Nghi lễ cắt giải tiền duyên trong lên đồng của đạo mẫu ở Việt Nam ( Qua nghiên cứu thực tế tại Phủ Dày - Xã Kim Thái - Huyện Vụ Bản - Tỉnh Nam Định ) - Pdf 13



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN HÀ THỊ THU HIỀN
NGHI LỄ CẮT GIẢI TIỀN DUYÊN TRONG LÊN
ĐỒNG CỦA ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM ( QUA NGHIÊN
CỨU THỰC TẾ TẠI PHỦ DẦY- XÃ KIM THÁI -
HUYỆN VỤ BẢN - TỈNH NAM ĐỊNH)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số : 603160

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Ngô Đức Thịnh Hà Nội - 2011


3.1.1 Con đường dẫn đến vai trò đồng thầy. 50
2
3.1.2 Tâm tư, nguyện vọng sau khi tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên
của đồng thầy N. 56
3.2 Nguyên nhân tiến hành nghi lễ cùng tâm tư, nguyện vọng của người
đi làm lễ. 60
3.2.1 Nhân vật thứ nhất. 61
3.2.2 Nhân vật thứ hai. 67
3.2.3 Nhân vật thứ ba. 72
3.3 Thử đưa ra những nhận xét, đánh giá về nghi lễ cắt giải tiền duyên. 77
3.3.1 Nghi lễ cắt giải tiền duyên được nhìn dưới góc độ một hiện tượng
văn hóa xã hội. 78
3.3.2 Nghi lễ cắt giải tiền duyên được làm xuất phát từ niềm tin tôn
giáo của con người. 81
3.3.3 Những tác động của nghi lễ cắt giải tiền duyên với xã hội Việt
Nam hiện nay. 84
PHẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC ẢNH 98
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng dân gian của người Việt và một số dân tộc khác có tục thờ Nữ
thần, thờ Mẫu và Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ mà ngày nay chúng ta gọi là Đạo Mẫu

về nghi lễ này là một việc nên làm. Cho nên chúng tôi nghĩ rằng đề tài này mang
tính thiết thực và cần được quan tâm nghiên cứu hơn nữa.
3. Đối tượng nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu, tư liệu tham khảo.
Đối tượng mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn của mình gồm các nhân
vật: đồng thầy – người trực tiếp tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên, và những
người phụ nữ đi làm lễ cắt giải tiền duyên. Chúng tôi nghiên cứu và đề cập đến các
nhân vật này dưới góc độ tiểu sử, lý do họ làm nghi lễ, tâm tư tình cảm của họ
trước và sau khi đã tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên. Bên cạnh đó chúng tôi
cũng miêu tả về phương thức tiến hành của nghi lễ cắt giải tiền duyên.
Vấn đề tìm hiểu về các nghi lễ của Đạo Mẫu đã được đề cập đến trong một
số nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước. Trong đó có nhiều công trình
khoa học, tác phẩm viết đầy đủ, chi tiết về nghi lễ lên đồng, hầu bóng của tín
ngưỡng thờ Mẫu. Trước cách mạng có Việc thờ cúng các vị thần bất tử ở Việt
Nam xuất bản năm 1944 bằng tiếng Pháp của tác giả Nguyễn Văn Huyên. Những
năm gần đây, bắt đầu từ năm 1990, khi tín ngưỡng thờ Mẫu gần như được phục
hưng trỗi dậy, thì vấn đề này được các nhà học giả Việt Nam chú ý xem xét như
vấn đề văn hóa. Nhiều công trình ra đời liên quan đến vấn đề này, đáng chú ý là
cuốn Vân Cát thần nữ của GS Vũ Ngọc Khánh xuất bản năm 1990 và cuốn Tứ bất
tử của GS Vũ Ngọc Khánh, GS.TS Ngô Đức Thịnh xuất bản năm 1991. Ngoài ra
còn có các tài liệu khảo sát về Các nữ thần ở Việt Nam của Mai Thị Ngọc Chúc và
Đỗ Thị Hảo bước đầu đã tích hợp thần tích, công trạng, ngọc phả của 75 vị nữ thần
ở Việt Nam. Bên cạnh đó tài liệu của tác giả Đặng Văn Lung về Tam tòa Thánh
Mẫu xuất bản năm 1991, các công trình chuyên khảo về đạo Mẫu như Hát Văn,
Đạo Mẫu ở Việt Nam do GS.TS Ngô Đức Thịnh chủ biên xuất bản năm 1996,
cuốn sách Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Trung Bộ do tác giả Nguyễn Văn Thông chủ
biên năm 2002. Đặc biệt hơn cả là các bài tham luận của học giả trong, ngoài nước
về tục thờ Mẫu Việt Nam trong hội thảo “Tín ngưỡng thờ Mẫu và Lễ hội Phủ Dầy”
tổ chức tại Hà Nội từ 30/3 đến 2/4/2001 được tập hợp đầy đủ trong cuốn Đạo Mẫu
4
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tư liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Đạo Mẫu, nghi lễ lên đồng và về Phủ Dầy.
Chương 2: Nghi lễ cắt giải tiền duyên của Đạo Mẫu ở Việt Nam (Qua khảo
cứu thực tế tại Phủ Dầy – Xã Kim Thái – Huyện Vụ Bản – Tỉnh Nam Định).
Chương 3: Nghi lễ cắt giải tiền duyên từ cái nhìn của những người trong
cuộc
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẠO MẪU, NGHI LỄ LÊN ĐỒNG VÀ VỀ
PHỦ DẦY.
1.1 Tổng quan về Đạo Mẫu.
Tục thờ nữ thần và thờ Mẫu là một tín ngưỡng có từ lâu đời trên thế giới.
Đây là hiện tượng tín ngưỡng tâm linh, đặc trưng của tín ngưỡng này là coi trọng
phụ nữ, coi trọng đời sống nông nghiệp.
Như vậy truyền thống thờ nữ thần, thờ Mẫu ở Việt Nam thuộc phạm trù của
khái niệm Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam
1
, thuộc mẫu hình của Nguyên
lý Mẹ. Đối với Việt Nam, cũng như cái nét chung của loài người, kết thúc Mẫu hệ
là bước vào thời kỳ của Phụ hệ. Nhưng ngay cả khi làm ra chiếc trống đồng, trong
văn hóa Đông Sơn, người phụ nữ cũng là người đánh đầu tiên. Vậy sức mạnh của
giới nữ, các vị nữ thần nằm ở đâu, mà trong văn hóa Việt Nam hiện tượng này là
phổ biến, và tín ngưỡng thờ nữ thần có khắp mọi nơi, và tín ngưỡng Mẫu là nét đặc
trưng rất riêng, mà trong đó nổi bật là thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Thậm chí nét
riêng biệt đặc biệt đó mà có nhiều người gọi đó là Đạo Mẫu
2

việc lập gia đình, sinh con, có công trạng với nhân dân. Ngoài ra ở Nam Bộ còn có
tục thờ Bà Chúa Xứ, Bà Thủy, Bà Hỏa… là những vị thần nữ có quyền phép phù
trợ cho đời sống hàng ngày của cư dân nơi đây.
Khi tìm hiểu về Đạo Mẫu chúng ta có cảm nhận rằng các vị thần linh trong
Tam Phủ và Tứ Phủ được sắp xếp giống như mô hình một triều đình nơi trần thế.
Khi gạt bỏ những sai khác có tính địa phương, chắt lọc những cái chung chúng ta
có thể đưa ra một hệ thống điện thần Đạo Mẫu như sau[36, tr. 22]:
- Ngọc Hoàng
- Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu
Thoải, Địa Tiên Thánh Mẫu).
- Ngũ vị Vương quan (Từ Đệ nhất đến Đệ ngũ), thường người ta xếp
Đức Thánh Trần vào hàng các Quan.
- Tứ vị Chầu bà hay Tứ vị Thánh bà là hóa thân trực tiếp của Tam tòa
Thánh Mẫu.
- Ngũ vị Hoàng tử (gọi theo từ Đệ nhất đến Đệ ngũ).
- Thập nhị Vương cô (gọi theo thứ tự từ 1 đến 12).
- Thập nhị Vương cậu ( gọi theo thứ tự từ 1 đến 12).
- Quan ngũ Hổ.
6
- Ông Lốt.
Trong điện thờ Mẫu, hệ thống thần linh cũng được chia ra làm các phủ riêng
biệt. Và mỗi phủ đó đại diện cho một miền khác nhau của vũ trụ. Trong Đạo Mẫu
hiện nay tồn tại quan niệm Tam Phủ và Tứ Phủ. Tứ Phủ là gồm ba phủ trong Tam
Phủ (Thiên, Địa, Thoải) và có thêm Phủ Thượng Ngàn (Nhạc Phủ). Ngoài ra còn
có các địa điểm thờ Mẫu Liễu Hạnh lớn được gọi là Phủ như Phủ Giầy (Nam
Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội) là xuất phát từ sự mô phỏng của dân gian theo cách
định danh cung vua, phủ chúa thời vua Lê, chúa Trịnh. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu

có sự khác biệt nhau. Trước khi hầu, ông đồng hay bà đồng thông qua người chủ
đền phải làm lễ chúng sinh và lễ thánh. Cúng xong người ta đốt vàng mã cho
chúng sinh và các Thánh Tứ Phủ rồi rắc quanh chùa hay đền.
Theo trật tự thời gian có thể phân một buổi hầu đồng của đồng thầy khi làm
các nghi lễ kèm theo như:cắt giải tiền duyên, di cung hoán số… thành các bước:
thánh giáng, thay lễ phục thắp hương làm phép, múa đồng, làm nghi lễ, ban lộc và
nghe văn chầu, thánh thăng. Có hai hình thức thánh giáng: giáng trùm khăn (gọi là
hầu tráng mạn) và giáng mở khăn. Các giá thánh mẫu đều theo hình thức trùm
khăn (tráng mạn). Hình thức hầu mở khăn, tức thánh nhập thực sự và xuất hiện
trước mặt mọi người là hình thức hầu dành cho hầu hết các Thánh từ Quan trở
xuống. Khi thánh đã nhập, ông đồng hay bà đồng dùng tay ra hiệu (thánh nam
nhập thì ra hiệu bàng tay trái, thánh nữ nhập thì ra hiệu bằng tay phải) và tung khăn
phủ diện. Lúc này hai người hầu dâng giúp người hầu đồng thay lễ phục cho phù
hợp với vị trí và tính cách từng người[36, tr. 53].
Sau khi thay đổi lễ phục, ông đồng hay bà đồng làm lễ dâng hương. Đó là
nghi thức không thể thiếu được của bất cứ sự hiện diện nào của các vị thánh. Sự
nhập hồn và tái sinh của thánh vào cơ thể các ông đồng, bà đồng được biểu hiện
sống động bằng các động tác múa. Trong quá trình này người đồng thầy mang
bóng thánh sẽ tiến hành các nghi lễ như cắt giải tiền duyên hoặc trình đồng tiễn căn
theo quyền năng của mình. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản về hầu đồng của
đồng thầy so với thanh đồng. Sau đó, thánh tiến hành nghi lễ dâng rượu và phát lộc
cho người dự hầu.
Tùy theo từng vị thánh hay sở thích của từng ông đồng, bà đồng mà việc
truyền phán, phát lộc nhanh hay lâu rồi sau đó thánh thăng. Dấu hiệu thánh thăng
8
thường là lúc ông đồng, bà đồng ngồi yên, khẽ rùng mình, hai tay bắt chéo trước
trán hay che quạt lên đỉnh đầu… thì lúc đó người hầu dâng phải nhanh chóng phủ

9
Di tích Phủ Dầy gắn liền với sự tích Mẫu Liễu Hạnh. Ngoài việc thờ Mẫu, từ
xa xưa ở đây đã có nhiều đền thờ được xây dựng để thờ các danh nhân, những
nhân vật lịch sử, những người có công với đất nước, quê hương và được tôn là
Thành hoàng làng. Nhưng hiện nay các di tích và phủ trên đều trở thành nơi thờ
Mẫu Liễu Hạnh cùng hệ thống thần linh Tam phủ, Tứ phủ.
Ngày nay Phủ Dầy có hai phủ lớn là Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát, Lăng
Mẫu. Ngoài ra bao quanh hai phủ là hệ thống các đền, miếu. Theo các cụ già trong
làng, cách đây 100 năm tại mỗi thôn có một phủ nhỏ hàng năm mở phủ từ 2 – 3
ngày và số lượng người tham gia cũng không ít.
Phủ Vân Cát được viên tổng đốc Nam Định là Cao Xuân Dục đứng ra xây
dựng từ một ngôi đền nhỏ, xây dựng thành một phủ bề thế. Phủ Tiên Hương xây
dựng sau Phủ Vân Cát nên quy mô còn to lớn và cao đẹp hơn Phủ Vân Cát do tổng
đốc Nam Định là Đoàn Triển đứng ra giúp người thôn Tiên Hương xây dựng. Năm
1938, lăng Mẫu được xây bằng đá xanh và đá đỏ trên ngôi miếu đã gây một tiếng
vang lớn cho làng Tiên Hương. Từ đó khách thập phương đến lễ phủ chính và lăng
Mẫu rất nhiều[48, tr. 74]
Chương 2: NGHI LỄ CẮT GIẢI TIỀN DUYÊN CỦA ĐẠO MẪU Ở VIỆT
NAM (QUA NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TẠI PHỦ DẦY – XÃ KIM THÁI -
HUYỆN VỤ BẢN - TỈNH NAM ĐỊNH).
2.1 Giải thích khái niệm.
2.1.1 Nghi lễ
Theo “Từ điển Tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt” của Rosemary Ellen
nghi lễ (Ritual) có nghĩa chỉ một hành động lễ nghi, nhất là mang mục đích tôn
giáo hay thiêng liêng. Nghi lễ được hiểu là nghi thức khi hành lễ, hội đủ các yếu tố
mang tính văn hóa tâm linh.
Yếu tố nghi lễ bao gồm sự đọc nhẩm, niệm thần chú ca hát, cầu nguyện và
khẩn cầu, nhảy múa cử động hay tư thế, trang phục hay quần áo đặc biệt, nhang,
khói, đèn cầy và lửa, đồ cúng tế hay hiến tế, thức ăn, thức uống (hay trái lại ăn
chay), tẩy uế, sử dụng đồ vật, thánh tích, dụng cụ, hình ảnh và biểu tượng thần

vị vương quan, ngũ vị tôn ông) trong Đạo Mẫu, Tam phủ, Tứ phủ, sau hàng Tam
vị Thánh mẫu. Vai trò Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh là Thanh tra, giám sát nhân gian,
trừ tà sát quỷ.
11
Nhưng điều mà chúng tôi quan tâm ở đây không phải là thời điểm chính xác
nghi lễ ra đời, có hay không có tồn tại trong Đạo Mẫu, hay làm nghi lễ theo cách
nào là hiệu quả nhất mà chính là tác động của nghi lễ lên tâm lý, đời sống con
người. Do vậy chúng tôi sẽ mô tả chi tiết về nghi lễ được tiến hành như thế nào
dưới sự thực hiện của một bên là người thầy cúng (pháp sư) và một bên là đồng
thầy Đạo Mẫu để có sự đối sánh cho người đọc cái nhìn toàn diện về nghi lễ.
2.2.2 Nghi lễ cắt giải tiền duyên do thầy pháp sư thực hiện
Khi đi sâu tìm hiểu chúng tôi được biết nghi lễ cắt giải tiền duyên từ lâu đã
tồn tại trong các lễ cúng của những người thầy cúng mà bản thân họ khi theo
nghiệp gia đình được những người đi trước truyền lại. Nhưng hiện tại nghi lễ mà họ
tiến hành khá cầu kỳ trong khi đó nghi lễ cắt giải tiền duyên được các đồng thầy
của Đạo Mẫu làm đơn giản nhanh gọn và kinh phí cũng ít hơn. Có lẽ vì vậy nhiều
người tìm đến với Đạo Mẫu hơn và coi nghi lễ này chỉ có trong Đạo Mẫu.
Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi được biết nghi lễ cắt giải tiền duyên do
các pháp sư, thầy cúng tiến hành có kinh phí vào khoảng từ 5 đến 10 triệu và mang
tính chất đại đàn có thể được thực hiện ở đền hoặc chùa được làm từ sáng đến 9
hoặc 10 giờ đêm. Trước tiên nghi lễ được tiến hành bằng nghi thức phát tấu. Đây là
nghi thức nhằm nêu lý do của buổi lễ và dâng tên tuổi gia chủ làm lễ lên Phật. Đại
diện cho nghi lễ này là 5 vị quan ngũ phương được coi là các vị sứ giả bao gồm
Đông Phương Thanh Đế, Nam Phương Xích Đế, Tây Phương Hắc Đế, Bắc Phương
Bạch, Đế, Trương Ương Hoàng Đế. Và 5 vị quan này sẽ mang giấy sớ đến cõi Phật
để trình lên Phật. Nghi thức này mang tính chất phát tấu sớ làm cơ sở cho lễ cúng
Phật tiếp theo nên rất quan trọng.

nhiều. Đồng thầy N là người tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên cho những người
mà khi bóng cậu bé Hoàng Thiên nhập vào cô xem và cho biết họ có duyên âm
theo hay không. Nghi lễ này thường được cô đồng N làm trong các ngày lễ lớn.
Chi phí cho nghi lễ này được cô đồng N thu với giá là 1 triệu đồng.
Tuy nhiên nghi lễ cắt giải tiền duyên là một nghi lễ nhỏ, đồ mã chuẩn bị trực
tiếp phục vụ cho nghi lễ là hai hình nhân bằng giấy. Một hình nhân làm bằng giấy
màu đỏ, một được làm bằng giấy màu vàng. Hình nhân màu đỏ tượng trưng cho
người nam giới, còn hình nhân màu vàng tượng trưng cho người nữ giới. Quan sát
hai hình nhân, chúng tôi thấy hình nhân màu đỏ không ghi chữ gì, còn hình nhân
13
màu vàng trên thân được khoác một dải giấy trắng ghi tên, tuổi của người đi cắt
giải tiền duyên bằng chữ Nho và chữ Việt. Và hai hình nhân được nối với nhau
bằng một dải giấy trắng ghi dòng chữ Nho được viết hai đầu với hai nội dung khác
nhau. Gắn với hình nhân nam là dòng chữ “Thai trừ quỷ hồn chúng đẳng bất đắc
vãng lai sa hạ”, còn đầu giấy gắn với hình nhân nữ ghi chữ “Thai sinh nhân thọ
mệnh duyên trường sa hạ”. Và chúng tôi được giải thích nghĩa của hai dòng chữ
trên chính là mong muốn đẩy lui tất cả vong hồn không được làm cản trở cuộc
sống con người nữa, bảo vệ cho họ thọ mệnh, duyên được bách niên giai lão.
Ngoài ra cô đồng N còn phải nhờ thầy cúng làm một loạt sớ viết bằng chữ Nho để
dâng lên Mẫu và hội đồng các bóng, các giá, các tòa để cầu cho nghi lễ thành công.
Buổi lễ hầu được mở đầu bằng việc tráng bóng Mẫu đệ nhất, đệ nhị, đệ tam
sau đó đồng thầy N lần lượt hầu đến các giá quan lớn. Quan đệ Nhất se giá, quan
đệ Nhị được cô N hầu nhằm mục đích cho ngài chứng đàn lễ làm việc. Sau đó là
quan đệ Tam được thỉnh về làm việc chứng đàn, chứng mã, chứng sớ của buổi lễ .
Khi quan đệ Tam hồi cung, quan lớn đệ Tứ cũng về se giá. Cuối cùng của hàng
quan lớn chính là quan lớn đệ Ngũ hay chính là quan lớn Tuần Tranh. Nghi lễ cắt
giải tiền duyên sẽ được thực hiện trong giá Quan Tuần Tranh.

Cũng giống như các nghi lễ khác của Đạo Mẫu, các bước thực hiện nghi lễ cắt giải
tiền duyên này được diễn ra tuần tự từ bước chuẩn bị đồ lễ cho đến lúc làm lễ. Từ
việc tìm hiểu nghi lễ cắt giải tiền duyên trong Đạo Mẫu và trong lễ cúng của các
thầy pháp sư chúng ta thấy có những điểm tương đồng về các bước cúng lễ như lễ
Phật, lễ thánh.

Chương 3: NGHI LỄ CẮT GIẢI TIỀN DUYÊN TỪ CÁI NHÌN CỦA
NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC.
3.1 Nghi lễ cắt giải tiền duyên dưới cái nhìn của người đồng thầy.
Tại Phủ Dầy có nhiều đồng thầy tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên nhưng
chúng tôi chỉ tìm hiểu nghi lễ này được thực hiện bởi đồng thầy tên N, một người
có tiếng tăm trong giới hầu thánh ở Nam Định. Tất cả những điều về nhân vật sẽ
được chúng tôi trình bày một cách trung thực nhất.
3.1.1 Con đường dẫn đến vai trò đồng thầy.
3.1.1.1 Tiểu sử nhân vật.
15
Nhân vật mà chúng tôi muốn nhắc đến là một người phụ nữ có tên N. Cô
sinh năm 1963 và từ khi được ăn lộc từ cậu bé Hoàng Thiên, ra đàn mở phủ, xem
bói tiên đoán vận hạn cho mọi người cô được những người trong và ngoài giới hầu
đồng gọi bằng danh xưng “cậu N”.
Sinh ra tại huyện Mỹ Lộc, thành phố Nam Định trong một gia đình bình dân.
Bố mẹ cô nguyên là diễn viên trong đoàn chèo Nam Định, nhưng cuộc sống gia
đình không hạnh phúc và hai người đã sớm chia tay . Ngay từ bé cô N đã rất thích
đi lễ chùa và nghe hát chầu văn. Gần nhà cô ở có một ngôi chùa và hàng tháng vào
ngày rằm và mùng một cô luôn theo bà đi lễ chùa. Cô kể thích nhất là vào rằm
tháng 7 chùa làm lễ xá tội vong nhân, chùa tổ chức lễ lớn, cầu kinh cả ngày.
Năm cô lên 8 tuổi, bố cô đi bộ đội về. Ông lập gia đình riêng và cô lần lượt

Mẫu. Hiện nay dưới cô có hàng trăm con nhang đệ tử giúp việc cho cô trong các
khóa lễ lớn và các buổi hầu. Không biết có phải được ăn lộc thánh khi xem bói cho
mọi người cô thấy được những nguyên nhân của trắc trở trong cuộc đời họ, vận
hạn sắp đến cô đã làm cho họ các lễ như trình đồng, tiến căn, cắt giải duyên âm, di
cung hoán số…
3.1.2 Tâm tư, nguyện vọng sau khi tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên
của đồng thầy N.
Cô đồng N là một đệ tử của Đạo Mẫu nhưng trong tâm mình cô luôn sống
theo quan niệm của Đạo Phật. Cô luôn coi mọi việc đều có nhân quả. Người làm
điều tốt sẽ được nhận lại điều tốt và ngược lại. Vì vậy cô thấy việc làm các nghi lễ
của Đạo Mẫu nói chung và nghi lễ cắt giải tiền duyên là một việc làm tốt cho mọi
người nhằm cho con người sống hạnh phúc trọn vẹn ở kiếp này. Bởi vì là phụ nữ
cô hiểu được nỗi khổ của việc trục trặc nhân duyên do đó khi làm cho họ cô đều
mong họ sớm có niềm vui.
Với người chưa có gia đình thì sớm có người yêu tiến tới hôn nhân, còn với
người đã có gia đình sẽ sống trọn đời với chồng con không bị trục trặc gì, có nhiều
tài lộc. Từ khi mở phủ có “tay ấn tay quyết” trong tay cô đã làm lễ cho hàng trăm
người chỉ tính riêng trong nghi lễ cắt giải tiền duyên. Khi chúng tôi hỏi cô con số
cụ thể cô không thể nêu được bởi vì trong mỗi khóa lễ lớn cô đều tiến hành nghi lễ
này cho khoảng gần chục người.
17
3.2 Nguyên nhân tiến hành nghi lễ cùng tâm tư, nguyện vọng của người
đi làm lễ.
3.2.1 Nhân vật thứ nhất.
Người phụ nữ ấy có tên là Q.H, một phụ nữ rất xinh đẹp đầy quyến rũ. Q.H
là một kế toán trưởng trong một cơ quan lớn ở Hà Nội. Năm nay cô 32 tuổi, sinh ra
và lớn lên trong một gia đình bố mẹ đều làm công nhân viên chức ở Nam Định.

cách biệt lớn về tuổi tác dẫn đến trong cuộc sống vợ chồng không phải lúc nào
cũng được hòa đồng với nhau. Kể từ khi sinh đứa con thứ hai sự xa cách này càng
lớn. Khi được cô đồng N xem bói cho biết là có duyên âm theo cô đã đi cắt duyên
âm để mong có một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Cô đã có sự nhiều trải nghiệm
và đánh giá về nghi lễ.
3.2.3 Nhân vật thứ ba.
Chị M sinh năm 1985, cái tuổi chưa phải là quá già nhưng cũng không còn
trẻ trung so với ở quê nữa. Chị hiện giờ sống cùng mẹ và làm kế toán viên ở Uỷ
ban xã. Với chị công việc lúc này đã phần nào ổn định, nhưng chuyện tình cảm của
chị không được như ý muốn. Là một người con gái tuy không xinh nhưng ở chị
người khác phái luôn cảm nhận được nét duyên ngầm, sự thùy mị nết na nên ngay
từ cấp III chị đã có nhiều người để ý.
Sau những mất mát về tình cảm, chị được mẹ đưa đến chỗ cô đồng N xem
bói và được biết sự trục trặc về tình duyên của mình là do có duyên âm theo. Chị
M đã tiến hành nghi lễ cắt giải tiền duyên tại Phủ Dầy. Tiến hành nghi lễ này xong
chị thấy mình thoải mái hơn trước và tự tin bước vào cuộc sống phía trước.
3.3 Thử đưa ra những nhận xét, đánh giá về nghi lễ cắt giải tiền duyên.
3.3.1 Nghi lễ cắt giải tiền duyên được nhìn dưới góc độ một hiện tượng
văn hóa xã hội.
Dưới góc độ văn hóa chúng ta có thể coi việc thực hiện nghi lễ cắt giải tiền
duyên như một hiện tượng văn hóa xã hội. Mục đích của nó có cả hai mặt, một bên
là thỏa mãn những nhu cầu tâm linh (có pha trộn một niềm tin tôn giáo khá đậm
nét), một mặt ở góc độ nào đấy nó như một sinh hoạt tín ngưỡng nhưng thỏa mãn
hai mặt vừa tôn giáo, vừa văn hóa của một tầng lớp người. Những người thực hiện
nghi lễ này không nhất thiết là tín đồ Đạo Mẫu như trong nghi lễ hầu đồng nhưng
19
họ có một niềm tin nhất định vào sự linh thiêng của nghi lễ hoặc họ nhận được tác


20
niềm tin này, họ luôn tin vào thần linh để mong có một cuộc sống bình an, hạnh
phúc bằng các lời kêu cầu, bằng những nghi lễ.
Câu hỏi được đặt ra là trong nghi lễ cắt giải tiền duyên của Đạo Mẫu khi dựa
vào niềm tin con người được và mất điều gì? Trong quá trình nghiên cứu của mình,
chúng tôi thực sự cảm nhận được sự thay đổi về tình cảm của họ sau khi tiến hành
nghi lễ. Ở họ điều thể hiện lớn nhất chính là giải thoát về mặt tâm lý. Sau nghi lễ
dù ít hay nhiều họ đều chia sẻ tâm sự thoải mái hơn trước kia. Họ phần nào đó tin
rằng sau nghi lễ thần linh đã biết mặt biết tên họ và che chở cho họ.
Nghi lễ cắt giải tiền duyên được con người tiến hành dựa vào niềm tin tôn
giáo có cần thiết hay không? Thực tế đã cho chúng ta nhiều bài học về mất niềm
tin trong cuộc sống. Vì vậy trong tiến hành nghi lễ của một tôn giáo, niềm tin giúp
người ta nhận ra được những điều mà con người bình thường không thấy được, cho
người ta sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần
tục. Nên nếu thực hành nghi lễ tôn giáo nói chung trong đó có nghi lễ cắt giải tiền
duyên nói riêng trên cơ sở niềm tin tôn giáo tích cực thì chúng ta cần khuyến khích
để tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng để phân biệt giữa một niềm tin tôn giáo
tích cực và tiêu cực trong niềm tin tôn giáo là một vấn đề không dễ dàng đòi hỏi
con người phải nhìn nhận đúng đắn.
3.3.3 Những tác động của nghi lễ cắt giải tiền duyên với xã hội Việt Nam
hiện nay.
Trước khi nói về tác động của nghi lễ với xã hội Việt Nam chúng tôi muốn
nói về những nguyên nhân đưa họ đến với nghi lễ cắt giải tiền duyên. Qua trải
nghiệm chúng ta có thể rút ra được ba nguyên nhân chính. Nguyên nhân thứ nhất
là những mối tình không thành trong quá khứ ít nhiều khiến họ thất vọng và mất
lòng tin vào bản thân. Thay vì thừa nhận mình đã sai lầm, họ lấy lý do tâm linh
người xung quanh nghe có vẻ dễ chịu hơn và vô thưởng, vô phạt hơn. Còn nguyên
nhân thứ hai khiến nghi lễ này ngày càng diễn ra nhiều là do người ta coi chuyện
cắt duyên âm cũng tương tự như một liệu pháp tâm lý giúp họ tin vào chuyện tình

để thực hiện nghi lễ không phải là nhỏ, có nhiều người được đồng thầy phán là
duyên âm nặng đã tiến hành nghi lễ này 3 đến 4 lần. Tuy nhiên do niềm tin vào
những hạnh phúc sẽ đến khi làm nghi lễ vẫn là nguyên nhân chủ yếu để họ làm.
22
Vậy trong tương lai hiện tượng này sẽ đi đến đâu? Trước hết ở góc độ tín
ngưỡng chắc chắn sẽ luôn tồn tại, bởi dù có phát triển đến đâu thì thế giới nội tâm
con người luôn là một sự khám phá lý thú. Sau khi dân trí càng cao, áp lực của
cuộc sống càng tăng hàng ngày đè nặng lên cuộc sống con người thì những vấn đề
thuộc về tinh thần đã tồn tại hàng ngàn năm qua thì sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật
đôi khi không thể giải quyết được. Và như thế con người như một lẽ tự nhiên thuộc
về bản năng của mình sẽ tìm đến tôn giáo để có liều thuốc tinh thần tạo cho mình
sức mạnh tồn tại với cuộc sống. Khi họ gặp trục trặc về tình cảm nghi lễ cắt giải
tiền duyên sẽ là một giải pháp để họ lựa chọn. Do đó chúng ta nên có một thái độ
ứng xử phù hợp, để hỗ trợ, phát huy những mặt tích cực là cơ bản, hạn chế dần
những mặt tiêu cực, lỗi thời
PHẦN KẾT LUẬN
Nhân loại đã trải qua quá trình lịch sử dài lâu. Trong quá trình đó bao giờ
cũng diễn ra sự tương tác của nhiều hệ thống khác nhau. Sự tương tác giữa các hệ
thống không phải bao giờ cũng tương hợp để tạo ra sự phát triển con người và xã
hội. Nhiều lúc những tác động đó cũng làm cản trở không ít quá trình vận động đi
lên của lịch sử.
Với tư cách là một thành tố của lịch sử, trong hàng vạn năm, tôn giáo cũng
tác động đến xã hội bằng cả những mặt tiêu cực và hợp lý của nó. Trong những tác
động của tôn giáo đến con người và xã hội, tôn giáo và nghi lễ đã để lại những dấu
ấn khá đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần của con người. Sự đặc biệt không
chỉ ở chỗ những dấu ấn đó rất khó phai nhạt, hơn thế sự tác động thường có tính
hai mặt. Một mặt nó hướng con người đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ, song


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status