nêu ra những
thông tin định tính và định lượng nhằm khẳng định các luận điểm về sự bất
bình đẳng giới đối với phụ nữ trong lãnh đạo các cấp.
Các tác giả nước ngoài đề cập rất nhiều đến vấn đề này, chẳng hạn như
công trình "Gender, readings and Resourcer for community Based natural 14
resources Management Researchers", Vol.1, Sam London, IDRC, 12, 1998.
Công trình này đã đề cập đến vị trí kinh tế - xã hội của phụ nữ trong tương
quan với nam giới, chứ không dừng lại ở việc mô tả, giải thích hay động viên
phụ nữ khi bàn về vấn đề đưa phụ nữ vào hệ thống chính trị, đồng thời đi sâu
phân tích mối quan hệ về quyền lực, cơ hội tiếp cận các nguồn lực, tiếng nói
của phụ nữ và nam giới nhằm tìm ra cách thức, biện pháp giải phóng phụ nữ
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và quản lý nhà nước.[63. 49]
3. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Đóng góp vào Lý thuyết xã hội học về giới, và xã hội
học quản lý khi nghiên cứu vị thế, vai trò của phụ nữ trong quản lý.
- Về mặt thực tiễn: Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ
và vấn đề giới trong hệ thống chính trị ở cơ sở, từ việc đề xuất các giải pháp,
góp phần nâng cao bình đẳng giới và chất lượng hoạt động của hệ thống chính
trị ở cơ sở.
+ Thời gian: từ tháng 4/2004 đến tháng 6/ 2004.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định tính làm phương pháp nghiên cứu.
Vì thực tế, tỷ lệ nữ lãnh đạo ở hệ thống chính trị xã Liên Minh còn thấp, nên
phương pháp định tính là phương pháp phù hợp để tìm hiểu thông tin sâu, đưa
ra một số phát hiện về nhóm khách thể và những nguyên nhân chính ảnh
hưởng tới vai trò lãnh đạo, quản lý của phụ nữ.
- Phỏng vấn sâu: 55 trường hợp, cụ thể cơ cấu mẫu như sau:
20 cán bộ nữ (1 nữ bí thư chi bộ thôn, 2 nữ trưởng thôn, 8 nữ bí thư
Đoàn Thanh niên, 12 nữ cán bộ Hội phụ nữ)
20 cán bộ nam,
5 chồng cán bộ nữ,
10 người dân địa phương (5 nữ và 5 nam).
(Xem chi tiết tại phụ lục 3: Danh sách các trường hợp phỏng vấn sâu)
Luận văn có sử dụng kết quả phỏng vấn sâu trong đề tài "Vai trò lãnh
đạo của phụ nữ trong chính quyền thành thị" của tổ chức ESCAP (tổ chức
của Liên hợp quốc về kinh tế-xã hội của Châu Á) do tiến sỹ Lê Thị Quý phụ
trách phần Việt Nam, năm 2000, để so sánh. Nhóm chuyên gia đã phỏng vấn
sâu 15 đối tượng lãnh đạo các cấp từ Trung ương tới Tỉnh, Thành phố, Quận.
Cụ thể như sau : 02 lãnh đạo trong Quốc hội; 05 Phó chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh, thành phố; 01 Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; 01
Bí thư Quận uỷ; 01 Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh; 01 Trưởng ban dân vận tỉnh; 01
Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; 01 Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Quận 16
Môi
trường
kinh tế-
văn
hoá- xã
hội
Cá nhân
Gia đình
Cộng đồng
Vai trò
của
phụ nữ
trong
hệ
thống
Hiệu quả
hoạt động
của hệ
thống
chính trị ở
cơ sở và
bình đẳng
giới
Hệ thống
chính trị
3. Đóng góp của đề tài
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 18
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Kết cấu luận văn
Phần 2: Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.2. Cơ sở lý luận
1.3. Phương pháp luận
Chương 2: Vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
2.1. Nhận thức chung về vai trò, vị trí của phụ nữ.
2.1.1.Phụ nữ nguồn nhân lực quan trọng
2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về vai
trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị.
2.2. Sự thay đổi hệ giá trị chuẩn mực về vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo,
quản lý (từ sau cách mạng tháng 8/1945).
2.2.1. Định kiến giới - ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo
2.2.2. Những quan niệm mới về vai trò của phụ nữ
2.3. Sự tham gia của phụ nữ trong tương quan với nam giới trong hệ thống
chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở cơ sở qua nghiên
3.4.3. Hệ quả đối với phụ nữ
Phần 3: Kết luận và một số khuyến nghị
1. Kết luận
2. Một số khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục 20
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm vị thế xã hội
Vị thế xã hội là một dạng biểu hiện địa vị con người được hình thành
trong cơ cấu xã hội, phụ thuộc vào sự thẩm định, đánh giá của xã hội. Vị thế
xã hội được hiểu là chỗ đứng của một cá nhân trong xã hội và mối quan hệ
của cá nhân đó với người khác.
Vị thế xã hội của một cá nhân luôn gắn liền với những trách nhiệm và
quyền hạn nhất định của cá nhân đó.
Vị thế xã hội không chỉ được xác định một cách khách quan mà còn
theo ý nghĩa chủ quan. Theo Hyman: “Địa vị được xác định trên cơ sở nhận
thức của cá nhân đối với vị trí của bản thân so với người khác, nhất là so với
đồng nghiệp, bạn bè, người láng giềng của cá nhân đó” [15.164] .Đặc trưng
quan trọng của vị thế bao hàm sự xét đoán, ước lượng, phê phán bởi người
khác và cả sự tự ý thức của bản thân.
Vị thế xã hội còn là giá trị, mức độ đánh giá uy tín của một cộng đồng
Vai trò xã hội được phân theo nhiều loại: Vai trò đơn giản, vai trò phức
tạp, vai trò chỉ định, vai trò lựa chọn. Tuỳ mức độ cao hay thấp của giá trị xã
hội mà có những vai trò cao, hoặc thấp khác nhau. Trong phức hợp vai trò của
một người, luôn nổi lên vai trò then chốt, vai trò then chốt này không cố định,
bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian.
Trong giới hạn luận văn, tác giả sử dụng khái niệm “vai trò của phụ nữ
trong hệ thống chính trị cơ sở ” là tập hợp các vai trò mà người phụ nữ đảm
nhận phù hợp với vị thế lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở cơ sở, đó
là vai trò lãnh đạo, vai trò tham mưu, vai trò chấp hành.
Căng thẳng và xung đột vai trò
Căng thẳng vai trò xảy ra khi cá nhân thấy rằng sự trông đợi của một
vai trò không thích hợp và họ khó khăn trong việc thực hiện vai trò đó, nhất là
những vai trò được nhiều người mong đợi, kỳ vọng quá nhiều vào vai trò mà
cá nhân đóng.
Xung đột vai trò xảy ra khi cá nhân cùng một lúc chiếm giữ hai hay
nhiều địa vị và khi cá nhân tham gia nhiều nhóm xã hội khác nhau, họ phải
đáp ứng những mong đợi của những nhóm xã hội khác nhau, nhiều khi những
trông đợi đó xung đột với nhau về lợi ích. 22
Chẳng hạn, xung đột “vai trò kép” của nữ cán bộ, tức là giữa vai trò
người cán bộ trong cơ quan với vai trò người vợ, người mẹ hay người con
trong gia đình. Muốn thực hiện tốt cả hai vai trò, đòi hỏi họ phải điều hoà và
giải quyết tốt xung đột, căng thẳng vai trò. Nếu không, chính họ là người phải
chịu mọi hậu quả của những xung đột vai trò, điều mà xã hội không mong
Phạm vi đề tài nghiên cứu hệ thống chính trị ở xã Liên Minh bao gồm:
Tổ chức Đảng, tổ chức chính quyền, tổ chức Mặt trận và các đoàn thể, (gồm
cả trưởng thôn, xóm, chi hội trưởng chi hội phụ nữ, bí thư chi bộ mọi đối
tượng làm công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể).
Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở [104.105]
1. Cấp thấp nhất của HTCT Việt Nam thực hiện việc quản lý tương đối
toàn diện song có bộ máy đơn giản nhất.
2. Cấp gần dân nhất, mang tính nhân dân rõ nhất và cán bộ chủ chốt
hoàn toàn phụ thuộc vào lá phiếu trong các kỳ bầu cử.
3. Là cấp có đội ngũ cán bộ không chuyên nghiệp và ít được đào tạo
nhất (ngay cả đội ngũ chuyên môn của UBND thì 87% chưa qua đào tạo
chuyên môn)
4. Là cấp mà trình độ văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp
nhất (6,2% cán bộ chủ chốt, 10,2% đại biểu HĐND, 5,6% thành viên UBND,
4,7% cán bộ chuyên môn có trình độ văn hoá cấp III).
5. Là cấp mà chi phí của nhà nước tính trên đầu cán bộ thấp nhất.
6. Là cấp mà hiệu quả của HTCT phụ thuộc nhiều vào cá nhân lãnh đạo
7. Là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá ứng xử truyền thống có ảnh
hưởng đáng kể tới hiệu quả của HTCT.
Là một hệ thống tổ chức gồm nhiều yếu tố hợp thành và nhiều cấp độ
khác nhau, nghiên cứu và tiếp cận hệ thống chính trị cơ sở đòi hỏi phải quán
triệt các quan điểm cơ bản của lý luận khoa học xã hội Mác xít và các lý
thuyết xã hội học, mà trước hết phải kể đến quan điểm hệ thống và quan điểm
lịch sử cụ thể. Quan điểm hệ thống khi nghiên cứu về hệ thống chính trị cấp
xã đòi hỏi phải nhìn nhận nó như một thực thể trong hệ thống chính trị quốc
gia, có mối quan hệ hữu cơ với nhiều thành tố khác bên trong và ngoài hệ
thống đó. Bên cạnh đó, quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi phải xem xét hệ
thống chính trị cấp xã trong bối cảnh nông thôn nước ta hiện nay, cho dù đã
phân công lao động giữa nam và nữ. Vai trò giới được xác định theo văn hoá,
không theo khía cạnh sinh học và có thể thay đổi theo thời gian bởi những tác
động bên ngoài, biến đổi theo các xã hội và các vùng khác nhau. Thực tế, từ
khi sinh ra chúng ta không có ngay những đặc tính giới mà chúng ta học
những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá. 25
Giới thể hiện các đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa nam và nữ
cho nên rất đa dạng. Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với xã hội và các
yếu tố xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục, tập quán Các quan
niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thể thay đổi được. Quan
niệm cho rằng các công việc “bếp núc” là “thiên chức” của phụ nữ đã được
xem xét lại và đang bị phê phán. Phụ nữ ngày nay, ngoài chức năng tham gia
sản xuất, làm kinh tế, chăm sóc và nuôi dạy con cái trong gia đình, họ còn
phải thực hiện các chức năng quan trọng khác liên quan đến vai trò xã hội
rộng lớn hơn, trong đó có vai trò lãnh đạo, quản lý. Luận văn phân tích vai trò
của phụ nữ trong hệ thống chính trị ở cơ sở trong tương quan về vai trò với
cán bộ nam.
Tương quan giới
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau. Tương quan giới là mối
quan hệ qua lại giữa nam và nữ, sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa nam và
nữ.
1.1.5. Khái niệm lãnh đạo, quản lý
Lãnh đạo:
Theo khoa học về quản lí, lãnh đạo của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư
chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để
thực hiện các mục tiêu của tổ chức đó”. Nói theo cách dễ hiểu, quản lý chính
là “bắt người khác làm” và “bảo đảm cho mọi việc được làm”, là “đưa những
người khác vào khuôn khổ cho họ thực hiện được những cái mà họ phải làm”.
Như vậy, quản lý được hiểu theo nhiều cách khác nhau như (năng lực
dẫn dắt, tổ chức, điều hành, lập kế hoạch, ) nhưng chung quy quản lý vừa
là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, đồng thời là một nghề dẫn dắt một
nhóm người đạt được mục đích, mục tiêu của tổ chức. Quản lý là sự tác động
của chủ thể quản lý (nhà quản lý) đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục
tiêu đề ra của tổ chức.
Quản lý là sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều
khiển, hướng dẫn, kiểm tra các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức, đối với
quá trình xã hội và hoạt động của con người) để chúng phát triển phù hợp với
quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng với ý chí của nhà quản lý
với chi phí thấp nhất. Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu
chung của nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một
nhà nước.
27
Phân biệt khái niệm lãnh đạo và quản lý:
Lãnh đạo thường giải quyết những vấn đề có tính tổng thể còn quản lý
thường giải quyết vấn đề có tính cụ thể. Trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thì chức năng lãnh đạo tổng quát của Đảng